ĐỆ TỬ QUY DỊ GIẢI
第子规易解 Đệ Tử Quy dị giải
Nguyễn Đức Toàn
Viện nghiên cứu Hán Nôm
phóng dịch theo nguyên văn chữ Hán trên IT.
(Có đối chiếu tham khảo bản dịch của Tịnh tông học hội Úc
châu nguồn IT)
第子规 Đệ Tử Quy
(Phép tắc người làm con)
Tác giả: Lý Dục Tú, đời Thanh清李毓秀
Lý Dục Tú李毓秀(1647-1729),tự Tử Tiềm子潜,hiệu Thái Tam采三.
Người thôn Chu Trang周庄村,
trấn Long Hưng龙兴镇, huyện Tân Hàng新绛县人,
sinh vào khoảnh đầu đời Thuận Trị 顺治nhà
Thanh,mất vào khoảng đời Ung Chính雍正,hưởng thọ 83 tuổi, là học giả, nhà giáo nổi tiếng đương
thời. Ông theo học với thầy là Đảng Băng Hác党冰壑[1],
lịch thiệp gần 20 năm. Tinh thông nghiên cứu các sách Đại học大学,
Trung Dung中庸,xây
dựng nhà học tên là Đôn Phục trai敦复斋,
người theo học rất đông, ngoài cửa chật ních. Quan Ngự sử 御史huyện
Thái Bình太平县 là Vương Hoán王奂 nhiều
lần đến thỉnh giáo, rất khâm phục tài học của ông. Người đời xưng gọi là Lý phu
tử李夫子. Ông trong đời chỉ đỗ đến Tú tài, hoạt động chính trong
lĩnh vực dạy học. Trên nhu cầu dạy trẻ truyền thống, kết hợp với thực tiễn nghề
nghiệp , ông soạn nên bộ Huấn mông văn训蒙文,về
sau được Giả Tồn Nhân贾存仁[2]chỉnh
sửa, biên tập lại, đổi tên là Đệ tử quy弟子规. Ông còn có các sách như: Tứ thư chính ngụy四书正伪,
Tứ thư tự loại thích nghĩa四书字类释义, Học Dung phát minh学庸发明,
Đọc Đại học ngẫu ký读大学偶记,
Tống Nhụ phu văn ước宋孺夫文约, Thủy tiên bách vịnh水仙百咏...
,nay còn lưu trữ ở Thư viện
tỉnh Sơn Tây và thư viện Đại học Bắc kinh.
Nguyên ý toàn sách Đệ tử quy lấy ý từ câu "đệ tử nhập
tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân. Hành hữu dư
lực tắc dĩ học văn" trong thiên Học nhi của sách Luận ngữ để làm mở đầu,
dùng hình thức câu 3 chữ thành vần, để dạy trẻ các cách ứng đối xử thế và tinh
thần hiếu đễ nhân ái. Sách Đệ tử quy弟子规 giản dị dễ hiểu, hiệp vần hài hòa, nội dung phù hợp luân lí
phong kiến, có ảnh hưởng rất lớn. Đời Thanh về sau, là sách dạy trẻ được lưu
truyền rộng rãi, phát huy những trọng yếu trong sự học tập, đạo lí làm người,
kiến thức lễ nghĩa đối nhân tiếp vật, ... có ảnh hưởng ngang với các sách Tam
tự kinh三字经,
Bách gia tính 百家姓, Thiên tự văn. Lối văn giản
dị, giảng giải thấu triệt, có ảnh hưởng nhất định trong giáo dục ở Trung Quốc
đời Thanh.
Tổng tựa
Sách Đệ tử quy 弟子規 nguyên tên là
Huấn mông văn训蒙文, do Tú tài Lý Dục Tú người đời Thanh biên soạn. Nội dung trích
lấy ý nghĩa điều 6 trong thiên Học nhi của sách Luận ngữ là
“Đệ tử nhập tắc
hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực
tắc dĩ học văn“
弟子入則孝,出則弟,謹而信,泛愛眾,而親仁,行有餘力, 則以學文.
Cứ 1 câu 3 chữ,
2 câu làm 1 vận biên tập thành, chia là 5 phần có thêm diễn thuật. Trình bày cụ
thể các quy phạm, lễ nghi của bậc làm con làm người dưới khi ở nhà, ra đường,
đối nhân tiếp vật, cầu học thức. Đặc biệt là giảng giải về giáo dưỡng và sinh
hoạt trong gia đình. Về sau sách được ông Giả Tồn Nhân贾存仁cũng ở đời
Thanh chỉnh sửa, đổi tên thành Đệ tử quy弟子規, trở thành quyển sách vỡ lòng rất hay để dạy
trẻ đôn đốc luân lí, tròn vẹn bổn phận, phòng gian thành ý, nuôi dưỡng trung
hậu gia phong.
弟子規 圣人训 首孝悌 次谨信
ĐỆ TỬ QUY.
THÁNH NHÂN HUẤN. THỦ HIẾU ĐỄ. THỨ CẨN TÍN.
Quy tắc của
người dưới, làm con, làm em, là cháu, là học trò; Là những lời Thánh nhân đã
dạy; Đầu tiên là hiếu với cha mẹ, kính người trên; Sau là cẩn thận, giữ được
niềm tin với mọi người.
Kìa xem phép
đạo làm con
Y lời Thánh dạy
còn truyền từ lâu
Làm con hiếu đễ
là đầu
Cẩn thận, giữ
tín là sau nối vào
泛愛眾 而親仁 有餘力 則學文
PHIẾM ÁI CHÚNG,
NHI THÂN NHÂN. HỮU DƯ LỰC, TẮC HỌC VĂN.
Yêu thương hết
mọi người; Lại gần gũi với những người nhân hậu; Còn dư sức;
Thì có thể học
tập các tri thức khác
Yêu mọi người,
nguyện ước ao
Đấng nhân thân
thiết cho sao được gần
Bấy nhiêu trọn,
sức dư phần
Học thêm tri
thức cho văn được thuần
易解:弟子規這本書, 是依據至聖先師孔子的教誨而編成的生活規範。首先在日常生活中,要做到孝順父母,友愛兄弟姊妹。其次在一切日常生活言語行為中要小心謹慎,要講信用。和大 眾相處時要平等博愛,並且親近有仁德的人,向他學習,這些都是很重要非做不可的事,如果做了之後,還有多餘的時間精力,就應該好好的學習六藝等其他有益的 學問。
Dịch giải:
Quyển sách Đệ Tử Quy này là lời dạy về các quy phạm trong cuộc sống dành cho
người làm con, làm em, làm đệ tử, người dưới. Dựa theo lời của Tiên thánh Khổng
phu tử đời xưa. Trước hết phải hiếu thuận với cha mẹ và hòa thuận thương yêu
anh chị em. Sau nữa là trong cuộc sống hằng ngày, ngôn ngữ hành vi phải luôn
luôn cẩn thận, giữ chữ tín và lòng tin của người khác. Thương yêu tất cả mọi
người. Phải thân cận với những người có lòng nhân từ và đức hạnh, học tập họ.
Đó là những điều cốt yếu nhất định phải thực hiện. Các việc cốt yếu đã xong,
còn có dư sức lực, thì nên học tập thêm tri thức khác.
Nhập Tắc Hiếu
(Ở nhà hiếu thuận với cha mẹ)
父母呼 應勿緩 父母命 行勿懶
PHỤ MẪU HÔ, ỨNG VẬT HOÃN. PHỤ MẪU MỆNH, HÀNH VẬT LÃN. Cha mẹ
gọi, chớ chậm thưa; Cha mẹ sai, làm chớ lười.
Trong nhà phải hiếu song thân
Mẹ cha gọi chớ lần khân thưa lời
Mệnh lệnh như có bảo sai
Làm ngay đừng có chây lười hư đi
父母教 須敬聽 父母責 須順承
PHỤ MẪU GIÁO, TU KÍNH THÍNH. PHỤ MẪU TRÁCH, TU THUẬN THỪA.
Cha mẹ dạy, nên cung kính nghe. Cha mẹ trách, nên thuận vâng nhận lỗi.
Cha mẹ dạy, phép lễ nghi
Phải nghe kính cẩn nhớ ghi đủ đầy
Dù cho trách mắng la rầy
Trong lòng vẫn cứ vâng ngay thuận tòng
易解:父母呼喚,應及時回答,不要慢吞吞的很久才應答,父母有事交代,要立刻動身去做,不可拖延或推辭偷懶。父母教導我們做人處事的道理,是為了我們好,應該恭敬的聆聽。做錯了事,父母責備教誡時,應當虛心接受,不可強詞奪理,使父母親生氣、傷心。(君子聞過則喜,小人聞過則怒。)
Dịch giải: Khi cha mẹ gọi thì phải kịp thời đáp lời ngay.
Chứ không nên ngậm miệng lúng búng mãi mới đáp. Cha mẹ có việc sai bảo việc gì,
nên vâng làm ngay, không được dây dưa hay lười nhác mà chối tránh. Cha mẹ dạy
dỗ những điều hay ứng nhân xử thế, là vì muốn tốt cho ta, ta nên cung kính lắng
nghe. Khi làm sai gì, cha mẹ trách mắng, ta nên mở lòng tiếp thu, chớ lấy lời
lẽ gượng ép để tranh lí luận, làm cha mẹ tức giận, đau lòng. (Sách xưa có câu:
Người quân tử nghe thấy lỗi lầm của mình thì vui mừng; Kẻ tiểu nhân nghe thấy
lỗi lầm của mình thì bực tức 君子聞過則喜,小人聞過則怒).
(Còn tiếp)
Nhập tắc hiếu
(2)
冬則溫 夏則凊 晨則省 昏則定
ĐÔNG TẮC ÔN, HẠ
TẮC SẢNH. THẦN TẮC TỈNH, HÔN TẮC ĐỊNH.
Như người xưa
mùa đông lạnh thì lo cho ấm, mùa hè nóng thì lo cho mát; Sáng ra quan tâm hỏi
han, chiều tối thưa chuyện cho an lòng.
Tích xưa chăn
ấm trời đông
Hè thì mát
chiếu cho song thân nằm
Sáng ra trông
mặt hỏi thăm
Tối đến thưa
chuyện để chăm giấc nồng
出必告 反必面 居有常 業無變
XUẤT TẤT CÁO,
PHẢN TẤT DIỆN. CƯ HỮU THƯỜNG, NGHIỆP VÔ BIẾN.
Khi đi đâu thì
cho người hay, khi về đến nơi thì cho người biết. Sinh hoạt có quy định chừng
mực. Công việc không nên tùy biến đổi.
Đi đâu trình
báo cho thông
Khi về phải để
cho trông thấy về
Sinh hoạt có
nếp có nề
Công việc gìn
giữ chớ tùy ý thay
易解:侍奉父母要用心 體貼,二十四孝的黃香(香九齡),為了讓父親安心睡眠,夏天睡前會幫父親把床鋪扇涼,冬天寒冷時會為父親溫暖被窩,實在值得我們學習。早晨起床之後,應該 先探望父母,並向父母請安問好。下午回家之後,要將今天在外的情形告訴父母,向父母報平安,使老人家放心。外出離家時,須告訴父母要到那裡去,回家後還要 當面稟報父母回來了,讓父母安心。平時起居作息,要保持正常有規律,做事有常規,不要任意改變,以免父母憂慮。
Dịch giải: Chăm
lo cho cha mẹ phải học như ông Hoàng Hương 黄香 trong Nhị thập tứ hiếu[3]. Mùa đông lạnh thì
lo cho cha mẹ được ấm áp, mùa hè nóng thì lo cho cha mẹ được mát mẻ. Sáng ra
vấn an hỏi thăm, quan tâm cha mẹ; buổi tối cũng nên thưa gửi mọi chuyện trong
ngày để cho cha mẹ được yên tâm về việc mình làm, khi ngủ được yên giấc. Khi đi
đâu khỏi nhà, phải thưa để cho cha mẹ biết chúng ta đi đâu; khi về đến nhà thì
cho cha mẹ biết là đã về rồi để cha mẹ được yên tâm. Trong sinh hoạt, công việc
chúng ta phải có quy củ, không nên tuỳ ý thay đổi tùy tiện theo ý riêng của
mình.
(Trích Đệ tử
quy dị giải)
NHẬP TẮC HIẾU 3
事雖小 勿擅為 苟擅為 子道虧
SỰ TUY TIỂU,
VẬT THIỆN VI. CẨU THIỆN VI, TỬ ĐẠO KHUY.
Việc tuy nhỏ
cũng không nên tự tiện làm bừa; Nếu tự tiện làm bừa dễ dẫn đến sai phạm, lỗi
đạo làm con.
Sự nhỏ đừng tự
đổi ngay
Tùy tiện tự đổi
hư hay khó lường
Hiếu song thân
có một đường
Tổn mình mà hại
đạo thường làm con
物雖小 勿私藏 苟私藏 親心傷
VẬT TUY TIỂU,
VẬT TƯ TÀNG. CẨU TƯ TÀNG, THÂN TÂM THƯƠNG.
Vật tuy nhỏ,
cũng chớ đem lòng tham cất chứa chiếm làm của riêng; Nếu tự cất chứa chiếm làm
của riêng, phạm tới pháp lý, khiến cho cha mẹ đau lòng.
Vật kia dù nhỏ
cỏn con
Chớ đem giấu
diếm để bòn làm riêng
Nếu tự cất
chiếm làm riêng
Phạm đường pháp
lý đau thương lòng người
易解:縱然是小事,也不要任性,擅自作主,而不向父母稟告。如果任性而為,容易出錯,就有損為人子女的本分,因此讓父母擔心,是不孝的行為。公物雖小,也不可以私自收藏占為己有。如果私藏,品德就有缺失,父母親知道了一定很傷心。
Dịch giải: Với
cha mẹ, dù một việc nhỏ, không nên tùy tiện tự ý làm bừa. Phải hỏi ý kiến cho
tỏ tường mới làm. Nếu tự ý làm bừa thì dễ sai phạm rồi liên lụy đến mình, không
trọn đạo hiếu với cha mẹ. Đồ vật tuy nhỏ, cũng không nên cất chiếm để làm của
riêng. Nếu cất chiếm làm của riêng thì đức hạnh bị suy tổn, dễ phạm vào phép
công. Cha mẹ thấy con phạm phép công phải xử theo công pháp thì lòng đau buồn
sao kể xiết.
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
NHẬP TẮC HIẾU
(5)
親有疾 藥先嘗 晝夜侍 不離床
THÂN HỮU TẬT,
DƯỢC TIÊN THƯỜNG. TRÚ DẠ THỊ, BẤT LY SÀNG.
Cha mẹ có bệnh
tật, thuốc thang là việc trước tiên phải lo liệu (ý cũng nói phải nếm trước xem
có đủ độ ấm, vị có bị nhạt hay bị hư không). Đêm ngày phải gần chăm sóc, chớ
dời - rời - xa khỏi nơi giường nằm (ý nói bệnh nặng, cần có người luôn ở bên).
Song thân ốm
yếu nằm trong
Tự mình săn sóc
thuốc trông thang chừng
Ngày đêm mắt
để, đèn trưng
Phải gần giường
ngủ chứ đừng rời xa
喪三年 常悲咽 居處變 酒肉絕
TÁNG TAM NIÊN,
THƯỜNG BI YẾT. CƯ XỨ BIẾN, TỬU NHỤC TUYỆT.
Khi để Tang đủ
hạn kì là ba năm, trong thời gian ấy tâm tình luôn tỏ sự buồn thương. Những
sinh hoạt nơi ăn ở cũng thay đổi cho phù hợp với người đang chịu tang. Sự vui
chơi, tiệc tùng rượu thịt phải ngừng.
Ba năm tang chế
ở nhà
Lòng thường
buồn bã xót xa nhớ người
Sự sinh hoạt
cũng đổi thôi
Những nơi rượu
thịt vui chơi chớ màng
喪盡禮 祭盡誠 事死者 如事生
TÁNG TẬN LỄ, TẾ
TẬN THÀNH. SỰ TỬ GIẢ, NHƯ SỰ SANH.
Việc tang lễ là
việc trọng đại của đời người, phải đủ hết lễ. Khi tế tự phải hết lòng thành
kính. Lòng phụng sự cha mẹ đã khuất, như lúc người còn sinh tiền vậy.
Khi tế lễ phải
đàng hoàng
Sao cho thành
kính rõ ràng thì hơn
Dù cho người đã
khuất non
Mà như hình
bóng vẫn còn hôm nay
易解:父母親生病時, 子女應當盡心盡力的照顧,一旦病情沉重時,更要晝夜服侍,不可以隨便離開。父母去世之後,守孝期間(古禮三年),要常常追思、感懷父母教養的恩德。自己的 生活起居必須調整改變,不能貪圖享受,應該戒絕酒肉(請參考地藏經,孝子應如何給往生者修福)。辦理父母親的喪事要哀戚合乎禮節,不可草率馬虎,也不可以 為了面子鋪張浪費,才是真孝順。(論語:生,事之以禮,死,葬之以禮,祭之以禮。)祭拜時應誠心誠意,對待已經去世的父母,要如同生前一樣恭敬。(論語: 祭如在,祭神如神在。)
Dịch giải: Khi
cha mẹ có bệnh, chúng ta hết lòng hết sức quan tâm, chú ý. Khi bệnh tình nặng
thêm thì ngày đêm không được tùy tiện dời đi đâu xa. Cha mẹ mất, phải thủ tang
đủ lễ, đủ hạn (lễ đời xưa là đủ 3 năm). Luôn luôn tưởng nhớ đức lành và những
lời dạy dỗ của cha mẹ. Những sinh hoạt thường ngày cũng cần điều chỉnh, đừng
chỉ ham mê đời này hưởng thụ mà phải kiêng dè rượu thịt (nên xem thêm Kinh Địa
tạng, là người con có hiếu cần làm những gì để tu phúc cho người thân được vãng
sinh). Lo tang cho cha mẹ thì sự ưu buồn phải phù hợp với lễ tiết, không được
sơ suất qua loa. Cũng không phải là phô trương lãng phí mới là hiếu thuận đâu
(sách Luận ngữ có câu: Khi sống thờ bằng lễ; khi mất chôn cất cũng theo lễ; khi
tế cúng cũng theo lễ 生,事之以禮,死,葬之以禮,祭之以禮) . Khi cúng bái cần thành tâm thành ý. Sự tôn kính người đã
khuất phải như lúc người vẫn còn sinh tiền. (Sách Luận ngữ có câu: Cúng như là
vẫn còn đây. Cúng thần như là thần ở ngay đây 祭如在,祭神如神在)
(Trích sách Đệ
tử quy dị giải)
NHẬP TẮC HIẾU
(4)
親所好 力為具 親所惡 謹為去
THÂN SỞ HIẾU,
LỰC VI CỤ. THÂN SỞ Ố, CẨN VI KHỨ.
Điều mà cha mẹ
thích, thì cố gắng hết sức mà làm cho đầy đủ. Điều cha mẹ không thích, thì phải
cẩn thận mà tránh mắc phải.
Song thân có
thích điều gì
Gắng sức làm
trọn chỉ vì người vui
Điều chi cha mẹ
không vui
Cẩn thận mà
tránh, chớ lơi mắc vào
身有傷 貽親憂 德有傷 貽親羞
THÂN HỮU
THƯƠNG, DI THÂN ƯU. ĐỨC HỮU THƯƠNG, DI THÂN TU.
Thân thể ta bị
thương tổn, làm cha mẹ lo lắng. Nhưng đức hạnh ta kém cỏi, cũng là điều làm cha
mẹ tủi hổ.
Thân ta đừng để
tổn hao
Mẹ cha lo lắng
hư lao tinh thần
Đức ta kém, tủi
song thân
Phải chăm dưỡng
đức để phần vẻ vang
親愛我 孝何難 親憎我 孝方賢
THÂN ÁI NGÃ,
HIẾU HÀ NAN. THÂN TĂNG NGÃ, HIẾU PHƯƠNG HIỀN.
Như cha mẹ ta
yêu thương ta, mà ta hiếu thuận với cha mẹ thì có gì khó. Cha mẹ ghét chúng ta,
mà ta vẫn giữ trọn đạo hiếu thuận ấy mới là đức tốt.
Mẹ cha yêu,
hiếu dễ dàng
Dù cho có ghét
đạo thường phận con
親有過 諫使更 怡吾色 柔吾聲
THÂN HỮU QUÁ,
GIÁN SỬ CANH. DI NGÔ SẮC, NHU NGÔ THANH.
Cha mẹ có khi
có lỗi lầm, phải khuyên giải để cha mẹ đổi lỗi. Sắc mặt ta phải vui tươi, lời
nói ta phải nhu hòa.
Mẹ cha sai, lỗi
vẫn còn
Phải tùy can
gián để còn sửa sai
Khi can sắc mặt
vui tươi
Tiếng lời thanh
thoát để người dễ nghe
諫不入 悅復諫 號泣隨 撻無怨
GIÁN BẤT NHẬP,
DUYỆT PHỤC GIÁN. HIỆU KHẤP TÙY, THÁT VÔ OÁN.
Nếu khuyên giải
không được, vẫn phải vui vẻ khuyên tiếp nữa. Cần thì nên khóc mà theo, dù đánh
cũng không giận.
Can rồi mà vẫn
chưa nghe
Lại vui vẻ lại
dần dè khuyên thêm
Phải theo phải
khóc cho mềm
Dù cho đánh
mắng một niềm oán không
易解:父母親所喜好的 東西,應該盡力去準備,父母所厭惡的事物,要小心謹慎的去除(包含自己的壞習慣)。要愛護自己的身體,不要使身體輕易受到傷害,讓父母親憂慮。(曾子曰: “身體髮膚受之父母,不敢毀傷”)。要注重自己的品德修養,不可以做出傷風敗德的事,使父母親蒙受恥辱。當父母親喜愛我們的時候,孝順是很容易的事;當父 母親不喜歡我們,或者管教過於嚴厲的時候,我們一樣孝順,而且還能夠自己反省檢點,體會父母的心意,努力改過並且做得更好,這種孝順的行為最是難能可貴。 父母親有過錯的時候,應小心勸導改過向善,勸導時態度要誠懇,聲音必須柔和,並且和顏悅色, (子夏問孝。子曰:“色難。”)如果父母不聽規勸,要耐心等待,一有適當時機,例如父母情緒好轉或是高興的時候,再繼續勸導;如果父母仍然不接受,甚至生 氣,此時我們雖難過得痛哭流涕,也要懇求父母改過,縱然遭遇到責打,也無怨無悔,以免陷父母於不義,使父母一錯再錯,鑄成大錯。
Dịch giải:
Những điều cha mẹ ưa thích thì chúng ta phải hết sức vì cha mẹ mà chuẩn bị.
Những việc cha mẹ không thích thì phải cẩn thận từ bỏ, kể cả những việc liên
quan đến thói quen của ta. Cần phải biết yêu quý thân thể của chúng ta đừng để
thân thể bị thương tổn, làm cha mẹ sẽ lo âu (Thầy Tăng tử từng nói: Thân thể
tóc da, nhận từ mẹ cha, không dám để hủy hoại 曾子曰: “身體髮膚受之父母,不敢毀傷). Cần chú trọng đức hạnh, tu dưỡng. Không làm những việc bại
hoại làm hại đến dánh dự, sỉ nhục cha mẹ. Khi cha mẹ thương yêu ta thì việc ta
hiếu thuận với cha mẹ có gì là khó. Nhưng nếu cha mẹ ghét bỏ hay quản thúc
chúng ta quá nghiêm ngặt thì vẫn phải hiếu thuận mới đúng là người con hiền.
Thậm chí cũng phải kiểm điểm lại bản thân mình để lĩnh hội tấm lòng của cha mẹ,
cố gắng sửa đổi tốt hơn. Như thế thì sự hiếu ấy càng đáng quý đáng khen. Khi
cha mẹ có lỗi lầm phải cẩn thận khuyên can để cha mẹ sửa đổi theo hướng chiều
tốt. Lúc khuyên thái độ cũng phải nhu hòa mà thành khẩn, tiếng nói nhẹ nhàng, sắc
mặt phải dịu dàng (Xưa thầy Tử Hạ từng hỏi về Hiếu. Đức Phu tử đáp là: Giữ được
dung nhan sắc mặt dịu dàng là khó 子夏問孝。子曰:“色難). Nếu cha mẹ không nghe thì cũng nhẫn nại đợi khi thích hợp, như
lúc cha mẹ vui vẻ thì lại khuyên can tiếp. Nếu cha mẹ vẫn không nghe lời
khuyên, thậm chí còn giận dữ, chúng ta cũng phải khóc lóc đau đớn khẩn cầu cha
mẹ biết sai mà sửa đổi. Dù cha mẹ có đánh mắng cũng không oán giận, không trách
hận. Tránh không để cha mẹ mang tiếng bất nghĩa, làm cha mẹ đã sai lại thành
sai nhiều hơn.
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
2. 出則悌
Xuất Tắc Đễ
(Ra ngoài thì
khiêm cung với người trên)
兄道友 弟道恭 兄弟睦 孝在中
HUYNH ĐẠO HỮU,
ĐỆ ĐẠO CUNG. HUYNH ĐỆ MỤC, HIẾU TẠI TRUNG.
Đạo của người
làm anh làm chị là thân ái; Đạo người làm em là cung kính. Anh em hòa mục thân
thiết, đạo Hiếu cũng ở trong đấy.
Thương em anh
phải thảo ngay
Để em cung
thuận ngày ngày noi gương
Anh em hòa
thuận mọi đường
Yên lòng cha mẹ
lẽ thường hiếu trong
財物輕 怨何生 言語忍 忿自泯
TÀI VẬT KHINH,
OÁN HÀ SINH. NGÔN NGỮ NHẪN, PHẪN TỰ MẪN.
Coi nhẹ tiền
của, thì oán hận khó phát sinh. Lời nói nhịn nhường, thì giận dữ tự hết.
Của cải nhiều
cũng như không
Thì đường tình
nghĩa oán lòng khó sinh
Nhẫn được lời
nói trong mình
Lặng cơn tức
giận nhẹ thênh tâm tình
易解:當哥哥姊姊的要 友愛弟妹,作弟妹的要懂得恭敬兄姊,兄弟姊妹能和睦相處,一家人和樂融融,父母自然歡喜,孝道就在其中了。與人相處不斤斤計較財物,怨恨就無從生起。言語 能夠包容忍讓,多說好話,不說壞話,忍住氣話,不必要的衝突、怨恨的事情自然消失不生。(言語為福禍之門。孔門四科有:德行、言語、政事、文學。可見言語 之重要。)
Dịch giải:
Người làm anh làm chị phải thương mến các em của mình, các em cũng phải hiểu
biết đạo kính trọng anh chị của mình. Anh em chị em có thể sống chung hòa thuận
một nhà, cha mẹ tự nhiên vui sướng hoan hỉ, đạo hiếu kính cha mẹ là ở trong đó.
Cùng với người khác kết giao, không coi trọng của tiền, oán hận không thể nảy
sinh. Ngôn ngữ cẩn thận lời nói bao dung, nhẫn nhượng, nói nhiều điều tốt đẹp,
không nói điều xấu, không nói giọng tức giận thì không thể có xung đột. Oán hận
từ đó mà tiêu tan (Lời nói là cửa của họa và phúc言语为福祸之门. Bốn khoa của Nho giáo chú trọng là: Đức hạnh, Ngôn ngữ, Chính
sự, Văn học).
(Trích sách Đệ
Tử Quy dị giải)
XUẤT TẮC ĐỄ (2)
或飲食,或坐走。長者先,幼者後。
HOẶC ẨM THỰC,
HOẶC TỌA TẨU. TRƯỞNG GIẢ TIÊN, ẤU GIẢ HẬU.
Khi ăn khi
uống, khi nằm ngồi hay khi đi đứng. Người trên phải trước, người nhỏ phải sau.
Ăn uống, đi
đứng dáng hình
Phải dè lớn
trước phận mình nhỏ sau
長呼人 即代叫 人不在 己即到
TRƯỞNG HÔ NHÂN,
TỨC ĐẠI KHIẾU. NHÂN BẤT TẠI, KỶ TỨC ĐÁO.
Người lớn gọi
ai, thì hô to gọi giúp. Nếu người đó không có, thì mình tự đến (xem có sai nhờ
gì).
Người trên gọi,
giúp truyền rao
Nếu không ai
đến thì mau lại trình
易解:良好的生活教 育,要從小培養;不論用餐就座或行走,都應該謙虛禮讓,長幼有序,讓年長者優先,年幼者在後。長輩有事呼喚人,應代為傳喚,如果那個人不在,自己應該主動 去詢問是什麼事?可以幫忙就幫忙,不能幫忙時則代為轉告。(“人生以服務為目的,不以奪取為目的。”青少年守則明言:助人為快樂之本。)
或飲食 或坐走 長者先 幼者後
Dịch giải:
Phương pháp giáo dục tốt, là ngay lúc nhỏ đã được uốn nắn. Dù khi ăn uống, đi
đứng nằm ngồi phải luôn chú ý nhường người lớn trước, người nhỏ sau. Khi bậc
trưởng bối gọi ai, chúng ta nghe được thì hô to lên gọi hộ. Nếu người được gọi
không có mặt thì ta đến xem xem bậc trưởng bối cần nhờ gì sai gì để giúp đỡ.
(Trích sách đệ
tử quy dị giải)
出则悌 (三)
Xuất Tắc Đễ (3)
稱尊長 勿呼名 對尊長 勿見能
XƯNG TÔN TRƯỞNG, VẬT HÔ DANH. ĐỐI TÔN TRƯỞNG, VẬT KIẾN NĂNG.
Xưng hô với
người bề trên thì không gọi tên. Trước mặt người lớn hơn, không khoe tài mình.
Gọi người trên, chớ nêu danh
Trước mặt tôn trưởng tài mình chớ khoe
路遇長 疾趨揖 長無言 退恭立
LỘ NGỘ TRƯỞNG, TẬT XU ẤP. TRƯỞNG VÔ NGÔN, THOÁI CUNG LẬP.
Gặp người lớn
ngoài đường, phải nhanh bước thi lễ. Người trên không nói gì, thì cũng cung
kính thoái lui.
Đi đường gặp gỡ một khi
Nhanh tay thi lễ kẻo e hỗn hào
Bề trên chẳng có lời nào
Thì lui bước xuống để chào người qua
騎下馬 乘下車 過猶待 百步余
KỴ HẠ MÃ, THỪA HẠ XA. QUÁ DO ĐÃI, BÁCH BỘ DƯ .
Đang cưỡi ngựa
liền xuống ngựa, đang ngồi xe phải xuống xe. Khi người đã đi qua rồi vẫn còn
đợi, đến hơn 100 bước mới thôi.
Khi cưỡi ngựa, lúc rong xe
Thấy người là xuống tỏ vì kính trên
Qua rồi vẫn ngóng để nhìn
Đủ qua trăm bước giữ gìn mới hay
易解:稱呼長輩,不可 以直呼姓名,在長輩面前,要謙虛有禮,不可以炫耀自己的才能;路上遇見長輩,應向前問好,長輩沒有事時,即恭敬退後站立一旁,等待長輩離去。古禮:不論騎 馬或乘車,路上遇見長輩均應下馬或下車問候,並等到長者離去稍遠,約百步之後,才可以離開。(敬老尊賢)
Dịch giải: Xưng hô với bề trên không được gọi thẳng tính danh; trước mặt bề
trên thì phải khiêm nhường, không được khoe khoang tài năng. Đi đường gặp bậc
trưởng bối, thì phải cung kính chào hỏi. Khi bậc trưởng bối không nói gì, thì
ta cung kính lui sang một bên để cho họ đi qua. Theo lễ chế đời xưa, dù là cưỡi
ngựa hay đi xe, trên đường gặp người trên thì xuống ngựa, ra xe để chào hỏi,
rồi chờ người đó đi xa chừng 100 bước thì ta mới dời gót (thế là kính lão tôn
hiền 敬老尊賢)
(Trích sách Đệ
Tử Quy dị giải)
出则悌 (四)
XUẤT TẮC ĐỄ (4)
長者立 幼勿坐 長者坐 命乃坐
TRƯỞNG GIẢ LẬP,
ẤU VẬT TỌA. TRƯỞNG GIẢ TỌA, MỆNH NÃI TỌA.
Khi người lớn
đứng, ta không nên ngồi trước. Khi người lớn ngồi, cho phép ta ngồi ta mới
ngồi.
Già đứng trẻ
đứng cho ngay
Già ngồi cho
phép trẻ đây mới ngồi
尊長前 聲要低 低不聞 卻非宜
TÔN TRƯỞNG
TIỀN, THANH YẾU ĐÊ. ĐÊ BẤT VĂN, KHƯỚC PHI NGHI.
Khi ở trước mặt
bậc tôn trưởng, thì nói năng phải nhẹ nhàng. Nhưng nói tiếng nhỏ nhẹ quá, thì
cũng không nên.
Bề trên tôn
kính trước rồi
Nói năng vừa
phải đúng người đủ nghe
Nhỏ nhẹ quá
chẳng nghe chi
Cũng không hợp
lễ thích nghi chút nào
進必趨 退必遲 問起對 視勿移
TIẾN TẤT XU,
THOÁI TẤT TRÌ. VẤN KHỞI ĐỐI, THỊ VẬT DI.
Tiến đến gặp
thì nhanh mà khi cáo lui thì từ tốn. Khi hỏi thăm thì đáp lại, mắt không ngó
nghiêng.
Tiến lên nhanh
để hỏi chào
Cáo lui thì lại
lời trao từ từ
Hỏi thì đáp chớ
đừng “ừ”
Mắt trông ngay
thẳng, lừ lừ nghiêng không
事諸父 如事父 事諸兄 如事兄
SỰ CHƯ PHỤ, NHƯ
SỰ PHỤ. SỰ CHƯ HUYNH, NHƯ SỰ HUYNH.
Kính các bậc
cha chú người khác, như cha chú nhà mình. Đối đãi anh em người khác cũng như
đối đãi anh em nhà mình.
Hàng cha anh
phải kính trông
Như cha anh
ruột chứ không khác gì
易解:與長輩同處,長 輩站立時,晚輩應該陪著站立,不可以自行就坐,長輩坐定以後,吩咐坐下才可以坐。與尊長交談,聲音要柔和適中,回答的音量太小讓人聽不清楚,也是不恰當 的。有事要到尊長面前,應快步向前,退回去時,必須稍慢一些才合乎禮節。當長輩問話時,應當專注聆聽,眼睛不可以東張西望,左顧右盼。
對待叔叔、伯伯等尊長,要如同對待自己的父親一般孝順恭敬,對待同族的兄長(堂兄姊、表兄姊),要如同對待自己的兄長一樣友愛尊敬。
Dịch giải: Khi
bậc trên đứng, thì ta nên đứng hầu bên cạnh chứ không tự tiện ngồi trước. Khi
bậc trên đã ngồi yên vị, có cho phép ngồi thì ta mới ngồi. Khi nói chuyện với
bậc trưởng bối, lời nói phải nhỏ nhẹ vừa đủ. Nếu quá nhỏ thì nghe không rõ, thì
cũng không được. Phải vừa đủ. Khi đi gặp người trên thì phải đi mau chân, nhưng
khi cáo từ thì phải từ tốn. Khi trưởng bối có hỏi thăm thì ta chú ý lắng nghe
để đáp lời, mắt không được ngó nghiêng bên nọ bên kia. Đối đãi với các hàng chú
bác phải cung kính như đối với cha mẹ mình. Đối xử với anh em hai bên thì cũng
như đối với anh em nhà mình.
(Trích sách Đệ
Tử Quy dị giải)
3.谨 Cẩn
(Phải cẩn thận
trong cuộc sống học tập, làm việc)
朝起早 夜眠遲 老易至 惜此時
TRIÊU KHỞI TẢO,
DẠ MIÊN TRÌ. LÃO DỊ CHÍ, TÍCH THỬ THỜI.
Sáng dậy sớm,
tối lại ngủ muộn. Thì tuổi già dễ đến gần, nên quí thời gian này.
Sáng dậy sớm,
tối chơi lì
Tuổi già mau
đến mất thì thanh xuân
Con em phải
tính xa gần
Tiếc thời niên
thiếu thanh xuân học hành
晨必盥 兼漱口 便溺回 輒淨手
THẦN TẤT QUÁN,
KIÊM THẤU KHẨU. TIỆN NỊCH HỒI,TIẾP TỊNH THỦ.
Sáng rửa ráy,
với phải xúc miệng đánh răng. Khi vệ sinh xong, liền rửa tay sạch sẽ.
Sáng ra rửa ráy
cho nhanh
Lại còn súc
miệng vệ sinh gọn gàng
Tay chân sạch
sẽ phải càng
Kẻo mang bệnh
tật lỡ làng khổ thân
易解:為人子應早起,把握光陰及時努力,若經常晚睡、甚至熬夜,不但對身體健康不好,也影響白天正常的作息。歲月不待人,青春要珍惜。 (少壯不努力,老大徒悲傷。) 早晨起床後,務必洗臉、刷牙、漱口使精神清爽,有一個好的開始。大小便後,一定要洗手,養成良好的衛生習慣,才能確保健康。(防止腸病毒,要學會洗手,手心、手背、指縫間均要仔細搓洗)(陶淵明詩:盛年不重來,一日難再晨。及時當勉勵,歲月不待人。)
Dịch giải:
Người làm con nên dậy sớm, biết dùng thời gian, nỗ lực kịp thời. Nếu thường
xuyên ngủ muộn, thậm chí là gần hết đêm thì không tốt cho sức khỏe, ảnh hưởng
đến công việc ban ngày. Thời gian trôi qua nhanh không đợi ai, tuổi thanh xuân
phải biết quý trọng. (Xưa có câu: Lúc trẻ không gắng sức, về già luống buồn
thương 少壯不努力,老大徒悲傷). Sáng sau khi thức dậy, trước hết phải rửa mặt và đánh răng súc
miệng khiến cho tinh thần sảng khoái cho một mở đầu tốt đẹp. Sau khi đại tiểu
tiện xong phải liền rửa tay sạch sẽ, tập cho thành thói quen tốt, bảo đảm vệ
sinh sức khỏe.(để phòng bệnh đường ruột phải học cách rửa tay, lòng bàn tay,
lưng bàn tay, và các kẽ ngón tay đều phải rửa kỹ). (Thơ của Đào Uyên Minh có
câu: Tuổi trẻ không quay lại, Một ngày không sáng mãi, Kịp thời nên gắng sức,
Năm tháng chẳng đợi ai 盛年不重來,一日難再晨。及時當勉勵,歲月不待人)
(Trích Sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
3. 谨 CẨN (2)
冠必正 紐必結 襪與履 俱緊切
QUAN TẤT CHÍNH,
NỮU TẤT KẾT. MIỆT DỮ LÝ, CÂU KHẨN THIẾT.
Mũ đội phải
ngay ngắn, dây buộc và nút cài thắt gọn gàng. Tất đi với giầy, phải vừa vặn.
Mũ đội phải
chính, phải ngay
Có cúc thì cài
có dây thì buộc
Tất đi cùng với
giày hài
Phải đi vừa vặn
không ngoài cỡ chân
置冠服 有定位 勿亂頓 致污穢
TRÍ QUAN PHỤC,
HỮU ĐỊNH VỊ. VẬT LOẠN ĐỐN, TRÍ Ô UẾ.
Đặt mũ với y
phục, phải có nơi đặt cố định. Không để lẫn lộn, dẫn đến dơ bẩn.
Gọn gẽ chỗ đặt
áo quần
Để cho đúng chỗ
đúng phần đừng sai
Để bừa để bãi
đi rồi
Dễ dơ dễ bẩn dễ
rơi hôi rình
衣貴潔 不貴華 上循份 下稱家
Y QUÝ KHIẾT,
BẤT QUÝ HOA. THƯỢNG TUẦN PHẬN, HẠ XỨNG GIA.
Quần áo quan
trọng là sạch sẽ, không quan trọng ở hoa mỹ. Ở ngôi cao thì theo hợp với thân
phận, ở ngôi dưới thì phù hợp với điều kiện gia đình.
Áo quần trọng
sạch trọng thanh
Đâu cần hoa mỹ
linh tinh rườm rà
Mặc sao hợp
tiết hợp nhà
Cho vừa hoàn
cảnh cho ra phận mình
對飲食 勿揀擇 食適可 勿過則
ĐỐI ẨM THỰC,
VẬT GIẢN TRẠCH. THỰC THÍCH KHẢ, VẬT QUÁ TẮC.
Đối với sự ăn
uống, không cầu kỳ lựa chọn. Ăn vừa đủ là được, chớ quá mức quy định.
Ăn uống quan
trọng đừng khinh
Đừng có lựa
chọn kén tanh kén mùi
Ăn sao vừa đủ
thì thôi
Đừng ăn quá mức
để rồi mệt thêm
易解:要注重服裝儀容的整齊清潔,戴帽子要戴端正,衣服扣子要扣好,襪子穿平整,鞋帶應繫緊,否則容易被絆倒,一切穿著以穩重端莊為宜。回家後衣、帽、鞋襪都要放置定位,避免造成髒亂,要用的時候又要找半天。(大處著眼,小處著手,養成良好的生活習慣,是成功的一半。) 穿衣服需注重整潔,不必講究昂貴、名牌、華麗。穿著應考量自己的身份及場合,更要衡量家中的經濟狀況,才是持家之道。(不要為了面子,更不要讓虛榮心作主,無謂的開銷就是浪費。) 日常飲食要注意營養均衡,多吃蔬菜水果,少吃肉,不要挑食,不可以偏食,三餐常吃八分飽,避免過量,以免增加身體的負擔,危害健康。
Dịch giải: Phải
chú trọng quần áo sạch sẽ, nghi dung tề chỉnh. Mũ mão phải ngay ngắn, áo quần
phải cài cúc thắt dây đầy đủ. Tất găng vừa vặn với giầy dép, nếu không dễ bị
vấp ngã. Mọi thứ mang mặc đội cần phải vừa vặn đoan trang là tốt nhất. Khi về
nhà, mũ áo giầy dép phải để một nơi cố định. Không để bừa bãi, để tránh khi cần
dùng phải mất thời gian tìm. (Chỗ to để mắt, chỗ bé để tay. Tập thành thói quen
tốt đã là thành công một nửa rồi). Quần áo chủ yếu phải sạch sẽ, không cần phải
đắt tiền, hàng hiệu, hoa mỹ. Khi mặc thì chú ý sao cho phù hợp với hoàn cảnh và
thân phận của mình, lại chú ý điều kiện của gia đình, thế mới là hợp đạo giữ
được nếp nhà (Đừng vì vẻ bề ngoài, cũng đừng vì hư danh. Tiêu pha vô vị là rất
lãng phí). Đối với việc ăn uống, thì không nên kén chọn. Nên ăn nhiều rau quả,
ăn ít thịt, không quá kén ăn, cũng không quá ham về ăn, về món này món nọ. Ngày
3 bữa, 8 phần là đủ. Tránh quá độ lượng, dễ tăng cân, tổn hại sức khỏe.
(Trích Sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
3.谨 Cẩn (3)
(Phải cẩn thận
trong cuộc sống học tập, làm việc)
緩揭簾 勿有聲 寬轉彎 勿觸棱
HOÃN YẾT LIÊM,
VẬT HỮU THANH. KHOAN CHUYỂN LOAN, VẬT XÚC LĂNG.
Khi kéo màn thì
kéo từ tốn, không gây tiếng động. Khi đi vào chỗ rẽ, ngách cong thì khoan thai.
Chớ va đụng vào nơi góc cạnh.
Mành treo căng
rút tới lui
Phải làm từ tốn
nhẹ thôi kẻo ầm
Chỗ cong cần rẽ
phải ngăm
Khoan thai mình
chuyển kẻo đâm góc trồi
執虛器 如執盈 入虛室 如有人
CHẤP HƯ KHÍ,
NHƯ CHẤP DOANH. NHẬP HƯ THẤT, NHƯ HỮU NHÂN.
Khi bưng đồ vật
không, cũng phải cẩn thận như bưng đồ đựng đầy. Vào nhà không có người cũng cẩn
trọng như là đang có người.
Bưng đồ không
cũng phải coi
Như bưng đầy
chặt kẻo rơi lỡ làng
Vào nhà vắng
cũng sẽ sàng
Như có người ở
kẻo màng thị phi
事勿忙 忙多錯 勿畏難 勿輕略
SỰ VẬT MANG,
MANG ĐA THÁC. VẬT ÚY NAN, VẬT KHINH LƯỢC.
Công việc chớ
vội vàng, vội vàng dễ sai nhầm. Đừng sợ khó khăn, đừng coi thường sự sơ lược.
Hành sự chớ vội
việc chi
Vội vàng lắm
chuyện có khi sai nhầm
Càng khó ta lại
càng chăm
Không được
khinh suất lại lầm càng thêm
易解:進入房間時,不論揭帘子、開門的動作都要輕一點、慢一些,避免發出聲響。在室內行走或轉彎時,應小心不要撞到物品的稜角,以免受傷。拿東西時要注意,即使是拿著空的器具,也要像裡面裝滿東西一樣,小心謹慎以防跌倒或打破。進入無人的房間,也要像有人在一樣,不可以隨便。做事不要急急忙忙慌慌張張,因為忙中容易出錯,不要畏苦怕難而猶豫退縮,也不可以草率,隨便應付了事。
Dịch giải: Khi
ở trong nhà, bất luận là kéo rèm hay đóng cửa, động tác cũng phải nhẹ nhàng, từ
tốn, tránh gây nên tiếng động mạnh. Khi đi lại trong nhà, hay lúc vào chỗ gập
phải cẩn thận chớ va vào chỗ gấp , chỗ góc cạnh, tránh bị đau và hỏng đồ. Khi
cầm các đồ vật, dù cầm đồ không cũng phải chú ý như cầm đồ đang đựng đầy. Cẩn
thận kẻo trượt ngã hay trơn tuột rơi vỡ. Khi vào buồng không có người cũng dè
chừng như có người, không được tuy tiện. Làm việc gì cũng chớ vội vội vàng vàng
vì vội vàng dễ sai nhầm. Không ngại khó ngại khổ mà do dự thoái chí, cũng không
nên làm việc sơ sài qua loa ứng phó cho xong chuyện.
(Trích Sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
3.谨Cẩn (4)
(Phải cẩn thận
trong cuộc sống học tập, làm việc)
斗鬧場 絕勿近 邪僻事 絕勿問
ĐẤU NÁO TRƯỜNG,
TUYỆT VẬT CẬN. TÀ TỊCH SỰ, TUYỆT VẬT VẤN.
Chỗ tranh cãi
đánh đấu, tuyệt đối đừng đến gần. Chuyện tà vạy, tuyệt đối không nên hỏi han đề
cập.
Chỗ đánh đấu,
chớ có chen
Những chuyện tà
vạy chẳng quen gạn lời
將入門 問孰存 將上堂 聲必揚
TƯƠNG NHẬP MÔN,
VẤN THỤC TỒN. TƯƠNG THƯỢNG ĐƯỜNG, THANH TẤT DƯƠNG.
Khi đến trước
cửa nhà ai, thì phải hỏi trước có ai không. Khi bước vào nhà trên, phải đánh
tiếng to cho người biết.
Khi vào cửa
phải hỏi ai
Lên nhà đánh
tiếng để người biết ta
人問誰 對以名 吾與我 不分明
NHÂN VẤN THÙY,
ĐỐI DĨ DANH. NGÔ DỮ NGÃ, BẤT PHÂN MINH.
Nếu có ai hỏi,
phải xưng tên rõ ràng ngay. Thưa là tôi hay tớ, là đều không rõ ràng.
Nếu ai hỏi, đáp
tên ra
Đừng xưng “tôi-
tớ“ người ta lại nhầm
易解:凡是容易發生爭吵打鬥的不良場所,如賭博、色情等是非之地,要勇於拒絕,不要接近,以免受到不良的影響。一些邪惡下流,荒誕 不經的事也要謝絕,不聽、不看,不要好奇的去追問,以免污染了善良的心性。
將要入門之前,應先問:“有人在嗎?”不要冒冒失失就跑進去。進入客廳之前,應先提高聲音,讓屋內的,知道有人來了。如果屋裡的人問:“是誰呀?”應該回答名字,而不是:“我!我!”讓人無法分辨我是誰?
Dịch giải: Phàm
những chỗ tranh cãi hoặc đánh nhau, ta phải tránh xa như những chỗ cờ bạc, trai
gái, gian tà phải dũng cảm cự tuyệt không tiếp cận, để khỏi bị ảnh hưởng xấu.
Phàm những chuyện thị phi tà ác, gian manh hạ lưu, dối trá cũng tuyệt đối không
hỏi không nghe, không xem, không bàn tới. Đừng hiếu kì mà hỏi han. Tránh được ô
nhiễm xấu đến tính thiện. Khi đến cổng nhà ai, phải đánh tiếng hỏi có ai ở nhà
không. Chứ không đường đột mà xông vào. Khi bước lên nhà trên, cũng phải đánh
tiếng lớn để cho người trong nhà biết có người đến. Nếu người trong nhà có hỏi
“ai đấy?“ thì báo tên ngay. Đừng đáp là tôi hay tớ, khiến người ta không biết
“tôi“ là ai, “tớ“ là ai.
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
3.谨 Cẩn (5)
(Phải cẩn thận
trong cuộc sống học tập, làm việc)
用人物 須明求 倘不問 即為偷
DỤNG NHÂN VẬT,
TU MINH CẦU. THẢNH BẤT VẤN, TỨC VI THÂU.
Muốn dùng đồ
vật của người khác, phải hỏi trước cho rõ ràng. Nếu không hỏi, tức là ăn trộm
ăn cắp.
Đồ người khác
phải hỏi thăm
Mượn nói cho rõ
không tham ám cầu
Nếu không gạn
rõ đuôi đầu
Thì như ăn trộm
tiếng âu đến mình
借人物 及時還 後有急 借不難
TÁ NHÂN VẬT,
CẬP THỜI HOÀN. HẬU HỮU CẤP, TÁ BẤT NAN.
Nếu mượn đồ vật
của ai, phải nhớ trả đúng hẹn. Sau có cần gấp, mượn người ta cũng không khó
khăn.
Mượn xong khi
trả cũng rành
Đúng kỳ đúng
hạn cho minh cho tường
Về sau gặp sự
nhỡ nhàng
Người cho mượn
lại dễ dàng khó chi
易解:借用別人的物品,一定要事先講明,請求允許。如果沒有事先徵求同意,擅自取用就是偷竊的行為。借來的物品,要愛惜使用,並準時歸還,以後若有急用,再借就不難。(諺云:好借好還,再借不難。)
Dịch giải: Mượn
đồ người khác để dùng, nhất định phải nói rõ, xin phép được đồng ý cho mới
được. Nếu không hỏi mượn rõ, tự ý lấy dùng, thì hành vi cũng như ăn trộm ăn cắp
không khác. Mượn đồ vật của người khác, phải nhớ hoàn trả đúng hẹn. Sau này nếu
có việc gấp cần đến, thì mượn lại sẽ không khó khăn (Ngạn ngữ có câu: Tốt khi
mượn, tốt khi trả, khi mượn lại khó mấy nả 好借好還,再借不難).
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
4. 信 Tín (Làm người cho đáng tin cậy)
凡出言 信為先 詐與妄 奚可焉
PHÀM XUẤT NGÔN,
TÍN VI TIÊN. TRÁ DỮ VỌNG, HỀ KHẢ YÊN.
Phàm giao tiếp
nói năng, trước tiên phải giữ tín nhiệm làm đầu tiên. Còn dối trá, điêu sai thì
còn làm gì được nữa.
Làm người phải
trọng xuất ngôn
Xuất ngôn chữ
tín luôn luôn làm đầu
Điêu sai dối
trá còn lâu
Làm người thất
tín lấy đâu làm người
話說多 不如少 惟其是 勿佞巧
THOẠI THUYẾT
ĐA, BẤT NHƯ THIỂU. DUY KỲ THỊ, VẬT NỊCH XẢO.
Nói nhiều lời,
không bằng nói ít. Mà chỉ nói điều đúng, điều phải, không nói nịnh bợ xảo trá.
Nói ít còn hơn
nhiều lời
Nói điều đúng
phải đừng chơi khéo sàm
奸巧語 穢污詞 市井氣 切戒之
GIAN XẢO NGỮ,
UẾ Ô TỪ. THỊ TỈNH KHÍ, THIẾT GIỚI CHI.
Nói lời gian
trá, lời ô uế bậy bạ, lời chợ búa đầu đường đầu hẻm nhất thiết phải răn dè.
Lời bậy bạ,
tiếng gian thâm
Đầu đường xó
chợ chớ ham nói bừa
易解:開口說話,誠信為先,答應他人的事情,一定要遵守承諾,沒有能力做到的事不能隨便答應,至於欺騙或花言巧語,更不能使用!(論語:與朋友交言而有信。信近於義,言可復也。註:復者實踐也,約定的事情要合乎義理才能實踐。)
話 多不如話少,話少不如話好。說話要恰到好處,該說的就說,不該說的絕對不說,立身處世應該謹言慎行,談話內容要實事求是,所謂:‘詞,達而已矣!’;不要 花言巧語,好聽卻靠不住。奸詐取巧的語言,下流骯髒的話,以及街頭無賴粗俗的口氣,都要避免不去沾染。(論語·子曰:君子欲訥於言,而敏於行。)
Dịch giải: Khi
nói chuyện, giữ niềm thành thật, đáng tin là đầu tiên. Đáp lời ai cũng phải giữ
gìn lời hứa nếu không làm được đừng nhận lời tùy tiện. Đến khi việc xảy ra
thành ra người nói dối, người lừa đảo. Người như thế thì không dùng được (Sách
Luận ngữ có câu: Kết giao bạn bè quý giữ tín nhiệm. Sự tín nhiệm là phải hợp
với đạo nghĩa. Lời nói có thể thực hành được 與朋友交言而有信。信近於義,言可復也). Nói nhiều lời không bằng nói ít, nói ít không bằng nói hay.
Khi nói phải phù hợp hoàn cảnh, tình cảm và đạo lí thực tế. Cái đáng nói thì
nói, không đáng nói thì không nói. Ở đời xử thế lập thân phải cẩn thận lời nói
phù hợp với việc làm. Nói chuyện thực sự cầu thị. Nên có câu là: Lời nói đạt là
được rồi 詞,達而已矣. Không cần hoa mỹ, hay ho mà không đáng tin.
Những lời dối trá, bậy bạ hạ lưu cho đến câu đầu đường xó chợ phải tránh bỏ
không tập theo (Sách Luận ngữ có câu: Người quân tử muốn lời nói được tiếp thu,
phải xem xét cẩn thận trong việc làm)
(Trích Sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
4. 信 Tín (2)
(Làm người cho
đáng tin cậy)
見未真 勿輕言 知未的 勿輕傳
KIẾN VỊ CHÂN,
VẬT KHINH NGÔN. TRI VỊ ĐÍCH, VẬT KHINH TRUYỀN.
Thấy việc gì
không thật đừng vội vàng nói ra; Có điều gì chưa chắc biết đừng vội rao truyền.
Chưa hay thì
nói rằng chưa
Chưa biết thì
cũng chớ bừa truyền rao
事非宜 勿輕諾 苟輕諾 進退錯
SỰ PHI NGHI,
VẬT KHINH NẶC. CẨU KHINH NẶC, TIẾN THOÁI THÁC.
Việc không hợp
hợp lí, đừng coi nhẹ mà nhận lời. Nếu coi nhẹ nhận lời bừa, thì tiến lui đều dễ
mắc lỗi lầm.
Việc chẳng hợp
đừng nhận vào
Đừng có cẩu thả
làm ào cho qua
Lỡ rồi tiến
thoái sa đà
Đều mắc lỗi cả
thì ra thế nào
凡道字 重且舒 勿急疾 勿模糊
PHÀM ĐẠO TỰ,
TRỌNG THẢ THƯ. VẬT CẤP TẬT, VẬT MƠ HỒ.
Lúc nói năng,
câu chữ từ ngữ nặng nhẹ chớ quá nhanh nhảu, chớ quá mơ hồ khó hiểu.
Nói năng thận
trọng thanh tao
Đừng có hấp tấp
lao nhao hồ đồ
彼說長 此說短 不關己 莫閒管
BỈ THUYẾT
TRƯỜNG, THỬ THUYẾT ĐOẢN. BẤT QUÁN KỶ, MẠC NHÀN QUẢN.
Kẻ nói dài,
người nói ngắn. Không quan hệ đến bản thân, đừng rỗi việc mà tham gia.
Người nói tê,
kẻ nói mô
Việc mình không
phải chớ dò dẫm thêm
易解:任何事情在沒有看到真相之前,不要輕易發表意見,對事情了解得不夠清楚明白時,不可以任意傳播,以免造成不良後果。(謠言止於智者,不要被謠言所利用。)
不合義理的事,不要輕易答應,如果輕易允諾,會造成做也不是,不做也不好,使自己進退兩難。 講話時要口齒清晰,咬字應該清楚,慢慢講,不要太快,更不要模糊不清。 遇到他人來說是非,聽聽就算了,要有智慧判斷,不要受影響,不要介入是非,事不關己不必多管。
Dịch giải: Thấy
không chắc chắn đúng, không nên vội vàng nói ra. Khi chưa chắc chắn hiểu, đừng
nên vội rao truyền. Dễ gây ra hậu quả không tốt. (Lời nói rao truyền bị ngừng ở
bậc có trí tuệ. Vì người có trí tuệ không bị lời rao truyền lợi dụng. Việc
không hợp nghĩa lý không tùy tiện nhận lời đáp ứng. Nếu nhận lời dễ dãi sẽ làm
thành việc không đúng về sau, không làm không được, thành ra tiến thoái đều
khó. Nói năng với nhau thì môi miệng phải ý tứ ,câu chữ phải gọn gàng, nói từ
tốn. Đừng quá nhanh, đừng mơ hồ khó hiểu. Gặp ai nói chuyện này chuyện nọ, thì
chỉ biết nghe thôi mà phải dùng trí tuệ mà phán đoán đừng bị ý kiến người khác
làm ảnh hưởng, lại bị rơi vào thị phi. Việc không liên quan đừng rỗi mà xen
vào.
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
4. 信 Tín (3)
(Làm người cho
đáng tin cậy)
見人善 即思齊 縱去遠 以漸躋
KIẾN NHÂN
THIỆN, TỨC TƯ TỀ. TUNG KHỨ VIỄN, DĨ TIỆM TÊ.
Thấy người khác
tốt, lập tức suy tư để được như người ta. Như ta hãy còn kém họ xa, thì học
theo từ từ.
Thấy người
thiện, nghĩ mà thèm
Phải suy cho
kịp cho nên bằng người
Dù cho vẫn kém
dài dài
Dần dà từng
bước một hai cho đều
見人惡 即內省 有則改 無加警
KIẾN NHÂN ÁC,
TỨC NỘI TỈNH. HỮU TẮC CẢI, VÔ GIA CẢNH.
Thấy người khác
xấu, lập tức phản tỉnh lại bản thân. Nếu ta có điều xấu đó thì ta phải sửa
ngay, còn không có thì cũng cảnh giác cẩn thận để không mắc.
Thấy người xấu,
ác rõ bêu
Trong lòng suy
nghĩ để nêu gương mình
Nếu có sửa ngay
thật tình
Nếu không thì
cũng giữ mình không vương
易解:看見他人的優點 或善行義舉,要立刻想到學習看齊,縱然目前能力相差很多,也要下定決心,逐漸趕上。
看見別人的缺點或不良的行為,要反躬自省,檢討自己是否也有這些缺失,有則改之,無則加勉。(見賢思齊焉,見不賢而內自省也。)(子曰:三人行。必有我師 焉,擇其善者而從之,其不善者而改之。)
Dịch giải: Nhìn
thấy người thiện, phải lập tức học theo. Dù ta còn kém, nhưng cứ học từ từ dần
dần. Thấy người xấu, tự mình phải phản tỉnh. Nếu có lỗi lầm như vậy, thì sửa
đổi ngay còn nếu không có thì làm gương để cảnh giác.
(Trích Sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
4. 信 Tín (4)
(Làm người cho
đáng tin cậy)
唯德學 唯才藝 不如人 當自礪
DUY ĐỨC HỌC,
DUY TÀI NGHỆ. BẤT NHƯ NHÂN, ĐƯƠNG TỰ LỆ.
Chỉ có đạo đức,
chỉ có tài nghệ. Nếu không bằng người, thì phải cố gắng thêm.
Đức học tài
nghệ tầm thường
Phải lo rèn
luyện để đương bằng người
若衣服 若飲食 不如人 勿生戚
NHƯỢC Y PHỤC,
NHƯỢC ẨM THỰC. BẤT NHƯ NHÂN, VẬT SANH THÍCH.
Còn như quần
áo, hay ăn uống. Nếu không bằng người, cũng đừng nên lo.
Còn như ăn mặc
bề ngoài
Cho dù kém ít
chẳng phai đạo hằng
Kém ai như thế
cũng bằng
Chẳng hề lo
lắng lăng quăng nhọc nhằn
聞過怒 聞譽樂 損友來 益友卻
VĂN QUÁ NỘ, VĂN
DỰ LẠC. TỔN HỮU LAI, ÍCH HỮU KHƯỚC.
Ai nghe lỗi thì
giận, ai nghe khen thì vui, thế là bạn làm hại mình mình lại thân gần, bạn tốt
mình lại xa rời khước từ.
Ai nghe lỗi,
tức lòng sân
Nghe khen thì
lại vui rân lên cười
Thế là bạn tốt
mất rồi
Để cho bạn xấu
lại chơi quanh mình
聞譽恐 聞過欣 直諒士 漸相親
VĂN DỰ KHỦNG,
VĂN QUÁ HÂN. TRỰC LƯƠNG SĨ, TIỆM TƯƠNG CẬN.
Còn ai nghe
khen thì sợ, nghe lỗi lầm thì vui. Đấy mới là người trí tuệ đại lượng. Dần dần
thành bạn bè gần gũi nên thân cận.
Nghe khen e sự
chẳng bằng
Nghe chê thì
lại vui mừng quá đi
Là người cao sĩ
uy nghi
Dần dà ta phải
yêu vì học theo
易解:每一個人都應當 重視自己的品德、學問、和才能技藝的培養,如果感覺到有不如人的地方,應當自我惕勵奮發圖強。至於外錶穿著,或者飲食不如他人,則不必放在心上,更沒有必
要憂慮自卑。(論語·顏回 居陋巷,一簞食、一瓢飲,人不堪其憂,回也不改其樂。)(※君子憂道不憂貧) 如果一個人聽到別人說自己的缺失就生氣,聽到別人稱贊自己就歡喜,那么壞朋友就會來接近你,真正的良朋益友反而逐漸疏遠退卻了。反之,如果聽到他人的稱
贊,不但沒有得意忘形,反而會自省,唯恐做得不夠好,繼續努力;當別人批評自己的缺失時,不但不生氣,還能歡喜接受,那么正直誠信的人,就會漸漸喜歡和我 們親近了。(人以群分,物以類聚。同聲相應,同氣相求。)
Dịch giải: Làm
người thì chỉ lo bồi đắp đức hạnh, tài nghệ, học vấn của mình. Nếu không bằng
người, thì chúng ta phải tự phấn đấu cố gắng tiến bộ. Còn như những sự về quần
áo , ăn uống. Nếu không bằng người khác, cũng chẳng phải xấu hổ hay lo lắng tự
ti.(Sách Luận ngữ có câu: Nhan Hồi, ở nơi ngõ hẹp, một giỏ cơm, một bầu nước.
Người ta thì không chịu được cái lo buồn ấy. Nhưng Hồi vẫn vui với đạo không
thay đổi 顏回 居陋巷,一簞食、一瓢飲,人不堪其憂,回也不改其樂.
Hay còn câu
khác: Người quân tử chỉ lo về đạo lý không thực hành chứ không lo về sự nghèo
đói 君子憂道不憂貧) Tính thường nghe người chê thì nổi giận. Nghe người khen thì
vui mừng. Như thế là để cho bạn xấu lại gần mà rời xa bạn tốt vậy. Còn ngược
lại nghe người khen thì không đắc ý mà còn xét lại xem có đúng không, có làm
được như lời người khen không, lại tiếp tục phấn đấu; còn nghe chê thì không
những không tức giận mà lại vui vẻ tiếp thu, thế mới là người ngay thẳng thành
tín. Dần dần sẽ quy mến thân gần với mình. (Lời sách rằng: Người ta đông thì
chia ra bè phái, vật thì cùng loại mà hợp vào một bầy. Các vật nào đồng tiếng
với nhau thì ứng nhau, các vật nào đồng khí với nhau thì tự tìm đến nhau, như
quân tử thì tìm quân tử mà chơi, tiểu nhân thì lại tìm tiểu nhân mà hội họp.
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã vậy).
(Trích Sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
4. 信 Tín (5)
(Làm người cho
đáng tin cậy)
無心非 名為錯 有心非 名為惡
VÔ TÂM PHI,
DANH VI THÁC. HỮU TÂM PHI, DANH VI ÁC.
Vô ý phạm điều
sai trái, người ta gọi là lỗi lầm; Còn có ý thức mà làm điều sai trái, người ta
gọi đó là làm ác rồi vậy.
Vô tình phạm
lỗi ngặt nghèo
Ấy là lầm lỡ
phải đeo danh mình
Có lòng biết,
vẫn cố tình
Thì là ác
nghiệp do mình tự gây
過能改 歸於無 倘掩飾 增一辜
QUÁ NĂNG CẢI,
QUY Ư VÔ. THẢNG YỂM SỨC, TĂNG NHẤT CÔ.
Có lỗi biết sửa
đổi đến khi hết thì thôi. Còn che dấu thì lại càng thêm tội nữa.
Có lỗi biết đổi
mới hay
Còn như che đậy
tội tày càng thêm
易解:無心之過稱為錯,若是明知故犯,有意犯錯便是罪惡。知錯能改,是勇者的行為,錯誤自然慢慢的減少消失,如果為了面子,死不認錯,還要去掩飾,那就是錯上加錯了。
(子曰:知過能改,善莫大焉!又曰:知恥近乎勇。)
Dịch giải: Sai
lầm do vô tình gây ra thì gọi là lỗi, là sai. Nhưng sai lầm do cố tình gây ra
thì gọi là tội, là ác. Có lỗi mà biết sửa, là hành vi rất dũng cảm. Lỗi lầm dần
dần giảm nhẹ. Còn vì sĩ diện, chết không nhận lỗi lại còn che dấu thì lỗi chồng
thêm lỗi. (Khổng tử nói: Biết lỗi biết sửa, không tốt gì hơn thế. Lại nói: Biết
nhục, biết lỗi là rất dũng cảm đấy)
(Trích sách ĐỆ
TỬ QUY DỊ GIẢI)
5. 泛愛眾
Phiếm Ái Chúng
(Thương yêu mọi
người)
凡是人 皆須愛 天同覆 地同載
PHÀM THỊ NHÂN,
GIAI TU ÁI. THIÊN ĐỒNG PHÚC, ĐỊA ĐỒNG TẢI.
Phàm đã là
người, đều phải yêu thương lẫn nhau. Cùng chung đội một trời, cùng chung một
cõi đất.
Yêu thương yêu
hết mọi niềm
Vì cùng đội đức
ân chiêm của trời
Cùng trên quả
đất xoay dời
Phải yêu cho
khắp mọi người thế gian
行高者 名自高 人所重 非貌高
HẠNH CAO GIẢ,
DANH TỰ CAO. NHÂN SỞ TRỌNG, PHI MẠO CAO.
Người đạo đức
cao, thì danh tiếng càng cao. Cái người ta coi trọng, không phải bởi ở vẻ bề
ngoài.
Đức cao danh
cũng khỏi bàn
Người đâu chỉ
trọng nhất ban tướng hình
才大者 望自大 人所服 非言大
TÀI ĐẠI GIẢ,
VỌNG TỰ ĐẠI. NHÂN SỞ PHỤC, PHI NGÔN ĐẠI.
Người có tài
lớn, danh vọng càng lớn. Điều mọi người khâm phục, không phải vì nói to, nói
lớn.
Tài đức lớn,
lớn cả danh
Đâu phải lớn
tiếng, oai hình người ghê
易解:只要是人,就是同類,不分族群、人種、宗教信仰,皆須相親相愛。同是天地所生萬物滋長的,應該不分你我,互助合作,才能維持這個共生共榮的生命共同體。(物種以競爭為目的。人類以互助合作為目的。)
德行高尚者,名望自然高超。大家所敬重的是他的德行,不是外表容貌。有才能的人,處理事情的能力卓越,聲望自然不凡,然而人們之所以欣賞佩服,是他的處事能力,而不是因為他很會說大話。
Dịch giải: Chỉ
cần là con người, là đồng loại không phân dòng họ, chủng tộc, tôn giáo, đều
phải tương thân tương ái lẫn nhau. Đều cùng một bầu trời đất che chở, sinh sôi
muôn vật. Không phân biệt ta khác, phải đoàn kết hợp tác mới có thể cùng chung
sống. (Loài vật coi cạnh tranh làm mục đích; Loài người thì lấy hợp tác làm mục
đích) Người có đức hạnh cao, danh vọng của họ cũng cao. Điều mọi người kính
trọng, không phải ở tướng mạo bề ngoài. Người có tài năng thì danh vọng của họ
cũng lớn. Cái mọi người nể phục, không phải ở chỗ biết ăn to nói lớn.
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
5. 泛愛眾 Phiếm Ái Chúng (2)
(Thương yêu mọi
người)
己有能 勿自私 人所能 勿輕訾
KỶ HỮU NĂNG,
VẬT TỰ TƯ. NHÂN SỞ NĂNG, VẬT KHINH TÍ.
Bản thân có
năng lực, không ích kỷ tự tư tự lợi. Thấy người khác giỏi, không nên chê bai
dèm pha.
Năng lực mình
phải phát huy
Chứ đừng tự ích
tự ti chút nào
Người ta hay
giỏi làm sao
Cũng đừng nhẹ
miệng tiếng vào lời ra
勿諂富 勿驕貧 勿厭故 勿喜新
VẬT SIỂM PHÚ,
VẬT KIÊU BẦN. VẬT YỂM CỐ, VẬT HỶ TÂN.
Không nịnh bợ
kẻ giàu sang, không coi khinh người nghèo hèn. Không chán bỏ cái cũ mà tốt, để
ham thích cái mới chưa chắc đã tốt.
Cũng đừng nịnh
bợ xa hoa
Cũng đừng khinh
bỉ kiêu xa với nghèo
Cũ hay mà tốt
thì theo
Đừng ham vui
mới chắc nhiều tốt chưa
人不閒 勿事攪 人不安 勿話擾
NHÂN BẤT NHÀN,
VẬT SỰ GIẢO. NHÂN BẤT AN, VẬT THOẠI NHIỄU.
Người đang bận,
đừng quấy nhiễu. Người đang không an lòng, không nên nói làm phiền lòng thêm.
Người đang bận
quấy nhiễu chừa
Người đang lo
lắng không vừa đừng trêu
易解:當你有能力可以 服務眾人的時候,不要自私自利,只考慮到自己,捨不得付出。對於他人的才華,應當學習欣賞讚嘆,而不是批評、嫉妒、毀謗。不要去討好巴結富有的人,也不要
在窮人面前驕傲自大,或者輕視他們。不要喜新厭舊,對於老朋友要珍惜,不要貪戀新朋友或新事物。對於正在忙碌的人,不要去打擾他,當別人心情不好,身心欠 安的時候,不要閒言閒語干擾他,增加他的煩惱與不安。
Dịch giải: Nếu
tự mình có tài năng, không nên dùng để lợi ích riêng. Nếu thấy người khác có
tài năng, nên học tập chứ đừng che bai đố kỵ. Chớ nịnh bợ người giàu có, cũng
không khinh thường kẻ bần cùng khốn khổ. Không nên chán bỏ cái cũ tốt, để ham
thích cái mới chưa chắc đã tốt. Khi người khác đang bận việc, không nên quấy
nhiễu họ. Hoặc khi trong lòng họ không được yên, không nên nói những điều gây
thêm buồn phiền.
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
5. 泛愛眾 Phiếm Ái Chúng (3)
(Thương yêu mọi
người)
人有短 切莫揭 人有私 切莫說
NHÂN HỮU ĐOẢN,
THIẾT MẠC YẾT. NHÂN HỮU TƯ, THIẾT MẠC THUYẾT.
Khuyết điểm của
người khác, nhất thiết không bới móc. Chuyện riêng tư của người khác, nhất
thiết không nên nói.
Ai ai cũng có
lỗi nhiều
Đừng hay nói
quá bới điều lỗi ra
Ai ai cũng có
riêng tư
Đừng đem chuyện
kín mà đưa mối bàn
道人善 即是善 人知之 愈思勉
ĐẠO NHÂN THIỆN,
TỨC THỊ THIỆN. NHÂN TRI CHI, DŨ TƯ MIỄN.
Nói tốt cho
người khác, thế là tốt. Người ta biết lại càng thêm gắng gỏi khích lệ.
Khen người tốt,
thì tốt hơn
Ai hay thì cũng
gắng nên tốt nhiều
揚人惡 即是惡 疾之甚 禍且作
DƯƠNG NHÂN ÁC,
TỨC THỊ ÁC. TẬT CHI THẬM, HỌA THẢ TÁC.
Nói xấu cho
người khác, thế là ác. Người ta lo lại càng thêm, họa tự nảy sinh thêm
Lỗi người khác,
nói ra bêu
Khiến người lo
lắng lại điều họa sinh
善相勸 德皆建 過不規 道兩虧
THIỆN TƯƠNG
KHUYẾN, ĐỨC GIAI KIẾN. QUÁ BẤT QUY, ĐẠO LƯỠNG KHUY.
Thấy điều hay
thì khuyên nhau hướng thiện, đức hạnh cùng nhau gây dựng. Nếu thấy sai mà không
khuyên nhau quy củ, thì đạo hạnh cả hai cùng bị hao mòn suy tổn.
Khuyên nhau
khuyên những tốt lành
Cùng nhau gây
lập đức danh ở đời
Lầm lỗi chẳng
bảo cho người
Cả hai cũng
phạm đạo thời tổn hao
易解:別人的缺點,不 要去揭穿,對於他人的隱私,切忌去張揚。讚美他人的善行就是行善。當對方聽到你的稱讚之後,必定會更加勉勵行善。張揚他人的過失或缺點,就是作了一件壞
事。如果指責批評太過分了,還會給自己招來災禍。朋友之間應該互相規過勸善,共同建立良好的品德修養。如果有錯不能互相規勸,兩個人的品德都會有缺陷。
Dịch giải: Yếu
điểm của người khác đừng bới móc rao truyền. Riêng tư của người khác cũng đừng
đưa chuyện bàn tán. Khen cái hay của người khác, là điều tốt. Người khác biết
được lại càng cố gắng thêm làm điều hay. Không chê bày điểm kém của người khác
quá đáng. Người khác nghe biết lại thành chuốc tai họa. Bạn bè nên cùng khuyến
khích nhau làm việc thiện, gây dựng đức hạnh tốt đẹp. Bạn bè có lỗi lầm, nếu
không khuyên bảo nhau, thì đức hạnh của cả hai đều bị suy tổn.
5. 泛愛眾 Phiếm Ái Chúng (4)
(Thương yêu mọi
người)
凡取與 貴分曉 與宜多 取宜少
PHÀM THỦ DƯ ,
QUÝ PHÂN HIỂU. DƯ NGHI ĐA, THỦ NGHI THIỂU.
Cho hoặc nhận
lấy, quý ở chỗ chia rõ ràng. Cho ra nên nhiều, nhận về nên ít.
Cho đi nhận lại
bao nhiêu
Quý điểu phân
biệt nhận trao rõ ràng
Cho đi nhiều
nghĩa lại sang
Nhận về khiêm
tốn đức càng quý hơn
將加人 先問己 己不欲 即速已
TƯƠNG GIA NHÂN,
TIÊN VẤN KỶ. KỶ BẤT DỤC,TỨC TỐC DĨ.
Việc cầu người
khác, trước tự hỏi lòng mình xem. Nếu bản thân mình cũng không thích, thì thôi
đừng đưa giao cho người khác.
Nhờ ai thì nhớ
hỏi han
Lòng mình như
có được an hãy nhờ
Bản thân còn
chẳng chịu ưa
Thì thôi đừng
để dây dưa đến người
易解:財物的取得與給予,一定要分辨清楚明白,寧可多給別人,自己少拿一些,才能廣結善緣,與人和睦相處。
事情要加到別人身上之前(要托人做事),先要反省問問自己:換作是我,喜歡不喜歡,如果連自己都不喜歡,就要立刻停止。(子曰:己所不欲,勿施於人。要設身處地為別人著想。)
Dịch giải: Lấy
và cho, phải phân minh rõ ràng. Thà cho người khác thì nên nhiều, còn mình nhận
về thì nên ít hơn, để kết duyên lành, hòa thân với người. Có việc gì muốn giao
người khác làm, trước tiên tự hỏi mình xem mình có thích hay không. Nếu việc mà
đến mình cũng không muốn làm thì thôi đừng để người khác làm cho mình. (Khổng
tử nói: Điều mình không muốn đừng làm cho người khác. Nên đặt mình vào vị trí
đó để xem xét vấn đề).
5. 泛愛眾 Phiếm Ái Chúng (5)
(Thương yêu mọi
người)
恩欲報 怨欲忘 報怨短 報恩長
ÂN DỤC BÁO, OÁN
DỤC VONG. BÁO OÁN ĐOẢN, BÁO ÂN TRƯỜNG.
Có ơn thì phải
báo đáp, nhưng oán hận thì phải tiêu trừ. Báo oán thì ngắn thôi, còn báo ơn thì
nên lâu dài.
Báo ân báo oán
rạch ròi
Ân thời phải
báo oán thời phải quên
Báo oán thì ít
là hơn
Báo ân thì phải
cho nên lâu dài
待婢僕 身貴端 雖貴端 慈而寬
ĐÃI TÌ BỘC,
THÂN QUÝ ĐOAN. TUY QUÝ ĐOAN, TỪ NHƯ KHOAN.
Đối đãi đầy tớ,
phải lấy thân mình nghiêm trang làm gương. Tuy nghiêm trang, nhưng lại phải
hiền hòa khoan dung.
Người nô bộc
tiếp đãi ai
Thân mình
nghiêm chính làm bài làm gương
Dù cho nghiêm
chính một đường
Hiền từ khoan
hậu giữ gin đừng quên
勢服人 心不然 理服人 方無言
THẾ PHỤC
NHÂN,TÂM BẤT NHIÊN. LÝ PHỤC NHÂN, PHƯƠNG VÔ NGÔN.
Thế lực có thể
quy phục người, nhưng trong lòng không phục. Dùng đạo lý quy phục lòng người,
thì người không nói vào đâu được.
Phục nhân bằng
thế đừng nên
Dầu người tạm
phục mà quên ghi lòng
Dùng lí để phục
người xong
Thì người chịu
lí mà không càu nhàu
易解:受人恩惠要時時想著報答,別人有對不起自己的事,應該寬大為懷把它忘掉,怨恨不平的事不要停留太久,過去就算了,‘不要老放在心上,處罰自己,苦惱自己!’至於別人對我們的恩德,要感恩在心常記不忘,常思報答。對待家中的婢女與僕人,要注重自己的品行端正並以身作則,雖然品行端正很重要,但是仁慈寬大更可貴,如果仗勢強逼別人服從,對方難免口服心不服。唯有以理服人,別人才會心悅誠服沒有怨言。
Dịch giải: Chịu
ơn người khác, luôn luôn nhớ đáp đền. Còn oán thù với người phải nên xóa bỏ.
Lòng oán thù không nên để kéo dài, quá khứ nên quên đi, đừng lưu tâm suy tưởng
tự làm khổ bản thân; Còn lòng đội ơn thì đền đáp phải lâu dài. Lưu mãi không
quên. Đối xử với những người làm, tự thân mình phải có phẩm cách đoan chính làm
gương. Nhưng rộng lượng nhân từ lại càng đáng quý. Nếu cậy quyền thế để quy
phục người khác, tuy họ phục nhưng trong lòng họ không phục. Nếu dùng đạo lý để
quy phục thì người không oán trách được nữa.
6. 親仁 Thân Nhân
(Thân cận người
có đức hạnh và nhân từ theo họ học tập)
同是人 類不齊 流俗眾 仁者希
ĐỒNG THỊ NHÂN,
LOẠI BẤT TỀ. LƯU TỤC CHÚNG, NHÂN GIẢ HI.
Cùng là con
người cả, nhưng chia nhiều loại khác nhau. Người phàm tục thì nhiều, bậc nhân
từ thì hiếm.
Cùng là đồng
loại với nhau
Người này người
khác dễ đâu giống đều
Phàm phu tục tử
là nhiều
Nhân từ ít lắm
khó chiều học theo
果仁者 人多畏 言不諱 色不媚
QUẢ NHÂN GIẢ,
NHÂN ĐA ÚY. NGÔN BẤT HÚY, SẮC BẤT MỊ.
Quả thức là người
nhân, thì nhiều người kính sợ. Vì lời nói của họ không phạm lễ, sắc mặt của họ
không gian nịnh.
Nhân hậu thực,
người kính yêu
Vì lời lẽ dịu
sắc yêu không tà
能親仁 無限好 德日進 過日少
NĂNG THÂN NHÂN,
VÔ HẠN HẢO. ĐỨC NHẬT TIẾN, QUÁ NHẬT THIỂU.
Thân gần được
người nhân thì tốt vô cùng. Đức hạnh ngày một tăng, mà lầm lỗi ngày một ít.
Đấng nhân mà ở
gần ta
Là điều cực tốt
đo xa vô cùng
Đức hạnh ngày
một hanh thông
Lỗi lầm ngày
một tiêu vong dần dần
不親仁 無限害 小人進 百事壞
BẤT THÂN NHÂN,
VÔ HẠN HẠI. TIỂU NHÂN TIẾN, BÁCH SỰ HOẠI.
Không thân gần
người nhân, hại vô chừng. Vì thân gần tiểu nhân, muôn sự đều hư hỏng cả.
Còn không chịu
học người nhân
Thì hại vô kể
vô ngần khôn đo
Tiểu nhân ngày
một dầm dò
Dẫu làm trăm
việc đều thu bại tàn
易解:同樣是人,善惡邪正,心智高低卻是良莠不齊。跟著潮流走的俗人多,仁慈博愛的人少,如果有一位仁德的人出現,大家自然敬畏他,因為他說話公正無私沒有隱瞞,又不討好他人。所以大家才會起敬畏之心。能
夠親近有仁德的人,向他學習,真是再好不過了,因為他會使我們的德行一天比一天進步,過錯也跟著減少。如果不肯親近仁人君子,就會有無窮的禍害,因為不肖 的小人會趁虛而入,跑來親近我們,日積月累,我們的言行舉止都會受影響,導致整個人生的失敗。(近朱者赤,近墨者黑。)
Dịch giải: Cùng
là con người, nhưng thiện ác tà chính khác nhau, tâm tài trí tuệ cao thấp khác
nhau. Người thế tục thì rất nhiều, còn người có phẩm hạnh thì rất hiếm. Nếu
người thật sự có đạo đức phẩm hạnh, thì mọi người sợ và kính. Vì họ luôn nói
lời công chính vô tư, không che đậy man trá, cũng không nịnh bợ nên người người
kính sợ. Nếu gần gũi người nhân như thế, học tập họ thì tốt lắm. Ngày ngày tiến
bộ, lỗi lầm dần giảm. Còn nếu không chịu thân gần những bậc nhân quân tử thì
hại ngay, vì tiểu nhân sấn đến, lâu ngày tập thói thành quen. Cuộc sống ảnh
hưởng càng ngày càng sa vào bại hoại. (Lời xưa: Gần mực thì đen, gần son thì đỏ近朱者赤,近墨者黑)
7. 餘力學文 Dư Lực Học Văn
(Công việc, bổn
phận của mình đã làm xong lại nên nghiên cứu học tập các tri thức khác.)
不力行 但學文 長浮華 成何人
BẤT LỰC HÀNH,
ĐẢN HỌC VĂN. TRƯỞNG PHÙ HOA, THÀNH HÀ NHÂN.
Không ra sức
thực hành điều đạo lí đúng đắn của thánh hiền, chỉ biết học các môn tri thức
khác. Thì chỉ nổi trội mặt phù hoa bề ngoài, làm sao thành người được.
Bấy nhiêu đạo
lý không làm
Chỉ mê mải với
văn suông mỹ miều
Thành ra lãng
đãng phiêu diêu
Thành người sao
được mà theo thánh hiền
但力行 不學文 任己見 昧理真
ĐẢN LỰC HÀNH,
BẤT HỌC VĂN. NHÂM KỶ KIẾN, MUỘI LÝ CHÂN.
Nhưng chỉ biết
ra sức thực hành máy móc điều đạo lý của thánh nhân mà không học tiếp các tri
thức khác. Rồi tự tin ý riêng mình là phải là đúng, thì chân lí thực sự bị mờ
tối sai lệch, có thể là thực hành một cách ngu muội, mù quáng.
Còn như nhắm
mắt làm liền
Văn chương đạo
lý chẳng phiền đọc thêm
Làm tự ý, tự
mình xem
Thì mờ lệch hết
ý hiền đời xưa
易解:不能身體力行 孝、悌、謹、信、泛愛眾、親仁這些本分,一味死讀書,縱然有些知識,也只是增長自己浮華不實的習氣,變成一個不切實際的人,如此讀書又有何用?反之,如果
只是一味的做,不肯讀書學習,就容易依著自己的偏見做事,蒙蔽了真理,也是不對的。(子曰:“學而不思則罔,思而不學則殆。”)
Dịch giải: Bản
thân ta không gắng sức thực hiện bổn phận Hiếu song thân, Kính bề trên, Làm cẩn
thận, Giữ tín nhiệm, Yêu thương mọi người, Thân thiết với người nhân. Mà duy
chỉ cắm đầu vào đọc sách suông. Giả như là có tri thức hiểu biết đi nữa thì
cũng chỉ tăng thêm phù hoa bề ngoài chứ không phải cái đức hạnh thực chất của
con người. Thành ra người không thực tế. Vậy thì đọc sách có ích gì?. Ngược
lại, nếu chỉ một mực thực hành không mà không nghiên cứu thêm trí thức khác
nữa, không chịu nỗ lực học tập sách vở. Thế thì cũng sa vào dễ ngộ nhận ý riêng
là lẽ phải, dựa vào kinh nghiêm cá nhân, thực hành máy móc, rồi bị che lấp hết
chân lý thực sự của đạo lí thánh hiền. Cũng là sai. (Khổng tử từng nói: Học mà
không suy nghĩ thì mê lầm; suy nghĩ mà không học thì nguy thay 子曰:“學而不思則罔,思而不學則殆)
(Trích sách Đệ
Tử Quy Dị Giải)
7. 餘力學文 Dư Lực Học Văn (2)
(Công việc, bổn
phận của mình đã làm xong lại nên nghiên cứu học tập các tri thức khác.)
讀書法 有三到 心眼口 信皆要
ĐỘC THƯ PHÁP,
HỮU TAM ĐÁO. TÂM NHÃN KHẨU, TÍN GIAI YẾU.
Cách đọc sách,
Có ba điều đạt đến, là Tâm yếu phải đạt đến nội dung tư tưởng sách truyền tải;
Mắt phải đọc thông đạt được câu chữ trong sách; Miệng phải đọc được trôi chảy
câu chữ trong sách. Thực sự đó là ba điều cốt yếu.
Đọc sách phải
ba điều ưa
Tâm ưa, mắt
thích miệng vừa nhẩm theo
Lại hay đạo
nghĩa tín điều
Là ba cốt lõi
phải theo chớ rời
方讀此 勿慕彼 此未終 彼勿起
PHƯƠNG ĐỌC THỬ,
VẬT MỘ BỈ. THỬ VỊ CHUNG, BỈ VẬT KHỞI.
Khi đọc sách
này, đừng ham mộ sách khác. Chưa đọc xong sách này, đừng vội chuyển đọc ngay
sách khác.
Đọc sách đọc
phải đến nơi
Đừng ham chỗ nọ
lại vời chỗ kia
Sách này đọc
chửa kịp qua
Đã buông sách
khác gợi ra mối nhiều
寬為限 緊用功 功夫到 滯塞通
KHOAN VI HẠN,
KHẨN DỤNG CÔNG. CÔNG PHU ĐÁO, TRỆ TẮC THÔNG.
Giới hạn thời
gian thong thả, dụng công phải đều đủ. Khi công phu đã đều đủ, thì những điều
tắc trệ tưởng không đạt được nổi cũng thông suốt hết.
Khoan thai đúng
mức đúng điều
Công phu đều
đặn thì điều tắc thông
心有疑 隨札記 就人問 求確義
TÂM HỮU NGHI,
TÙY TRÁT KÝ. TỰU NHÂN VẤN, CẦU XÁC NGHĨA.
Trong lòng có
điều gì nghi hoặc, phải ghi chú lại ngay. Gặp người để hỏi, cầu nghĩa giải
thích cho chính xác.
Điều chi nghi
ngại chưa xong
Thì ghi chép kỹ
để phòng hỏi han
Cầu tìm nghĩa
lý rõ ràng
Hỏi người rồi
lại luận bàn cho ra
易解:讀書的方法要注重三到,眼到、口到、心到。三者缺一不可,如此方能收到事半功倍的效果。研究學問,要專一,要專精才能深入,不能這本書才開始讀沒多久,又欣羨其他的書,想看其他的書,這樣永遠也定不下心,必須把這本書讀完,才能讀另外一本。
在訂定讀書計劃的時候,不妨寬鬆一些,實際執行時,就要加緊用功,嚴格執行,不可以懈怠偷懶,日積月累功夫深了,原先窒礙不通,困頓疑惑之處自然而然都迎刃而解了。(中庸:用功日久,而一旦豁然貫通焉,則眾物之表里精粗無不到,而吾心之全體大用無不明矣。)
求學當中,心裡有疑問,應隨時筆記,一有機會,就向良師益友請教,務必確實明白它的真義。(不恥下問)
Dịch giải:
Phương pháp đọc sách chú trọng nhất là 3 điểm. Tâm phải chú tâm, mắt phải xem
chữ, miệng phải đọc thành lời. Ba điều này thiếu 1 cũng không được. Như thế thì
mới có hiệu quả. Nghiên cứu học vấn phải chuyên nhất, phải đào sâu. Đừng có
sách này vừa đọc chưa bao lâu lại thích sách khác mà bỏ sách này, rút cục không
có quyết tâm gì cả. Đọc xong quyển này rồi mới đọc sang quyển khác. Thời gian
để đọc cũng khoan khoan nhưng có điều độ cần thực hành đúng. Công phu thế mới
đều đủ đừng lười nhác. Ngày tháng càng tích lũy, công phu ngày một sâu. Chỗ nào
còn nghi ngại không thông thì cũng theo thời gian mà tự giải ra như mũi nhọn
đầu dao rạch chỗ mềm vậy (Sách Trung dung có câu: Dụng công lâu ngày, đến 1 hôm
tự nhiên thông suốt. Thì các sự vật tinh thô trong ngoài không gì là không đạt,
mà cái đại dụng của lòng ta không gì là không sáng 中庸:用功日久,而一旦豁然貫通焉,則眾物之表里精粗無不到,而吾心之全體大用無不明矣). Cầu học mà có điều gì còn nghi vấn thì tuỳ nơi ghi chú biên chép
lại. Khi có cơ hội thì đem hỏi thầy hỏi bạn, để tỏ cái nghĩa xác thực của nó
(Lời xưa có câu: Không thẹn hỏi người dưới 不恥下問).
7. 餘力學文 Dư Lực Học Văn (3)
(Công việc, bổn
phận của mình đã làm xong lại nên nghiên cứu học tập các tri thức khác.)
房室清 牆壁淨 几案潔 筆硯正
PHÒNG THẤT
THANH, TƯỜNG BÍCH TỊNH. KỈ ÁN KHIẾT, BÚT NGHIỄN CHÍNH.
Phòng ốc phải
yên tĩnh, tường vách phải sạch sẽ. Bàn ghế bày ngay ngắn, bút mực xếp gọn gàng.
Phòng ốc yên
tĩnh thanh quang
Bốn bên tường
vách sẽ sàng sạch không
Bàn ghế bày
biện bên trong
Bút nghiên đoan
chính để trông gọn gàng
墨磨偏 心不端 字不敬 心先病
MẶC MA BIẾN,
TÂM BẤT ĐOAN. TỰ BẤT KÍNH, TÂM TIÊN BỊNH.
Cây mực mà mài
để lệch đi, là cái tâm chưa bền, chưa đoan chính (chỉ mong cho nhanh). Viết chữ
mà không kính cẩn (viết bừa, viết ngoáy) là tâm không an, lâu ngày quen đi
thành tật xấu.
Mực mài lệch cả
dọc ngang
Lòng chưa ngay
thẳng rõ ràng trong nghiên
Chữ viết chưa
thẳng chưa liền
Để thành thói
bệnh rối ren xấu mình
列典籍 有定處 讀看畢 還原處
LIỆT ĐIỂN TỊCH,
HỮU ĐỊNH XỨ. ĐỌC KHÁN TẤT, HOÀN NGUYÊN XỨ.
Phân kinh sách,
cho thứ tự. Đọc sách xong, để chỗ cũ.
Sách vở bày đặt
lối hình
Có chỗ quy định
để mình dễ coi
Đọc xong đặt để
có nơi
Để nguyên vị
trí để ngơi khi cần
雖有急 卷束齊 有缺壞 就補之
TUY HỮU CẤP,
QUYỂN THÚC TỀ. HỮU KHUYẾT HOẠI, TỰU BỔ CHI.
Dù có gấp, cũng
xếp kỹ. Sách có rách, phải tu bổ.
Dù vội dù bận
mấy phần
Nhưng mà gấp
sách muôn phần thẳng ngay
Chỗ nào rách tu
bổ ngay
Để mà gìn giữ
sau này đọc thêm
易解:書房要整理清潔,牆壁要保持乾淨,讀書時,書桌上筆墨紙硯等文具要放置整齊,不得凌亂,觸目所及皆是井井有條,才能靜下心來讀書。古人寫字使用毛筆,寫字前先要磨墨,如果心不在焉,墨就會磨偏了,寫出來的字如果歪歪斜斜,就表示你浮躁不安,心定不下來。
書籍課本應分類,排列整齊,放在固定的位置,讀誦完畢須歸還原處。 雖有急事,也要把書本收好再離開,書本是智慧的結晶,有缺損就要修補,保持完整。(古人一書難求,故有修補之舉。)
Dịch giải:
Trong phòng học phải yên tịnh, tường vách cũng phải giữ gìn cho sạch sẽ. Khi
đọc sách thì các đồ bút mực nghiên, các đồ văn thư phải gọn gàng, đừng để bừa
bãi. Cứ mắt nhìn thấy mà đâu đâu cũng chỉnh tề là được, thế mới tĩnh mà đọc
sách. Người xưa viết chữ dùng bút lông, trước khi viết phải mài mực. Nếu tâm
không yên thì mực mài bị lệch về 1 bên; chữ viết nghiêng lệch, tháu ngoáy biểu
thị là con người xốc nổi, không để tâm. Các sách vở cũng chia các loại để cho
gọn gàng, đặt nơi cố định, đọc xong thì lại để vào chỗ cũ. Sau có việc gấp thì
đem sách cũ lấy ra cũng nhanh tiện. Sách là nơi kết tinh của trí tuệ, nếu có
chỗ nào sách hỏng thì phải tu bổ dán bọc lại, cho nó hoàn chỉnh. (Người xưa 1
quyển sách rấtt khó cầu, nên thường hay tu bổ cho sách bền đẹp)
7. 餘力學文 Dư Lực Học Văn (4)
(Công việc, bổn
phận của mình đã làm xong lại nên nghiên cứu học tập các tri thức khác.)
非聖書 屏勿視 蔽聰明 壞心志
PHI THÁNH THƯ,
BÍNH VẬT THỊ. TẾ THÔNG MINH, HOẠI TÂM CHÍ.
Không phải là
sách thành hiền, thì không xem đọc. Đọc sách ấy sẽ bị che khuất tâm trí, mất sự
hông minh, hại cho tinh thần.
Sách chi lỗi
đạo thánh hiền
Thì đều bỏ chớ
đọc thêm ý tà
Thông minh bị
lấp đường ra
Tâm chí tổn hại
sao mà nên thân
勿自暴 勿自棄 聖與賢 可馴致
VẬT TỰ BẠO, VẬT
TỰ KHÍ. THÁNH DỮ HIỀN, KHẢ TUẦN TRÍ.
Đừng quá cam
chịu, đừng quá nản buông bỏ. Đức vị Thánh hiền, đều có thể rèn luyện để đạt đến
được.
Cũng đừng nản
chí than thân
Cũng đừng tự kỷ
buông chân thụt lùi
Thánh xưa cũng
thể là người
Học hành rèn
luyện đến nơi thôi mà
易解:不是傳述聖賢言行的著作,以及有害身心健康的不良書刊,都應該摒棄不要看,以免身心受到污染,智慧遭受蒙蔽,心志變得不健康。遇到困難或挫折的時候,不要自暴自棄,也不必憤世嫉俗,看什麼都不順眼,應該發憤向上努力學習,聖賢境界雖高,循序漸進,也是可以達到的。
(孟子曰:舜何人也,予何人也,有為者亦若是!) (唐詩:勸君莫惜金縷衣,勸君惜取少年時。花開堪折直須折,莫待無花空折枝。)
Dịch giải: Nếu
không phải là kinh sách của thánh hiền, không phải sách về đức hạnh, mà có hại
cho sức khỏe, cho tâm hồn con người thì đều không nên xem đọc, phải vứt bỏ để
tránh bị ô nhiễm, trí tuệ bị mờ tối, tâm hồn trí tuê bị che khuất. Gặp phải
hoàn cảnh khó khăn đừng khoanh tay cam chịu, đừng nản lòng buông xuôi. Cũng
đừng giận đời chán đời, xem điều gì cũng là nghịch mắt mà phải gắng chí phấn
đấu học tập hơn. Cảnh giới thánh hiền tuy cao nhưng tuần tự dần dần tu tập cũng
có thể đạt đến được (Sách Mạnh tử nói: Thuấn là người thế nào, ta là người thế
nào, những người có thể làm được đều như thế thôi 孟子曰:舜何人也,予何人也,有為者亦若是; Thơ Đường có bài: Xin anh đừng tiếc áo vàng; Xin anh tiếc lấy
sức chàng tuổi xuân; Hoa kia tươi ngắt đúng tuần; Đừng chờ hoa rụng chỉ phần
cành không 勸君莫惜金縷衣,勸君惜取少年時。花開堪折直須折,莫待無花空折枝)
Deutchland,
Taucha, 5-4-2013
Nguyễn Đức Toàn
đọc tham khảo và dịch sửa lại.
——————
CHÚ THÍCH THÊM
:
1/ Đảng Băng
Hác 黨冰壑 tức Đảng Thành 黨成(1615-1692), tự là Hiến Công 憲公, hiệu là Băng Hác冰壑, người huyện Tân
Hưng, Giáng Châu. Là học giả nổi tiếng cuối Minh đầu Thanh. Đi thi nhiều lần
không đỗ, quyết chí từ bỏ khoa trường, chuyên tâm học vấn, kiêm đọc các sách,
lạnh nhạt với thế tục. Ông có các tác phẩm còn lại như Nhật tri lục 日知錄, Ngưỡng tư lục 仰思錄, Học Dung đạm
ngôn 學庸澹言, Học tư nhị biên 學思二 編, ... Người đời sau biên tập tác phẩm của ông
thành Đảng Băng Hác toàn thư 黨冰壑全書 13 quyển.
2/ Giả Tồn
Nhân(1724-?), người đời Thanh, quê Phù Sơn浮山, tỉnh Sơn Tây. Tên tự là Mộc Trai木齋, hiệu là Dư Điền余田, là người nổi tiếng
hiếu hạnh đương thời. Sau khi mất được tòng tự trong Hiếu Đễ từ. Có văn bia ca
tụng công đức hành trạng của ông do Tiến sĩ khoa Ất hợi đời Càn Long là Phạm
Hạc Niên soạn.
3/ Nhị thập tứ
hiếu: sách nêu gương 24 tấm gương hiếu thảo của Trung Quốc, sách đã được Lý Văn
Phức, học giả Việt Nam diễn dịch ra chữ Nôm Việt vào khoảng giữa đời Nguyễn.
(Hết)
Kìa xem phép
đạo làm con
Y lời Thánh dạy
còn truyền từ lâu
Làm con hiếu đễ
là đầu
Cẩn thận, giữ
tín là sau nối vào
Yêu mọi người,
nguyện ước ao
Đấng nhân thân
thiết cho sao được gần
Bấy nhiêu trọn,
sức dư phần
Học thêm tri
thức cho văn được thuần
Trong nhà phải hiếu song thân
Mẹ cha gọi chớ lần khân thưa lời
Mệnh lệnh như có bảo sai
Làm ngay đừng có chây lười hư đi
Cha mẹ dạy, phép lễ nghi
Phải nghe kính cẩn nhớ ghi đủ đầy
Dù cho trách mắng la rầy
Trong lòng vẫn cứ vâng ngay thuận tòng
Tích xưa chăn
ấm trời đông
Hè thì mát
chiếu cho song thân nằm
Sáng ra trông
mặt hỏi thăm
Tối đến thưa
chuyện để chăm giấc nồng
Đi đâu trình
báo cho thông
Khi về phải để
cho trông thấy về
Sinh hoạt có
nếp có nề
Công việc gìn
giữ chớ tùy ý thay
Sự nhỏ đừng tự
đổi ngay
Tùy tiện tự đổi
hư hay khó lường
Hiếu song thân
có một đường
Tổn mình mà hại
đạo thường làm con
Vật kia dù nhỏ
cỏn con
Chớ đem giấu
diếm để bòn làm riêng
Nếu tự cất
chiếm làm riêng
Phạm đường pháp
lý đau thương lòng người
Song thân ốm
yếu nằm trong
Tự mình săn sóc
thuốc trông thang chừng
Ngày đêm mắt
để, đèn trưng
Phải gần giường
ngủ chứ đừng rời xa
Ba năm tang chế
ở nhà
Lòng thường
buồn bã xót xa nhớ người
Sự sinh hoạt
cũng đổi thôi
Những nơi rượu
thịt vui chơi chớ màng
Khi tế lễ phải
đàng hoàng
Sao cho thành
kính rõ ràng thì hơn
Dù cho người đã
khuất non
Mà như hình
bóng vẫn còn hôm nay
Song thân có
thích điều gì
Gắng sức làm
trọn chỉ vì người vui
Điều chi cha mẹ
không vui
Cẩn thận mà
tránh, chớ lơi mắc vào
Thân ta đừng để
tổn hao
Mẹ cha lo lắng
hư lao tinh thần
Đức ta kém, tủi
song thân
Phải chăm dưỡng
đức để phần vẻ vang
Mẹ cha yêu,
hiếu dễ dàng
Dù cho có ghét
đạo thường phận con
Mẹ cha sai, lỗi
vẫn còn
Phải tùy can
gián để còn sửa sai
Khi can sắc mặt
vui tươi
Tiếng lời thanh
thoát để người dễ nghe
Can rồi mà vẫn
chưa nghe
Lại vui vẻ lại
dần dè khuyên thêm
Phải theo phải
khóc cho mềm
Dù cho đánh
mắng một niềm oán không
Xuất Tắc Đễ
Thương em anh
phải thảo ngay
Để em cung
thuận ngày ngày noi gương
Anh em hòa
thuận mọi đường
Yên lòng cha mẹ
lẽ thường hiếu trong
Của cải nhiều
cũng như không
Thì đường tình
nghĩa oán lòng khó sinh
Nhẫn được lời
nói trong mình
Lặng cơn tức
giận nhẹ thênh tâm tình
Ăn uống, đi đứng
dáng hình
Phải dè lớn
trước phận mình nhỏ sau
Người trên gọi,
giúp truyền rao
Nếu không ai
đến thì mau lại trình
Gọi người trên, chớ nêu danh
Trước mặt tôn trưởng tài mình chớ khoe
Đi đường gặp gỡ một khi
Nhanh tay thi lễ kẻo e hỗn hào
Bề trên chẳng có lời nào
Thì lui bước xuống để chào người qua
Khi cưỡi ngựa, lúc rong xe
Thấy người là xuống tỏ vì kính trên
Qua rồi vẫn ngóng để nhìn
Đủ qua trăm bước giữ gìn mới hay
Già đứng trẻ
đứng cho ngay
Già ngồi cho
phép trẻ đây mới ngồi
Bề trên tôn
kính trước rồi
Nói năng vừa
phải đúng người đủ nghe
Nhỏ nhẹ quá
chẳng nghe chi
Cũng không hợp
lễ thích nghi chút nào
Tiến lên nhanh
để hỏi chào
Cáo lui thì lại
lời trao từ từ
Hỏi thì đáp chớ
đừng “ừ”
Mắt trông ngay
thẳng, lừ lừ nghiêng không
Hàng cha anh
phải kính trông
Như cha anh
ruột chứ không khác gì
Cẩn
(Phải cẩn thận
trong cuộc sống học tập, làm việc)
Sáng dậy sớm,
tối chơi lì
Tuổi già mau
đến mất thì thanh xuân
Con em phải
tính xa gần
Tiếc thời niên
thiếu thanh xuân học hành
Sáng ra rửa ráy
cho nhanh
Lại còn súc
miệng vệ sinh gọn gàng
Tay chân sạch
sẽ phải càng
Kẻo mang bệnh
tật lỡ làng khổ thân
Mũ đội phải
chính, phải ngay
Có cúc thì cài
có dây thì buộc
Tất đi cùng với
giày hài
Phải đi vừa vặn
không ngoài cỡ chân
Gọn gẽ chỗ đặt
áo quần
Để cho đúng chỗ
đúng phần đừng sai
Để bừa để bãi
đi rồi
Dễ dơ dễ bẩn dễ
rơi hôi rình
Áo quần trọng
sạch trọng thanh
Đâu cần hoa mỹ
linh tinh rườm rà
Mặc sao hợp
tiết hợp nhà
Cho vừa hoàn
cảnh cho ra phận mình
Ăn uống quan
trọng đừng khinh
Đừng có lựa
chọn kén tanh kén mùi
Ăn sao vừa đủ
thì thôi
Đừng ăn quá mức
để rồi mệt thêm
Cẩn
(Phải cẩn thận
trong cuộc sống học tập, làm việc)
Sáng dậy sớm,
tối chơi lì
Tuổi già mau
đến mất thì thanh xuân
Con em phải
tính xa gần
Tiếc thời niên
thiếu thanh xuân học hành
Sáng ra rửa ráy
cho nhanh
Lại còn súc
miệng vệ sinh gọn gàng
Tay chân sạch
sẽ phải càng
Kẻo mang bệnh
tật lỡ làng khổ thân
Mũ đội phải
chính, phải ngay
Có cúc thì cài
có dây thì buộc
Tất đi cùng với
giày hài
Phải đi vừa vặn
không ngoài cỡ chân
Gọn gẽ chỗ đặt
áo quần
Để cho đúng chỗ
đúng phần đừng sai
Để bừa để bãi
đi rồi
Dễ dơ dễ bẩn dễ
rơi hôi rình
Áo quần trọng
sạch trọng thanh
Đâu cần hoa mỹ
linh tinh rườm rà
Mặc sao hợp
tiết hợp nhà
Cho vừa hoàn
cảnh cho ra phận mình
Ăn uống quan
trọng đừng khinh
Đừng có lựa
chọn kén tanh kén mùi
Ăn sao vừa đủ
thì thôi
Đừng ăn quá mức
để rồi mệt thêm
Mành treo căng
rút tới lui
Phải làm từ tốn
nhẹ thôi kẻo ầm
Chỗ cong cần rẽ
phải ngăm
Khoan thai mình
chuyển kẻo đâm góc trồi
Bưng đồ không
cũng phải coi
Như bưng đầy
chặt kẻo rơi lỡ làng
Vào nhà vắng cũng
sẽ sàng
Như có người ở
kẻo màng thị phi
Hành sự chớ vội
việc chi
Vội vàng lắm
chuyện có khi sai nhầm
Càng khó ta lại
càng chăm
Không được
khinh suất lại lầm càng thêm
Chỗ đánh đấu,
chớ có chen
Những chuyện tà
vạy chẳng quen gạn lời
Khi vào cửa
phải hỏi ai
Lên nhà đánh
tiếng để người biết ta
Nếu ai hỏi, đáp
tên ra
Đừng xưng “tôi-
tớ“ người ta lại nhầm
Đồ người khác
phải hỏi thăm
Mượn nói cho rõ
không tham ám cầu
Nếu không gạn
rõ đuôi đầu
Thì như ăn trộm
tiếng âu đến mình
Mượn xong khi
trả cũng rành
Đúng kỳ đúng
hạn cho minh cho tường
Về sau gặp sự
nhỡ nhàng
Người cho mượn
lại dễ dàng khó chi
Tín
(Làm người cho
đáng tin cậy)
Làm người phải
trọng xuất ngôn
Xuất ngôn chữ
tín luôn luôn làm đầu
Điêu sai dối
trá còn lâu
Làm người thất
tín lấy đâu làm người
Nói ít còn hơn
nhiều lời
Nói điều đúng
phải đừng chơi khéo sàm
Lời bậy bạ,
tiếng gian thâm
Đầu đường xó
chợ chớ ham nói bừa
Chưa hay thì
nói rằng chưa
Chưa biết thì
cũng chớ bừa truyền rao
Việc chẳng hợp
đừng nhận vào
Đừng có cẩu thả
làm ào cho qua
Lỡ rồi tiến
thoái sa đà
Đều mắc lỗi cả
thì ra thế nào
Nói năng thận
trọng thanh tao
Đừng có hấp tấp
lao nhao hồ đồ
Người nói tê,
kẻ nói mô
Việc mình không
phải chớ dò dẫm thêm
Thấy người
thiện, nghĩ mà thèm
Phải suy cho
kịp cho nên bằng người
Dù cho vẫn kém
dài dài
Dần dà từng
bước một hai cho đều
Thấy người xấu,
ác rõ bêu
Trong lòng suy
nghĩ để nêu gương mình
Nếu có sửa ngay
thật tình
Nếu không thì
cũng giữ mình không vương
Đức học tài
nghệ tầm thường
Phải lo rèn
luyện để đương bằng người
Còn như ăn mặc
bề ngoài
Cho dù kém ít
chẳng phai đạo hằng
Kém ai như thế
cũng bằng
Chẳng hề lo
lắng lăng quăng nhọc nhằn
Ai nghe lỗi,
tức lòng sân
Nghe khen thì
lại vui rân lên cười
Thế là bạn tốt
mất rồi
Để cho bạn xấu
lại chơi quanh mình
Nghe khen e sự
chẳng bằng
Nghe chê thì
lại vui mừng quá đi
Là người cao sĩ
uy nghi
Dần dà ta phải
yêu vì học theo
Vô tình phạm
lỗi ngặt nghèo
Ấy là lầm lỡ
phải đeo danh mình
Có lòng biết,
vẫn cố tình
Thì là ác
nghiệp do mình tự gây
Có lỗi biết đổi
mới hay
Còn như che đậy
tội tày càng thêm
(Thương yêu mọi
người)
Yêu thương yêu
hết mọi niềm
Vì cùng đội đức
ân chiêm của trời
Cùng trên quả
đất xoay dời
Phải yêu cho
khắp mọi người thế gian
Đức cao danh
cũng khỏi bàn
Người đâu chỉ
trọng nhất ban tướng hình
Tài đức lớn,
lớn cả danh
Đâu phải lớn
tiếng, oai hình người ghê
Năng lực mình
phải phát huy
Chứ đừng tự ích
tự ti chút nào
Người ta hay
giỏi làm sao
Cũng đừng nhẹ
miệng tiếng vào lời ra
Cũng đừng nịnh
bợ xa hoa
Cũng đừng khinh
bỉ kiêu xa với nghèo
Cũ hay mà tốt
thì theo
Đừng ham vui
mới chắc nhiều tốt chưa
Người đang bận
quấy nhiễu chừa
Người đang lo
lắng không vừa đừng trêu
Nhận xét
Đăng nhận xét