PHAN BỘI CHÂU - KINH DICH
PHÁT ĐOAN TỪ
Triết học Đông Phương xưa nay có ba nhà:
Một là: Phật học
Hai là: Dịch học
Ba là: Lão học
Nhưng Phật học thời lí tưởng quá cao, mà quy kết về xuất thế.
Lão học thời vẫn một nhà nhập thế, nhưng quá trọng về đường thuật số mà cũng không thể thông dụng được ở nhân gian.
Chúng ta tham khảo chiết trung ở trong các nhà triết học Đông phương, vừa tinh vi, vừa thiết thực, vừa thấu lí vừa thích dụng, thời chẳng gì bằng Dịch học.
Lòng ưu thì mẫn thế gốc ở một tấm lòng từ bi thời Dịch chẳng khác gì Phật; tùy thì, thức thế đủ trăm đường biến hóa, thời Dịch có lẽ hay hơn Lão.
Thầy Thiệu Khang Tiết có nói rằng: "Trương Tử Phòng đắc Lão chi dụng, Mạnh Kha đắc Dịch chi dụng”, nghĩa là: Ông Trương Tử Phòng thời được cái đại dụng của Lão; thầy Mạnh Kha thời được cái đại dụng của Dịch.
Thầy Lục Tượng Sơn, thầy Vương Dương Minh thời đã tinh thông Dịch học mà học thuyết lại thường cận tự Phật học. Vậy mới biết rằng đã nghiên cứu Dịch học, thời Phật học, Lão học cũng có thể nhất dĩ quán chi.
Gần nay Âu Châu triết học thịnh hành, mà học giả nước Đức là ông Uy Lệ Hiên vào xứ Thanh Đảo nước Trung Hoa mời thầy học Dịch, nghiên cứu hơn 20 năm, biến thành bản Đức Văn Chu Dịch, đưa về nước trình vua Đức, được Uy Liêm (Guìllaume II) thưởng cho Bác sĩ Học Vị. Bây giờ nhà văn học đại học nước Đức lấy sách ấy làm một bản chuyên môn giáo khoa.
Thanh niên học giả nước Đức chia làm hai phái:
1. Lão phái
2. Dịch phái thảy chú trọng về Đông phương triết học.
Người Tây phương quý trọng triết học Đông phương đến như thế, cớ sao người nước ta sinh ở Đông phương lại dòng dõi con nhà Hán học mà nỡ bỏ Dịch học chẳng ai nhắc tới.
Phật trong nhà không cầu, đi cầu Thích Ca ngoài đường; trong túi mình có bảo châu mà ngửa tay xin người từ hạt gạo, thế chẳng là sự rất quái gở hay sao?
Bĩ nhân lúc trẻ theo đòi khoa cử, chẳng qua vì tầm chương trích cú, nhân đó mà thiệp liệp Kinh Dịch được hơn mười năm, nhưng kể đến nghĩa kín, lời sâu, thời chẳng qua một người đứng ngoài ngõ; ơn giời dạy bảo được vào trường trời dạy hơn hai mươi năm, sinh nhai về bể mặn đồng chưa, thầy bạn với non xanh nước biếc, mỗi khi u cư độc xử đem mấy pho Nhật Văn Hán Dịch ra xem, mới biết một nước phú cường ở Á Châu như nước Nhật Bản, mà sách Chu Dịch, Tôn Tử, Quản Tử, tất thảy phiên dịch làm Nhật văn, lại y nguyên văn đặt làm chuyên môn giáo khoa thư.
Ôi! Trông người lại ngẫm đến ta, trót 4.000 năm mà bản sách Chu Dịch chỉ là một bản sách làm ơn cho bọn thầy mù gỡ gạo và mấy chú văn sĩ muốn đồ chiếm áo mũ cân đai mà thôi, óc tinh vi huyền bí của bốn vị Thánh: Hi, Văn, Chu, Khổng văn cứu thì thiệp thế hơn 2.000 năm, chúng ta vẫn có trong nhà, mà xem bằng tờ giấy loại. Thế chẳng đáng tiếc lắm hay sao?
Bĩ nhân kể về Dịch học chẳng khác gì vỏ nghêu lường bể, trong ống dòm trời mà dám nói phát minh Dịch lí đâu. Chỉ vì nhất phiến khổ tâm, đau nỗi thiên thu tuyệt học. Ví như đồ ăn, thức uống, miệng mình đã biết là ngon, thời chẳng dám riêng làm mình có. Vậy mới phiên dịch bản sách này, nhan đề rằng:
QUỐC VĂN CHU DỊCH DIỄN GIẢI
Tri ngã, tội ngã, thời tùy lòng kẻ xem.
PHAN SÀO NAM
PHÀM LỆ
PHÀM LỆ I
Trước phải biết những người nào làm ra Kinh Dịch.
Chú minh: Bản sách này trải qua tay bốn vị Đại Thánh làm nên: Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử.
Lúc đầu tiên ở đời Thượng cổ, chưa có văn tự, dân sinh chưa biết gì là lợi, hại, cát, hung. Nhưng người sinh ngày một đông, không thể hỗn độn được mãi, mới có vị Đại Thánh thông minh trí tuệ thứ nhất là Phục Hy.
Trên xem văn trời, dưới xét lí đất, giữa khảo sát tình trạng vạn vật, mới nghĩ cách mở mang dân trí, để tăng tấn văn minh cho loài người. Bắt đầu chế ra văn tự, đặt ra sáu phép viết, mới vạch ra tám quẻ, lại mỗi quẻ gia thêm một tám, tám lần tám là thành ra sáu mươi tư quẻ. Lúc ấy sáu mươi tư quẻ, thành sáu mươi tư dạng chữ. Lệ như: Ba nét ngang liền là quẻ Càn, tức là chữ Thiên; sáu nét ngang đứt là quẻ Khôn tức là chữ Địa, v.v.
Đến đời Trung cổ, thánh Văn Vương biết được thâm ý của thánh Phục Hy là cốt lấy sáu mươi tư quẻ ấy để khai vật thành vụ, nghĩa là mở trí khôn người, làm nên việc đời. Nhưng sợ chỉ có quẻ mà thôi thời chắc người đời không hiểu, nên Ngài mới làm thêm lời Soán vào dưới sáu mươi tư quẻ.
Đến con Ngài là thánh Chu Công lại làm Hào từ đặt vào dưới ba trăm tám mươi tư hào. Lúc bấy giờ, bản sách Chu Dịch mới thành một bản sách có văn từ, có nghĩa lí.
Nhưng mà văn từ quá giản áo, ý nghĩa quá tinh thâm, học giả ít kẻ thông hiểu. Vậy nên Đức Khổng Tử lại thể ý tùy thì lập giáo của ba Thánh trước mà làm thêm bản Thập Dực.
Dực, nghĩa là cánh con chim.
Mà Đức Khổng thích nghĩa Kinh Dịch nghĩ rằng: Nguyên sách của ba Thánh trước, là đủ hình con chim rồi, bây giờ chỉ tổ chức thêm cho thành lông cánh, thời mới gọi là hoàn toàn. Vì vậy nên gọi bằng sách Dực. Bản ấy gồm mười truyện:
1. VĂN NGÔN
2. SOÁN TRUYỆN
3. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
4. TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
5. HỆ TỪ THƯỢNG TRUYỆN
6. HỆ TỪ HẠ TRUYỆN
7. THUYẾT QUÁI TRUYỆN
8. TỰ QUÁI TRUYỆN
9. TẠP QUÁI TRUYỆN
Tự quái truyện lại chia làm Thượng Truyện,
Hạ Truyện gồm thành mười truyện. Đó là kể những người đã làm Dịch xong rồi.
PHÀM LỆ II
Phải biết nghĩa tên Kinh vì sao mà đặt bằng tiếng Dịch.
Dịch là nghĩa làm sao?
Nghĩa chữ Dịch cốt ở tinh thần.
Trong chữ Dịch bao hàm ba ý nghĩa: bất dịch, giao dịch, biến dịch.
Bất dịch, nghĩa là chẳng thay đổi. Ở trong trời đất, kể dọc là thì gian, kể ngang là không gian. Hễ đã có một vật gì, tất nhiên có một cái chất cố định của vật ấy, có một việc gì, tất nhiên có một lí nhất định của việc ấy.
Lệ như Càn là thiên, thiên là trời, trời thời bao giờ cũng khinh thanh tại thượng. Khôn là địa, địa là đất, đất thời bao giờ cũng trọng trọc tại hạ.
Lại như: Khảm là thủy, thủy là nước, nước thời bao giờ cũng có chất trôi chảy. Li là hỏa, hoả là lửa, lửa bao giờ cũng có tia sáng chói, v.v.
Vậy nên ở trong Kinh Dịch, đã Càn, thời nhất định là ba nét dương, đã Khôn, thời nhất định là ba nét âm; đó là nghĩa bất dịch. Nhưng chân lí ở trong vũ trụ; cái bất dịch ấy, chỉ được một phương diện.
Sách Dịch là bao bọc cả sự lí, thiên địa, vạn vật, không thể chỉ nói bất dịch mà thôi, nên lại phải có hai nghĩa nữa: giao dịch và biến dịch.
Giao dịch nghĩa là trao đổi với nhau, ở trong vạn sự, vạn vật.
Bất dịch là nguyên thể, giao dịch là ứng dụng.
Lệ như: Âm điện giao hoán với dương điện mà sinh điện khí tác dụng; nam tinh giao hoán với nữ tinh mà thành được nhân loại sanh dục. Lí ấy ở trong Dịch học lại càng rõ rệt lắm.
Tức là ba nét dương quẻ Càn giao dịch với Khôn, thành Chấn, Khảm, Cấn.
Ba nét âm quẻ Khôn giao dịch với Càn thành Tốn, Li, Đoài.
Sự vật ở trong thiên địa cổ kim, muốn xét cho cùng nguyên cực ủy, tự thủy chí chung, thời chỉ một phần giao dịch cũng chưa hết được chân lí tác dụng, nên phải có một nghĩa nữa là biến dịch.
Biến dịch nghĩa là biến hóa, thay đổi.
Sự vật gì theo về phần nguyên chất hoặc phần thiên nhiên thời vẫn bất dịch và giao dịch, nhưng đã trải qua khi giao hoán tác dụng rồi, thời tức có biến dịch.
Lệ như gang, chì vẫn là giống cố thể mà bỏ vào lò lửa nấu thời chảy ra nước, hoá thành lưu chất; tằm vẫn là giống nấp nhưng khi đã vào kén làm nhộng, hóa ra bướm, thời thành giống bay.
Nghiên cứu Dịch học, thời cốt yếu nhất là nghĩa biến dịch.
Tức như: dương hào biến ra được âm hào, quẻ Càn biến ra được quẻ Khôn; toàn một bộ sách, không một vạch nào mà chẳng biến dịch được, ấy là nghĩa rất tinh thông ở trong Kinh Dịch đó vậy.
Thầy Trình có câu nói rằng: Dịch chi vi thư, tùy thì biến dịch, dĩ tùng đạo dã.
Nghĩa là: Dịch sở dĩ thành sách ra đó chỉ là cốt ở theo thì biến đổi cho đúng với đạo mà thôi.
Câu nói ấy, chính là lấy nghĩa biến dịch thích chữ Dịch.
Bàn tóm lại, đủ ba nghĩa như trên đây, mới hết được nghĩa chữ Dịch, mà ba chữ nghĩa ấy lại tiếp tục tuần hoàn đẻ ra nhau.
Lệ như: Nguyên chất một người con trai hoặc một người con gái, thời trai nhất định là dương, gái nhất định là âm, thế là bất dịch. Đến khi trai gái giao hợp với nhau mà sinh ra trai hoặc gái, thế là nhân giao dịch mà thành biến dịch, nhưng đã biến dịch rồi, thời trai y nhiên nhất định trai, gái y nhiên nhất định gái. Thế lại là biến dịch mà hoàn lai bất dịch.
Lại như: con tằm hoá ra bướm, thế là biến dịch. Đến khi bướm đẻ ra trứng, trứng nở ra tằm, thế là do biến dịch mà hoàn lại bất dịch. Những nghĩa lệ như thế, ở trong Dịch chẳng bao giờ cùng.
Tức như: ba nét dương quẻ Càn vẫn là ba nét dương; nhưng vì mượn một nét đầu đổi cho Khôn thành ra Chấn.
Mượn một nét giữa đổi cho Khôn thành ra Khảm.
Mượn một nét cuối đổi cho Khôn thành ra Cấn.
Đến khi đã biến hết ba nét rồi thời quẻ Càn thành quẻ Khôn.
Khi đã biến ra Khôn rồi, thì Khôn thành bất dịch. Giải nghĩa chữ Dịch như thế cũng lược lược hiểu qua. Muốn tinh tường sáng suốt thì phải xem ở Kinh văn.
PHÀM LỆ III
Hễ học Dịch tất phải biết chữ Thì (Thời)
Nghĩa chữ Dịch, cốt yếu nhất là biến dịch, mà cũng quy kết ở biến dịch.
Nhân vì Thì có biến dịch nên Dịch lí cũng phải có biến dịch.
Xưa nay ở trong vũ trụ, không gian vẫn không biến dịch, mà thì gian vẫn thường thường biến dịch; một ngày một đêm hai mươi bốn tiếng đồng hồ cho đến một tháng, một năm, một thế kỉ, một vũ trụ, biến hóa thay đổi chẳng chốc phút nào dừng, thì gian hay biến dịch như thế; nên không gian cũng thường thường theo thì gian mà biến dịch.
Lệ như: Thì gian do Đông mà biến ra Xuân, thời không gian thường thấy biến nhiều gió hòa mưa ngọt; thì gian do Hạ mà biến ra Thu, thời không gian thường thấy nhiều mù đen mây trắng; đêm biến ra ngày, thời không gian thường sáng; ngày biến ra đêm, thời không gian thường tối. về phần thiên nhiên đành như thế, thời phần nhân sự cũng phải thế.
Thánh nhân làm sách Dịch dạy người, cốt nhất là tùy thì biến dịch.
Vì nghĩa biến dịch nên người học Dịch phải tinh nghĩa chữ Thì.
Biến dịch mà cho đúng với thì, chính là tinh lí của Kinh Dịch. Đổi cũ mà thay ra mới, phá hoại cái hiện tại mà kiến thiết cái tương lai, nhất thiết nhân sự vô luận hạng người nào,việc nào cũng chỉ đúng thì mà làm thời hay, chưa đúng thì mà làm thời dở.
Trong Kinh Dịch, hễ mỗi một quẻ, tất có thì của quẻ ấy. Công dụng quẻ nào, chỉ làm cho đúng thì của quẻ ấy.
Thầy Thiệu Khang Tiết có nói rằng:
Chu Dịch nhất bộ, khả nhất ngôn dĩ tế chi, viết Thì, nghĩa là: toàn bộ Dịch chỉ một chữ mà trùm bọc hết, là chữ Thì. Vậy chúng ta học Dịch, tất phải hiểu thấu nghĩa chữ Thì.
Thì nghĩa là buổi. Lệ như: buổi trưa thời ăn cơm, buổi đêm thời vào nghỉ.
Thì nghĩa là mùa. Lệ như: mùa Hạ phải mặc áo cát, mùa Đông mặc áo cầu.
Thì nghĩa là giờ. Lệ như: giờ sáng phải mở cửa, giờ tối phải thắp đèn, v.v.
Đoạn này chẳng qua nói đại lược mà thôi, còn nói kĩ, thời xem ở Kinh văn.
PHÀM LỆ IV
Học Dịch tất cần phải biết Dịch số. Toàn bộ Dịch là một bộ sách số học.
Nguyên lúc đầu thánh Phục Hy vạch ra tám quẻ, là bắt chước ở Hà Đồ.
Hà Đồ chỉ là một bức số học, tổng cộng 55 điểm, bày thành số cơ, ngẫu, âm, dương. Cơ là số lẻ thuộc về dương số. Ngẫu là số chẵn thuộc về âm số.
Vậy nên ở trong đồ, các khuyên trắng là thuộc về số cơ, cũng là dương số; các khuyên đen là thuộc về số ngẫu, cũng là âm số.
Bây giờ ta hãy theo tượng trong đồ mà xét cho ra nguyên lí của vũ trụ.
Nguyên lúc đầu chưa có trái đất, thời chỉ có không khí ở giữa không gian. Ấy tức là Thiên, mà chúng ta gọi bằng trời, nhưng ở trong không khí mà gọi bằng trời đó, hàm súc có hai khí:
Giả thiết ra danh từ mà gọi, thời bằng nhất âm, nhất dương. Âm, dương kết hợp với nhau mới ngưng tụ thành hình mà có trái đất, ấy tức là Địa, mà chúng ta gọi bằng đất. Đã có trái đất, tức khắc đồng thì ở trong khoảng trời đất có luôn tứ tượng (thủy, hỏa, mộc, kim) cũng gọi bằng Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm.
Vậy nên Đức Khổng có nói rằng: „Thái Cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái‟.
Thánh Phục Hy sở dĩ vạch bát quái, chỉ nhân ở lí số ấy mà vạch ra. Vậy nên chúng ta muốn hiểu được nguyên lí của bát quái, trước phải tham khảo ở số Hà Đồ.
BẢN ĐỔ HÀ ĐỔ 55 ĐIỂM
Xỉn kê rõ như sau này: Phương vị Hà Đồ bày làm năm bộ: Bắc, Nam, Đông, Tây, Trung.
Phương vị phía Bắc là nhất lục thủy. Vì lúc đầu ở trong trời đất có Thủy trước hết nên lấy số thứ nhất làm số Thiên sinh Thủy.
Khi đã có Thủy rồi, thời bao nhiêu nhiệt chất ở trong địa cầu cũng đồng thì phát hiện, tức là Hỏa. Vậy nên trong đồ số vị phía Nam là nhị thất hỏa.
Đã có Thủy, Hỏa rồi, thời đồng thời cũng có Mộc, tức là loại thực vật sinh ở trên địa cầu. Vậy nên trong đồ số vị phía Đông là tam bát mộc.
Đồng một thì ấy, bao nhiêu những chất ngưng kết kiên cố cũng ở trong địa cầu nảy nở ra tức là loài Kim, mà chúng ta gọi bằng khoáng chất. Vậy nên trong đồ số vị phía Tây là tứ cửu kim.
Nhưng đồng thì Thủy, Hỏa, Mộc, Kim tất phải dựa vào địa cầu mới phát sinh được, mà tiếp tục bất cùng, nên bốn giống kia lại phải quán thuộc vào Thổ, mà lại Thiên số ngũ, Địa số ngũ, phối hợp với nhau mà thành thập. Vậy nên số vị trong đồ đặt Ngũ thập thể ở trong cung.
Kể số thời nhất, tam, ngũ, thất, cửu là số cơ, mà thuộc về dương gọi bằng thiên số. Nhị, tứ, lục, bát, thập là số ngẫu mà thuộc về âm gọi bằng địa số.
Thiên số ngũ, địa số thập, hai số ấy hợp với nhau mà thành Thổ. Tạo thỉ vạn vật, nhờ có số ấy; chung thành vạn vật, cũng nhờ có số ấy.
Sở dĩ ngũ, thập thổ ở chính giữa đồ, mà ngũ, thập thổ tức là trung tâm điểm của công dụng tạo hóa. Số năm điểm là số sinh Thổ; số mười điểm là số thành Thổ.
Muốn biết rõ công dụng của Thổ, thời tất phải lấy số ngũ mà phối hợp với bốn số kia.
Như số Nhất, là số sinh Thủy; Nhất phối với Ngũ là Lục, tức là số Lục thành Thủy.
Số Nhị là số sinh Hỏa, Nhị phối với Ngũ là Thất, tức là số Thất thành Hỏa.
Số Tam là số sinh Mộc, Tam phối với Ngũ là Bát, tức là số Bát thành Mộc.
Số Tứ là số sinh Kim, Tứ phối hợp với Ngũ là Cửu, tức là số Cửu thành Kim.
Nói tóm lại, nguyên lí của trời đất, hóa sinh vạn vật, đồng thời thì chỉ có nhất âm, nhất dương. Nhất sinh lưỡng, lưỡng gia lưỡng thành tứ, tứ gia tứ thành bát, bát gia bát thành bát bát lục thập tứ, ấy tức là tinh ý của thánh nhân mượn số cho rõ lí, nhưng lại phải mượn tượng cho rõ số. Vậy nên trong Dịch học lại phải xét đến tượng.
PHÀM LỆ V
Nghĩa chữ Tượng ở trong Dịch học như thế nào?
Nguyên lí của vũ trụ là một giống vô hình, không thể mô tả được, mà dẫu mô tả được, cũng chẳng bao giờ cùng. Muốn biểu thị chân lí, tất nhiên phải mượn những giống hữu hình, mà chỉ diễn cho ra tượng nào vào lí ấy.
Lệ như: Càn tượng là Trời, Khôn tượng là Đất, Chấn tượng là Sấm, Tốn tượng là Gió, v.v. Nhưng đó chẳng qua giả thiết ra cái hữu hình để mô tả lí vô hình, cũng như phép trừu tượng ở trong học thuyết đời bây giờ. Nếu học Dịch mà chỉ cầu nệ vào tượng mà chẳng nghiên cứu đến tinh thần thời cũng chẳng phải là nhà tinh thông Dịch học.
PHÀM LỆ VI
Lại phải biết phương vị và thứ tự ở các đồ.
BẢN ĐỒ BÁT QUÁI PHỤC HY
Một là Đồ Phương Vị Bát Quái của Phục Hy, đồ này là lấy tám quẻ mà hình dung đại tạo hóa của thiên địa.
Càn đóng phía Nam, là tượng trời ở trên;
Khôn đóng phía Bắc, là tượng đất ở dưới (cái trên, dưới đó là theo hình người ta đứng mà nói, chứ chẳng phải phương vị nhất định của trời đất);
Li ở phía Đông, là tượng mặt trời sinh ở phương Đông;
Khảm ở phía Tây, là tượng mặt trăng sinh ở phương Tây;
Chấn ở phía Đông-Bắc, là tượng sấm động ở phương Đông-Bắc;
Tốn ở phía TâyNam, là tượng gió ở phương Tây-Nam;
Cấn ở phía Tây-Bắc, là tượng núi ở phương Tây-Bắc;
Đoài ở phía Đông-Nam, là tượng nước chằm đổ về phương Đông-Nam.
Lấy số mà kể thời: Càn nhất, Đoài nhị, Li tam, Chấn tứ, Tốn ngũ, Khảm lục, Cấn thất, Khôn bát.
Lấy tượng mà hình dung thời Càn là thiên, Khôn là địa, Chấn là lôi, Tốn là phong, Khảm là thủy, Li là hỏa, Cấn là sơn, Đoài là trạch. Từ Càn nhất đến Chấn tứ đi thuận; từ Tốn ngũ đến Khôn bát đi nghịch.
Hai là Đồ Thứ Tự Sáu Mươi Tư Quẻ của Phục Hy, cũng là đồ ngang.
Đồ này kể dưới kể lên, dưới cùng đồ trắng không là tầng đầu hết, để hình dung nguyên thỉ của vũ trụ, gọi bằng Thái Cực; lên tầng thứ hai là Thái Cực mà sinh Lưỡng Nghi (Lưỡng Nghi là nhất âm, nhất dương); lên tầng thứ ba là Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng (Tứ Tượng là: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm); lên tầng thứ tư là Tứ Tượng sinh Bát Quái; lên tầng thứ năm là Bát Quái gia gấp thành thập lục; lên tầng thứ sáu là thập lục gia gấp thành tam thập nhị; lên tầng thứ bảy là tam thập nhị gia gấp thành lục thập tứ; lên tầng thứ tám là kể rõ tên quẻ, mà mỗi một quẻ mẹ nguyên ba nét, gia vào tám quẻ con, thành quẻ sáu nét. Cộng thành bát bát lục thập tứ quái.
Lệ như: Quẻ Càn số nhất, nguyên ba nét ở dưới lại chồng thêm quẻ Càn ba nét ở trên thành quẻ Càn sáu nét, là Bát Thuần Càn.
Quẻ Càn nhất ở dưới chồng thêm vào Đoài nhị ở trên, thành quẻ Trạch Thiên Quải (thượng Đoài, hạ Càn).
Gia Li tam vào trên Càn nhất thành quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu.
Gia Chấn tứ vào trên Càn nhất thành quẻ Lôi Thiên Đại Tráng.
Gia Tốn ngũ vào trên Càn nhất thành quẻ Phong Thiên Tiểu Súc.
Gia Khảm lục vào trên Càn nhất thành quẻ Thủy Thiên Nhu.
Gia Cấn thất vào trên Càn nhất thành quẻ Sơn Thiên Đại Súc.
Gia Khôn bát vào trên Càn nhất thành quẻ Địa Thiên Thái.
Đó là do một quẻ Càn mẹ mà đẻ ra tám con, mà cứ y thứ tự Càn nhất, Đoài nhị, Li tam, Chấn tứ, Tốn ngũ, Khảm lục, Cấn thất, Khôn bát, thuận tự mà vẽ ra.
Ở trong hàm có ý thần diệu là: Đầu hết quẻ Càn trên, Càn dưới, cuối cùng quẻ Khôn trên, Khôn dưới, để tỏ rõ vạn sự vạn vật ở trong lưỡng gian tất thảy thu nạp vào trong nhất âm, nhất dương mà làm nên công dụng. Theo như trong Đồ Vị, tuy có trước sau nhưng kỳ thực đồng trong một lúc mà nảy ra bấy nhiêu tướng số, chẳng phải tuyệt đối có trước sau.
Ba là Đồ Phương Vị Sáu Mươi Tư Quẻ của Phục Hy.
Đồ này chia làm hai Đồ. Đồ tròn bọc ở ngoài, Đồ vuông đặt ở trong, gọi bằng học lí thuộc về tiên thiên. Tầng thứ trong quẻ thời cũng y như Đồ ngang, nhưng có một đạo lí rất thâm thúy là miêu tả lí âm, dương tiêu, trưởng. Âm, dương tuy tác dụng chung nhau, nhưng thường có phía tiêu, phía trưởng.
Nhất Dương sinh ở quẻ Phục, từ đó trưởng lần lần, trưởng đến cùng cực thời là quẻ Càn, là quẻ Thuần Dương.
Nhất Âm sinh ở quẻ Cấu[1] , từ đó trưởng lần lần, trưởng đến cùng cực thời là quẻ Khôn, là quẻ Thuần Âm.
Trong Đồ tròn đi vòng bên tả là ba mươi hai quẻ, từ quẻ Phục đến quẻ Càn là miêu tả lí tiêu trưởng thuộc về phần Dương.
Đi vòng bên hữu là ba mươi hai quẻ, từ quẻ Cấu[2] đến quẻ Khôn, là miêu tả lí tiêu trưởng thuộc về phần Âm.
Quẻ Càn liên tiếp [là] quẻ Cấu, thời biết rằng: Dương cực thời Âm sinh.
Quẻ Khôn liên tiếp [là] quẻ Phục, thời biết rằng: Âm cực thời Dương sinh, âm, dương tuần hoàn với nhau, không giây phút nào ngớt. Chỉ tranh nhau một tí là: bên này trưởng một phân thời bên kia tiêu một phân; bên này tiêu một phân thời bên kia trưởng một phân.
Hiểu được [các] quẻ ấy, thời cuộc đời thịnh suy, việc người lành dữ, nhỏ từ nhất thân, nhất gia, lớn đến nhất quốc, nhất thế giới, cũng chỉ là lẽ ấy mà thôi.
Đồ vuông, bốn lớp dưới từ quẻ Phục đến quẻ Càn, bốn lớp trên từ quẻ Cấu[3] đến quẻ Khôn, cũng ý tứ như Đồ tròn.
Hễ đồ thánh Phục Hy thường hay kể ngược, từ dưới kể lên, nghĩa là nghịch số, là theo hiện tượng tự nhiên ở trời đất. Từ trên mặt đất kể lên thời vô cùng, từ dưới lòng trời kể xuổng thời hữu tận. Dịch lí là vô cùng nên theo về nghịch số.
BẢN HOÀNH ĐỒ SÁU MƯƠI TƯ QUẺ
BẢN ĐỒ THỨ TỰ BÁT QUÁI CỦA VĂN VƯƠNG
Bốn là Đồ Thứ Tự Tám Quẻ của Văn Vương.
Đồ này từ trên kể xuống là thuận số.
Tầng thứ nhất, trên hết phía tả là quẻ Càn, ba nét Thuần Dương là cha, tầng thứ nhì, đầu hết là quẻ Chấn, nguyên thể là Khôn, vì hào Sơ quẻ Càn thay vào thành quẻ Chấn là con trai đầu.
Thứ hai là quẻ Khảm, nguyên thể là Khôn, vì hào chính giữa quẻ Càn thay vào thành quẻ Khảm là con trai giữa.
Thứ ba là quẻ Cấn cũng nguyên thể là Khôn, vì hào thượng quẻ Càn thay vào thành quẻ Cấn là con trai út. Đó là Khôn giao dịch với Càn mà sinh ra được ba trai, là Dương phải nhờ có Âm đó vậy.
Tầng thứ nhất, trên hết phía hữu là quẻ Khôn, ba nét Thuần Âm là mẹ. Tầng thứ nhì, đầu hết là quẻ Tốn, nguyên thể là Càn vì hào sơ quẻ Khôn thay vào thành quẻ Tốn là con gái đầu.
Thứ hai là quẻ Li, cũng nguyên thể là Càn, vì hào chính giữa quẻ Khôn thay vào thành quẻ Li là con gái giữa.
Thứ ba là quẻ Đoài, cũng nguyên thể là Càn, vì hào thượng quẻ Khôn thay vào thành quẻ Đoài là con gái út. Đó là Âm phải nhờ có Dương đó vậy. Như các đoạn trên kia, là kể qua các đồ thuyết, còn đoạn dưới này mới kể về cương lĩnh Dịch học, tức là phàm lệ cuối cùng.
PHÀM LỆ CUỐI CÙNG: DỊCH THUYẾT CƯƠNG LĨNH
Các đoạn trên đây chỉ kể qua về Tượng và Số. Bây giờ kể qua về phần Từ (Văn từ).
1. Phải biết chia loài về nghĩa chữ Âm, chữ Dương. Dương là: Nam, cương, thiện, đại, chính, thành, thực, quân tử, phú, quý. Âm là: Nữ, nhu, ác, tiếu, tà, ngụy, hư, tiểu nhân, bần, tiện.
2. Phải biết nhân quả ở trong các chiêm từ.
Lệ như: Cát nghĩa là tốt, cũng là lành; hung nghĩa là xấu, cũng là dữ; hối nghĩa là phàn nàn, cũng là ăn năn; lẫn nghĩa là xấu hổ lắm. vô cựu có ba nghĩa: Một là không tội lỗi, hai là không trách tội lỗi được ai, ba là không biết đổ tội lỗi vào đâu. Năm chữ ấy, thảy thuộc về phần kết quả, nhưng chỉ một chữ cát là kết quả về phần hay.
Ba chữ hung, hối, lẫn thảy kết quả về phần dở. Hung nặng hơn lẫn, lẫn nặng hơn hối. Hối là trung gian của kết quả dở, lẫn với hung là cuối cùng của kết quả dở.
Duy chữ vô cựu thời thường không hay, không dở, mà sở dĩ tạo nhân mấy chữ ấy, thời cốt yếu ở trung hay bất trung, chính hay bất chính. Trung, chính thời thường được cát; bất trung, bất chính thời thường đến nỗi hung, hối, lẫn, mà lại trọng yếu nhất là chữ trung.
Ở trong sáu hào, chia làm hai quẻ.
Một là Nội Quái, cũng là Hạ Quái, thời lấy hào Nhị làm trung.
Hai là Ngoại Quái, cũng là Thượng Quái, thời lấy hào Ngũ làm trung.
Chữ trung chính là tạo nhân ra chữ cát, mà chữ chính cũng cần lắm nghĩa trong mỗi quẻ sáu hào, thành ra sáu vị.
Hào sơ, hào tam, hào ngũ là hào dương vị.
Hào nhị, hào tứ, hào thượng là hào âm vị.
Hễ đã dương vị, thời phải dương hào ở vào; hễ đã âm vị, thời phải âm hào ở vào, thế là đắc chính.
Nếu âm hào mà ở vào dương vị, dương hào mà ở vào âm vị, thế là bất chính.
Hễ những hào đã bất chính mà lại bất trung, là tạo nhân sinh ra hung, hối, lẫn.
Nói tóm lại, tất thảy các lệ như trên, chỉ nói qua đại cương Dịch học mà thôi.
Nhưng Dịch lí biến hóa vô cùng, xin học giả phải hiểu thấu Kinh văn, mà tìm tòi cho ra chân lí, thời những lệ như trên, cũng chưa phải ấn định được.
CHU DỊCH CHÍNH VĂN DIỄN GIẢI
CHU DỊCH THƯỢNG KINH
Bây giờ thích vào chính văn của Kinh.
Kinh có thượng, hạ, hai quyển.
Ở trước, khi chưa có văn tự thời chỉ có Quái hào. Sau khi đã có Quái hào rồi mới có Kinh văn.
Vậy nên khi chưa thích vào Kinh văn, trước phải giải thích ba lí do này:
Một là: Lí do sở dĩ có tám quẻ, và lại mỗi quẻ có ba hào.
Hai là: Lí do sở dĩ mỗi quẻ thành ra có sáu hào.
Ba là: Lí do sở dĩ có tám quẻ và sáu mười tư quẻ, ba trăm tám mười tư hào.
Lí do như thế này: Nguyên lúc dầu Thánh Phục Hy thoạt thấy được lẽ vũ trụ tạo hóa, chỉ có nhất âm, nhất dương. Vậy nên vạch làm một nét cơ (lẻ), cũng là một nét ngang liền, tức là nét dương; lại vạch ra một nét ngẫu (chẵn), cũng là hai nét ngang đứt, tức là nét âm. Vạch xong hai nét rồi, lại thấy được ở trong vũ trụ, phải có thiên, địa, nhân mới đủ tam tài mà cũng mổi thành vũ trụ. Vì muốn cho đủ tam tài, thời phải có âm có ba nét, dương có ba nét. Vạch xong hai quẻ ba nét ấy rồi, thời thấy được quẻ ba nét Thuần Dương là Càn, quẻ ba nét Thuần Âm là Khôn.
Khi vạch xong hai quẻ Càn, Khôn rồi, lại thấy được ở trong vũ trụ chẳng bao giờ có dương mà sinh, cũng chẳng bao giờ độc âm mà thành. Nếu chỉ hai quẻ Thuần Dương, Thuần Âm mà thôi, thời không thể thành được vũ trụ nên phải vạch thêm sáu quẻ, tức là dương giao dịch với âm, thành ra Tốn, Li, Đoài; âm giao dịch với dương, thành ra Chấn, Khảm, Cấn. Sáu quẻ ấy cũng mỗi quẻ ba nét.
Vạch xong tám quẻ ba nét rồi, lại thấy được vạch dưới là địa, vạch giữa là nhân, vạch trên là thiên. Ba vạch tức là tượng tam tài, nhưng mà mỗi tài, tất phải đủ nhất âm, nhất dương mới được. Nếu chỉ quẻ ba nét mà thôi cũng không thể thành được vũ trụ, vậy nên mỗi nhất phải gia vào nhất thành lưỡng, tam, cái lưỡng thời thành lục.
Bây giờ lấy tám quẻ mẹ, tức là quẻ nguyên đầu ba nét, mà mỗi mẹ gia vào tám con, thành bát bát lục thập tứ. Sở dĩ toàn bộ Dịch có sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào. Khi đã đủ mỗi quẻ sáu hào rồi, thời thấy hai hào đoạn dưới (hào Sơ, hào Nhị), là tài địa, hai hào đoạn giữa (Tam, Tứ) là tài nhân, hai hào đoạn trên (Ngũ, Thượng) là tài thiên, như thế thời tam tài mới đủ, mà mỗi tài hai nét, tất có nhất cơ, nhất ngẫu.
Lệ như: Sơ là số cơ, Nhị là số ngẫu, Tam là số cơ, Tứ là số ngẫu, Ngũ là số cơ, Thượng là số ngẫu. Cơ tức là dương số, là ngụ ý nhất dương; ngẫu tức là cm số, là ngụ ý nhất Lm. Vì mỗi quẻ có sáu hào, mà tam tài mới định. Vạch xong quẻ sáu hào rồi mới chia ra: ba hào đoạn dưới làm Hạ Quái, với Nội Quái; ba hào đoạn trên làm Thượng Quái, với Ngoại Quái, sở dĩ phải chia ra như thế, là vì Dịch lí bao bọc cả thiên đạo và nhân sự. Nói về thiên đạo tất phải có thỉ, có chung, nói về nhân sự, tất phải có thượng, hạ, nội, ngoại. Vậy nên ở trong sáu hào, phải chia ba hào làm Hạ Quái, và Nội Quái; ba hào làm Thượng Quái và Ngoại Quái. Các lí do trên đây, quan hệ nhân sự cát hung rất nhiều. Dịch lí sở dĩ tùy thì biến dịch cũng là vì thế.
01. QUẺ BÁT THUẦN CÀN
Kiền trên; Kiền dưới Quẻ này là quẻ Bát Thuần Càn,
Càn hạ cũng là Nội Càn, Càn thượng cũng là Ngoại Càn.
Quẻ này sáu nét, tất thảy là nét dương, là tượng về thể trời, mà lại hoàn toàn thuộc về tính cương kiện nên đặt tên quẻ bằng Càn. Ba nét dưới là Càn hạ cũng là Nội Càn, ba nét trên là Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Nguyên Dịch của Phục Hy chỉ có ngần ấy. Từ đây sắp xuống là lời Soán của Văn Vương.
SOÁN TỪ: CÀN, NGUYÊN, HANH, LỊ, TRINH
Soán, nghĩa là đoán. Bởi vì Văn Vương thấy được Quái hào của Phục Hy mà nghĩ rằng: Nếu chỉ thế mà thôi, thời sợ học giả chẳng hiểu được tinh lí diệu dụng của quẻ. Vậy nên làm lời Soán để phân đoán minh bạch ý nghĩa trong quẻ. Sáu mươi tư quẻ, hễ xem lời Soán, tất thảy có thể suy được. Bây giờ, theo chữ một mà thích nghĩa lời Soán quẻ này:
Càn, nghĩa là Thuần Dương cực kiện;
Nguyên nghĩa là đầu hết, cũng là lớn;
Hanh nghĩa là thông thái, cũng là thuận tiện;
Lị nghĩa là thỏa thích, tiện lợi, cũng là nên, là phải;
Trinh nghĩa là chính, cũng là bền chặt cho đến cuối cùng.
Bây giờ lại thích suốt tuyền Soán từ, ý bảo rằng: Quẻ Càn này in như tính tình của trời, hoàn toàn dương cương, vả lại trung chính. Tài đức mà cũng được như Càn, thời làm việc gì cũng có thể được to lớn, thông thái, lị tiện, thuận thích mà lại kiên cố giữ chính cho đến lúc thành thục, mỹ mãn.
Nói tóm lại, Nguyên là lúc đầu sinh ra người, mà cũng là lúc bắt đầu làm việc. Người có bản chất rất tốt, mà khi bắt đầu làm việc, có chủ nghĩa rất hay, mục đích rất tốt, tức là Nguyên. Đã đúng được cho Nguyên thời trải qua trung gian, tất nhiên tấn hành cũng được Hanh, Lị, mà đức Nguyên ấy lại tất phải trì thủ vững vàng cho đến lúc kết quả cuối cùng, tức là Trinh.
Nay lại đặt một lẽ thí dụ cho dễ hiểu. Ví như một giống cây, hạt mộng rất tốt, rất chắc chắn, gieo xuống đất tức khắc nứt ra măng mậm, ấy là Nguyên. Trung gian xây ngành, rậm lá, ngậm nụ, nở hoa, ấy là Hanh, Lị. Đến lúc kết thành trái, trái chín, hạt ở trong trái, in như hạt giống nó khi xưa, ấy là Trinh. Hạt nó đem làm giống gieo xuống đất, lại y nhiên là Nguyên, bốn đức ấy xây vòng chung thỉ.
Đã Nguyên, tức nhiên Hanh, Lị; đã đến Hanh, Lị tức nhiên đến Trinh. Việc lớn như thế, việc nhỏ cũng như thế, làm việc một thân, một gia như thế, làm việc một quốc, một thiên hạ, một xã hội cũng như thế.
Nói trái lại, nếu bản chất đầu đã bất trung, bất chính, chủ nghĩa đầu đã chẳng tốt, thời tất nhiên bất hanh, bất lị, mà cuối cùng bất trinh. Đó chẳng qua theo giữa mặt chữ mà thích, còn thâm ý của thánh nhân, thời nhờ ở học giả gia tâm suy nghĩ. Trên đây là Soán từ của Văn Vương. Từ đây sắp xuống là Soán Truyện của Khổng Tử. Vì Đức Khổng thấy lời Soán của Văn Vương ý nghĩa bao hàm quá chừng rộng, đạo lí quá chừng sâu, mà văn từ lại quá chừng giản, sợ học giả không hiểu. Đã không hiểu, thời Dịch lí càng thêm lờ mờ. Ngài mới làm ra Soán Truyện, cốt để phát huy lời Soán của Văn Vương. Vậy nên đầu chương có hai chữ Soán viết (Soán Truyện, nghĩa là truyện để giải thích lời Soán).
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Đại taì Càn nguyên, vạn vật tư thỉ, nãi thống thiên. Vân hành vũ thí, phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thỉ, lục vị thì thành, thì thừa lục long dĩ ngự thiên. Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lị trinh, thủ xuất thử vật, vạn quốc hàm ninh.
彖曰: 大哉乾元, 萬物資始, 乃統天. 雲行雨施, 品物流形. 大明終始, 六位時成, 時乘六龍以 御天. 乾道變化, 各正性命, 保合太和, 乃利貞, 首出庶物,萬國咸寧.
Truyện Soán này chia làm năm tiết để thích cho rõ ý nghĩa năm chữ: Càn, Nguyên, Hanh, Lị, Trinh. Nguyên năm chữ ấy theo lời của Văn Vương, thời chỉ nói tóm về đức Càn, với sự nghiệp về đức Càn. Khổng Tử mới phân tách bốn chữ ra làm bốn đức, mà Càn thời bao quát cả bốn đức ấy.
1. Tiết thứ nhất Thích riêng nguyên về chữ Nguyên Soán viết:
Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thỉ, nãi thông thiên.
Nghĩa Soán rằng: Lớn vậy thay, đức Nguyên của Càn, bao nhiêu sinh vật ở trong vũ trụ, tất thảy nhờ đức Nguyên ấy mà bắt đầu nảy nở ra; đức Nguyên ấy mới thực là thông quát hết thiên đạo.
2. Tiết thứ hai. Thích nghĩa về chủ Hanh.
Vân hành vũ thí, phẩm vật lưu hình.
Nghĩa là: Khi vạn vật đã bắt đầu sinh dục rồi, thời nhờ nguyên khí của Càn, càng ngày càng phát triển, làm ra mây mà có biến hóa, làm ra mưa mà khắp nhuần thấm, bao nhiêu phẩm vật, nào giống phi, giống tiềm, giống động, giống thực, giống thai sinh, giống noãn sinh, giống hóa sinh, tất thảy thành hình thành sắc, mà trưởng dục mãi mãi cho đến vô cùng. Đó là thấy được đức Hanh của Càn.
Hai tiết trên đây chỉ thích Nguyên, Hanh thuộc về phần thiên đạo. Còn về phần nhân sự, cũng có Nguyên, Hanh, nhưng mà nhân sự quá phiền tạp, nhỏ từ thân một người, cho đến những việc gì cũng có Nguyên, Hanh ở trong việc ấy, không thể kể ra hết được.
Vậy nên Khổng Tử chỉ lấy cách trừu tượng mà thích lẽ Nguyên, Hanh của nhân sự, tức là một bậc người có đức, trời được ngôi trời, chính là một bậc thánh nhân.
3. Tiết thứ ba
Đại minh chung thỉ, lục vị thì thành, thì thừa lục long, dĩ ngự thiên.
Cứ theo chữ mà thích nghĩa, thời nghĩa là: Bậc thánh nhân có đức sáng suốt cả chung cả thỉ, thấy được sáu hào vị quẻ Càn, mỗi thì một hào thời thành một vị, thánh nhân mới thuận thì trời mà hành đạo, thì nên ẩn mà ẩn, thì nên hiện mà hiện, thì nên tịnh mà tịnh, thì nên động mà động, in như cỡi sáu con rồng mà thông ngự khắp cả vùng trời.
Tiết này bốn câu: cộng mười lăm chữ, nhưng ý tứ thâm diệu cốt ở chữ thì.
Bởi vì sáu hào quẻ Càn, hào nào cũng là thể Càn cả nên gọi bằng lục long, nghĩa là biến hóa bất trắc, thâm diệu vô phương nên phải mượn chữ lục long để hình dung sáu hào vậy. Học giả chớ thấy chữ long mà nhận rằng con rồng thật, sáu rồng chỉ là sáu hào Dương mà thôi, nhưng mà sáu hào xử vào sáu địa vị, vị đã khác nhau, nhân đó mà thì cũng khác nhau. Duy thánh nhân biết theo thì mà xử cho đúng vị, lại hay nhân vị mà chuyển di được thì, ấy là lục vị thì thành. Tiết thứ tư sắp xuống thời thích góp hai chữ Lị, Trinh.
4. Tiết thứ tư
Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lị, trinh.
Thích tóm cả bốn câu, thời nghĩa là: Đạo Càn biến hóa, khiến cho những vật gì thảy chính được tính mệnh mà lại gìn giữ được nguyên khí thái hòa, như lúc đầu trời đã phú cho. Thế mới là lị, trinh.
Bây giờ lại thích riêng từng câu cho rõ ý nghĩa:
Càn đạo biến hóa, nghĩa là: Đạo Càn là một giống rất hoạt động, không phải là giống chết. Ví như, mùa Hạ dương rất nóng, bỗng chốc mà mùa Thu mát; mùa Đông đương rất rét, bỗng chốc mà mùa Xuân ấm. Lại như, giống ở trong trứng chẳng bao lâu mà thấy nó hay bay, giống ở dưới nước chẳng bao lâu mà thấy nó hay nhảy, tất thảy những tình trạng biến hóa đó, rặt là lẽ tự nhiên của đạo trời, đạo trời chính là đạo Càn. Vậy nên nhớ rằng: Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh nghĩa là: Đạo Càn tuy hay biến hóa nhưng mà kết quả thời mỗi vật gì cứ thành ra vật ấy, trời đã phú cho nó cái lí vô hình lại phú cho nó cái chất hữu hình, nó cứ giữ được cái lí vô hình thời thành ra tính. Tỷ như: trâu bò thời hay ăn cỏ, hùm beo thời hay ăn thịt, nó lại được cái chất hữu hình mà làm cái mệnh của nó, tức là sinh mệnh, như tục ta gọi người bằng nhân mệnh. Bởi vì nhờ có công dụng của đạo Càn biến hoá mà vật nào, vật nấy được thỏa thích cái tính, lại hoàn toàn được cái mệnh. Tỷ như: Trâu không bao giờ biến ra cọp, cọp không bao giờ biến ra trâu, v.v. Ấy là các chính tính mệnh.
Bảo hợp thái hòa nghĩa là: Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, thế thời vật nào, vật nấy, cũng được đến lúc hoàn thành, nhưng sở dĩ được hoàn thành thời gốc nhờ ở lúc nguyên thỉ có hai khí âm, dương hòa hợp ngưng kết với nhau mới sinh dục được vạn vật, nguyên khí ngưng kết đó, tức là thái hòa.
Thái hòa là cái nguyên thỉ tạo nhân, tạo nhân thế nào, thời kết quả y nhiên thế ấy; tạo nhân của vạn vật, vì có Thái Hòa, thời kết quả của vạn vật cũng chỉ bảo hợp lấy thái hòa mà thôi. Thí dụ như: Loài người lúc đầu sở dĩ kết thai thành hình là vì có âm dương hòa hợp mà kết thành thai. Đương lúc đầu kết thai, tức khắc có bộ tim con đỏ, bộ tim con đỏ đó tức là thái hòa ngưng kết mà nên. Tới ngày sinh trưởng ra đời, chống chọi với hoàn cảnh, tạo thành nên sự nghiệp, kết quả chỉ giữ cho trọn vẹn bộ tim con đỏ mà thôi.
Thầy Mạnh có câu rằng:
Đại nhân giả bất thất kỳ xích tử chi tâm
大人者, 不失其赤子之心者也, nghĩa là: Làm một người lớn cũng chỉ vì không bỏ mất bộ tim con đỏ mà thôi.
Bởi vì xích tử chi tâm tức là nhân tâm, mà nhân tâm chính là kết tinh của thái hòa. Câu nói thầy Mạnh có thể phát minh được nghĩa câu Bảo hợp thái hòa đó vậy. Trên kia đã thích lị, trinh về phần Càn, bây giờ lại nói lị, trinh về phần nhân sự. Mà nói lị, trinh về phần nhân sự, tất phải chứng vào thánh nhân.
5. Tiết thứ năm
Thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm ninh, nghĩa là: Đấng thánh nhân có đức, có tài hơn hết ức muôn vật, thời trong lúc ấy phong hành hưởng ứng, vạn quốc tất thảy nghe theo mà nước nào cũng tương an vô sự. Thế thời vạn quốc hàm ninh là lị, trinh của thánh nhân đó vậy.
Bây giờ có một câu hỏi: Cứ như lời Đức Khổng thích Soán Từ, thời té ra Nguyên, Hanh, Lị, Trinh duy thánh nhân mới được hay sao?
Không phải thế, Nguyên, Hanh, Lị, Trinh là tứ đức của Càn, thuộc về loài người tức là tứ đoan:
Nhân là đức Nguyên,
Lễ là đức Hanh,
Nghĩa là đức Lị,
Trí là đức Trinh.
Bản thể lòng người, vẫn ai nấy cũng có tứ đoan, chính là ai nấy cũng có tứ đức.
Thầy Tử Tư có nói rằng:
Thất phu thất phụ khả dĩ dữ tri yên, khả dĩ dữ năng yên
匹夫匹婦可以 與知焉, 可以與能焉 là nghĩa như thế.
Nhưng Đức Khổng sở dĩ chuyên nói về thánh nhân là có hai lẽ:
Duy thánh nhân mới giữ được quán triệt thỉ chung, mà tứ đức của bản tâm ngày càng viên mãn.
Hai là: Vì tất được thánh nhân có đức, có vị, thời Nguyên, Hanh, Lị, Trinh lại đạt ở cực điểm.
Lại có câu hỏi nữa: Người có Nguyên, Hanh, Lị, Trinh, chứ như loài vật có hay không?
Câu hỏi đó theo như ý Soán Truyện, thời dễ trả lời lắm. Nguyên, Hanh, Lị, Trinh ở loài người với Nguyên, Hanh, Lị, Trinh ở loài vật, lí vẫn đồng mà hình tượng có khác nhau.
Tỷ như: Cây lúa khi gieo mộng là Nguyên, khi thành cây mạ là Hanh, khi ngậm sữa thành bông là Lị, khi kết quả thành thục là Trinh. Cứ lẽ ấy mà suy, thời giống gì cũng có Nguyên, Hanh, Lị, Trinh cả.
Trên đây là thích Soán Truyện xong rồi, bây giờ lại thích vào Tượng Truyện. Tượng Truyện là ý Đức Khổng muốn cho người học Dịch gặp quẻ nào cũng thể nhận được nghĩa quẻ ấy, cốt cho hữu ích với tấm thân, mà chẳng phải đọc suông ở đầu miệng nên Ngài làm ra Tượng Truyện.
Tượng Truyện có Đại Tượng, Tiểu Tượng.
Thích tượng riêng từng hào gọi bằng Tiểu Tượng; thích tượng chung của một quẻ gọi bằng Đại Tượng.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.
象曰:
天行健, 君子以自強不息.
Đây là thích tượng quẻ Càn.
Lời Tượng Truyện của Đức Khổng nói rằng: Quẻ sáu hào dương này là quẻ Càn, Nội Càn, Ngoại Càn là cương kiện rất mực.
Xem quẻ ấy thời biết được trời đi rất mạnh.
Theo độ chu thiên, thời mỗi ngày chạy giáp vòng trời một lần, không giây phút nào nghỉ. Quân Tử học Dịch nên bắt chước trời, học như cách trời đi mà tự cường bất tức.
Tự cường nghĩa là mình tự đốc xúc lấy mình, dưỡng thành một sức mạnh ở giữa mình mà chẳng chờ ai giúp đỡ, ấy là nghĩa chữ tự cường.
Chẳng những một thân nên như thế, mà một gia, một quốc, một xã hội, một thế giới, cũng nên như thế.
Bởi vì mình có tự cường, thời cường ấy mới là cường của mình. Nếu nhờ ai mà cường, thời cường ấy là cường của ai, chứ chẳng phải cường của mình.
Đức Khổng sở dĩ ở tượng đầu Kinh mà yết ra hai chữ tự cường dạy cho những người học quẻ Càn, mà lại xem vào hai chữ bất tức, lại càng thâm thiết lắm.
Bất tức nghĩa là chẳng nghỉ, là bảo người đã tự cường tất phải từ trẻ tới già, già tới chết, chẳng bao giờ gián đoạn. Nếu có gián đoạn là mất lực tự cường rồi. Đã mất lực tự cường thành ra học quẻ Càn mà chỉ thấy có sáu nét ngang dài, thời có ích gì. Đó là thâm ý của Đức Khổng làm Tượng Truyện vậy. Từ đây sắp xuống là thích Hào từ của Thánh Chu Công.
Hào từ nghĩa là: Lời đoán mỗi hào. Mỗi một quẻ có sáu hào. Vạch quẻ thời vạch từ dưới vạch lên, nên hào vạch đầu hết là hào Sơ, vạch chuyển lên thứ hai là hào Nhị, thứ ba là hào Tam, thứ tư là hào Tứ, thứ năm là hào Ngũ, trên hết quẻ là hào Thượng.
Thứ sáu thời đáng lẽ gọi bằng hào Lục, cớ sao lại gọi bằng Thượng?
Bởi vì Dịch lí đủ cả thuận, nghịch. Vạch quẻ thời theo lối nghịch, từ dưới vạch lên.
Xem quẻ thời theo lối thuận, từ trên xem xuống.
Vì ý thánh nhân bày cho ta xem quẻ nên vạch thứ sáu không gọi bằng Lục, mà gọi bằng Thượng.
Vạch xong sáu hào rồi, lại phải phân biệt Hào thể và Hào vị.
Nghĩa là: Hào vạch đơn là một nét ngang liền, là hào dương. Hào vạch sách là một nét đứt đôi là hào âm. Dương hào thời gọi bằng Cửu, âm hào thời gọi bằng Lục. Bởi vì Dịch lí là một giống vô hình, vô thể, tất phải mượn số để minh lí.
Dương có ba số sanh (Nhất, Tam, Ngũ), hai số thành (Thất, Cửu). Dương kể thuận thời Cửu là thành số chi chung. Vậy nên lấy số Cửu mà đặt tên hào dương.
Âm có hai số sanh (Tứ, Nhị), ba số thành (Thập, Bát, Lục). Âm kể nghịch thời Lục là thành số chi chung. Vậy nên lấy số Lục mà đặt tên hào âm.
Chúng ta đọc đến chữ Cửu thời biết là dương hào, đọc đến chữ Lục, thời biết là âm hào. Đó là Hào thể đã giải rõ rồi.
Còn Hào vị cũng theo như hai hào mà định ra mỗi hào mỗi vị. Sơ, Tam, Ngũ thuộc về số cơ, là dương vị.
Nhị, Tứ, Thượng thuộc về số ngẫu, là âm vị.
Đại phàm, thể hào Cửu mà ở vào vị dương, thể hào Lục mà ở vào vị âm, thảy đắc chính. Nêu thể hào Cửu mà ở vào vị âm, thể hào Lục mà ở vào vị dương, thảy bất chính.
Lại mỗi hào thảy có ứng đối với nhau: Sơ, Tứ ứng với nhau. Nhị, Ngũ ứng với nhau, v.v. Người này ứng với người kia, gọi bằng tương ứng, nhưng lại phải hào âm ứng với hào dương, hào dương ứng với hào âm mới gọi bằng tương ứng được.
Nếu hào thể hai bên âm cả hay dương cả thời dầu hào vị đối với nhau mặc lòng, cũng không thể tương ứng được. Đó là vô ứng.
Nhưng lại vì mỗi quẻ chia ba vạch dưới làm Hạ Quái, Nội Quái; ba vạch trên làm Thượng Quái, Ngoại Quái nên lại có nghĩa Nội Quái tương ứng.
Nội Quái ba hào, Sơ là hào dưới hết, Tam là hào trên hết, duy Nhị là hào chính giữa là đắc trung.
Ngoại Quái ba hào, Tứ là hào dưới hết, Thượng là hào trên hết, duy Ngũ là hào chính giữa là đắc trung.
Sở dĩ vô luận quẻ nào, hễ Nhị, Ngũ là đắc trung, ngoài ra các hào đều là bất trung. Như trên kia thuyết minh là nói đại khái về phép xem quẻ, xem hào toàn bộ Kinh Dịch. Bây giờ xin thích nghĩa hào Sơ quẻ Càn, thời bao nhiêu hào cũng có thể nhân đó mà suy được.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Tiềm long vật dụng. 初九: 潜龍勿用.
Sơ là hào vị ở dưới hết,
Cửu là hào thể thuộc về hào dương.
Quẻ Càn là quẻ thứ nhất đầu Kinh Dịch, mà lại là quẻ Thuần Dương, hào này là vạch thứ nhất của quẻ Càn, bản thể nó là dương, mà ở vào vị cũng là dương vị. Vậy nên đặt tên bằng Sơ Cửu.
Tiềm long, nghĩa là con rồng còn nấp ngầm ở dưới thấp.
Bởi vì Dịch lí gốc vô hình nên thánh nhân phải mượn một giống hữu hình để phát minh Dịch lí.
Long là một giống linh biến bất trắc mà lại thuộc về loài dương nên mượn chữ long để phỏng tượng cái đạo biến hóa của Càn.
Vì sao mà nói rằng tiềm? [4] Bởi vì hào này là bắt đầu vạch ra mà ở dưới hết quẻ, in như con long còn nấp nép ở dưới vực sâu, sở dĩ gọi bằng Tiềm long. Vì long đương lúc còn tiềm thời chưa có thể làm được những việc mây mưa biến hóa, cũng như một bậc tiền nhân tại hạ, hoặc khi mới ra đời, sức mỏng thế hèn, chỉ nên trầm tiềm hàm dưỡng, chờ đợi thì cơ, chớ nên vội vàng ra gánh việc đời.
Sơ dĩ Hào từ bảo rằng: Vật dụng.
Chữ vật dụng là bảo cho bản thân hào này chưa nên thí dụng và cũng bảo cho những người dụng nhân, gập bậc tiềm long như hào này cũng chỉ nên bồi dưỡng vun đắp, chờ thì mà dụng, chớ nên vội vàng gấp dụng người ta.
Nói tóm lại, bản thân hào Sơ, thời là khả năng tắc tàng, mà người tương ứng với Sơ cũng chỉ nên tài giả bồi chi mà thôi. Nếu dụng ra làm việc đời cũng thất ư quá vội. Lời hào này chính là thâm ý của thánh nhân, cốt răn cho những người có tài mà cấp tiến chẳng chịu chờ thì vậy.
Trên đây là giải thích Hào từ của Chu Công, bây giờ lại giải thích Tượng từ của Khổng Tử.
Tượng từ này gọi bằng Tiểu Tượng.
Bởi vì, Khổng Tử sợ học giả đọc Hào từ Chu Công mà không hiểu thấu ý nghĩa nên Ngài theo dưới mỗi hào, đặt vào mỗi bài Tiểu Tượng để thích ý nghĩa của Hào từ.
Tượng viết: Tiềm long vật dụng, dương tại hạ dã.
象曰:
潜龍勿用, 陽在下也
Hào từ nói rằng: Tiềm long vật dụng là cớ vì sao?
Là vì, đức dương cương, càn kiện, tuy vẫn là long, nhưng vì địa vị hoàn cảnh còn ở dưới hết, theo thì nghĩa thời chỉ nên tiềm, thì đương phải tiềm, tất không thể bay nhảy được, sở dĩ răn rằng: Vật dụng.
2. Cửu Nhị: Hiện long tại điền, lị kiến đại nhân.[5]
九二:
見龍在田, 利見大人.
Hào Cửu Nhị này ở chính giữa Nội Càn, là dương cương mà lại đắc trung.
Vả lại dương hào ở vào dương quái, trông lên quẻ trên, có hào Cửu Ngũ là bạn dương cương chính ứng với mình, thế là cương kiện đắc trung, mà lại đắc thì ngộ chủ, tượng như long đã thoát li nơi tiềm ẩn, mà lại có cơ hội làm mây mưa, tỏ rõ ra một vật thần linh ở trên mặt đất.
Sở dĩ rằng: Hiện long tại điền.
Tuy nhiên, việc trong thiên hạ, không bao giờ chỉ một người mà làm nên, mà cũng không bao giờ làm việc thiên hạ mà chỉ làm lị ích cho một mình.
Cửu Nhị cương kiện đắc trung, chính là một bậc đại nhân, mà lại tất phải có một bậc cương kiện, trung chính, như Cửu Ngũ, cũng là đại nhân. Hai bậc đại nhân đó, đồng tâm đồng đức với nhau, mới có thể làm nên việc lớn trong thiên hạ, tới khi hai bậc đại nhân ấy đã đồng thời xuất hiện thời thiên hạ ai nấy cũng trông mong vào, nên Hào từ nói rằng: Lị kiến đại nhân. Nghĩa là một phương diện thời đại nhân là Cửu Nhị phải hội ngộ với đại nhân là Cửu Ngũ, một phương diện thời thiên hạ mừng thấy được bậc đại nhân là Cửu Nhị.
Tượng viết: Hiện long tại điền, đức thí phổ dã.
象曰:
見龍在田, 德施普也.
Lời Tiểu Tượng của Khổng Tử nói rằng: Hào từ sở dĩ có câu: Hiện long tại điền, lị kiến đại nhân, nghĩa là đức long của Cửu Nhị đã phát triển khắp mọi nơi, thiên hạ chẳng những lị kiến Cửu Ngũ mà thôi, lại [còn] lị kiến Cửu Nhị đó vậy.
PHỤ CHÚ:
Chữ long ở Cửu Nhị chính là chữ long ở Sơ Cửu, vẫn một bậc thánh nhân như nhau, nhưng vì thời đại hào Sơ là buổi còn phải tu dưỡng, đến thời đại hào Nhị là buổi đã tiến hành nên tiềm, hiện có khác nhau mà long chỉ là một, chẳng qua tùy địa vị với hoàn cảnh, thì đã bất đồng thời cách tu tiến cũng bất đồng. Chữ tiềm, chữ hiện khác nhau, chính là đúng nghĩa chữ thì ở trong Dịch bọc.
3. Cửu Tam: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cựu.
九三: 君子終日乾乾, 夕惕若, 厲, 无咎.
Hào này ở trên hết nội Càn, vạch đơn, thể dương là dương hào ở vào dương vị nên gọi tên nó bằng Cửu Tam.
Theo như lệ sáu hào mà chia ra làm tam tài, thời Sơ, Nhị ở đoạn dưới là địa, Ngũ, Thượng ở đoạn trên là thiên, Tam, Tứ ở giữa là nhân.
Lại theo về thể toàn quẻ mà chia ra làm quẻ trên, quẻ dưới, thời ba hào ở trong là quẻ dưới. Hào này ở vị Tam, thời Tam là vị nhân. Theo về thể toàn quẻ thời Tam ở trên hạ thể ,nghĩa là ở vị chông chênh. Bảo rằng trên, thời nó vẫn ở hạ thể, bảo rằng dưới thời nó lại ở trên Hạ Quái.
Người mà ở vào địa vị ấy là một cảnh rất khó xử. Nếu bản thân mình mà không thiệt giỏi, thời e đến nỗi dưới kéo, trên giằng mà thành ra một người trụy lạc. Hào này ở vào địa vị khó xử như thế, mà tính chất bản thân nó, đã Cửu là dương cương, lại Tam cũng dương cương, mà lại ở không được trung vị như Nhị, Ngũ. Thế là một người trùng cương bất trung, lấy một người quá cực cương như thế, mà xử vào địa vị bán thượng lạc hạ, nguy hiểm biết chừng nào! Sở dĩ thánh nhân đặt làm lời răn rằng: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược. Nghĩa là: Quân tử xử vào địa vị hào Cửu Tam, lại xét trong mình cũng tính chất như hào Cửu Tam, tất phải hết sức tu tĩnh cang trì, suốt ngày từ sáng tới tối, đã thường thường kiền kiền[6] mà lại dịch nhược[7] .
Nếu được như thế, thời tuy xử vào địa vị đáng nguy mà chắc cũng chuyển họa vi phúc, hóa dữ ra lành, không đến nỗi có tội lỗi, sở dĩ Hào từ có ba chữ: Lệ, vô cựu[8] .
Hào này vẫn cũng một người tốt nên Hào từ có chữ quân tử.
Tuy nhiên, đã quân tử cớ sao kiền dịch tối ngày mà chỉ may được vô cựu? Bởi vì địa vị hào này ở vào trung lưu. Tùng lai, quốc gia nào, xã hội nào, thế giới nào, rất quan hệ ở hạng người trung lưu; người ở trên mình thời trách móc vào mình, người ở dưới mình thời trông mong vào mình. Cơ quan thành hay bại đã quan hệ rất lớn, mà xử trí lại rất khó. Nếu mảy may không cẩn thận, thời hung họa tới nơi. Sở dĩ chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược mới may được vô cựu. Đó là thâm ý thánh nhân dạy người xử thế vậy.
PHỤ CHÚ: Sáu hào quẻ Càn thảy có thể dụng chữ long được, bởi vì hào ở quẻ Thuần Dương, là có tượng long. Cớ sao Hào từ Cửu Tam lại không dụng chữ long mà lại dụng chữ quân tử? Đó là ý thánh nhân tỏ cho ta học Dịch phải biết những chữ thủ tượng ở trong Dịch chỉ là mượn tượng cho sáng ý mà thôi, chứ không phải thấy tượng nào là ấn định sự vật ấy.
Giả như: Chữ long quẻ Càn mà chỉ nhận nhất định là rồng thời còn gì là học Dịch nữa đâu. Vậy xin học giả học Dịch xem ở hào Cửu Tam thời biết ý nghĩa chữ long, ở các hào kia cũng chỉ thế chữ quân tử mà thôi. Đó là xem ý không cần xem chữ. Thế mới là biết học Dịch.
Tượng viết: Chung nhật kiển kiền, phản phục đạo dã.
象曰: 終日乾乾, 反復道也.
Tượng của Đức Khổng Tử nói rằng: Hào từ sở dĩ rằng chung nhật kiền kiền, là bảo người ta ai xử vào địa vị Cửu Tam chính là [ở vào] địa vị làm người, tất phải ngày nào suốt một đời người, chỉ là tráo đi trở lại, tự thỉ chí chung, bao nhiêu đường lối mình đi chỉ cốt cho đúng đạo lí.
PHỤ CHÚ: Tượng từ của Khổng Tử suy rộng ý Hào từ của Chu Công, vì hào Cửu Tam đứng vào vị nhân nên thống luận loài người ai nấy cũng phải lo cho trọn đạo người, chẳng những một Cửu Tam mà thôi, vì vậy nên có câu phản phục đạo dã. Đó là Đức Khổng suy rộng ý của Chu Công, chúng ta học Tiểu Tượng thảy nên biết ý ấy.
4. Cửu Tứ: Hoặc dược tại uyên, vô cựu.
九四: 或躍在淵, 无咎.
Hào này vẫn thể Dương ở vào vị âm, kể thể sáu hào thời Cửu Tứ là hào thứ tư, thuộc về số chẵn, là số âm, bản thân nó vạch đơn, là dương hào nên gọi tên nó bằng Cửu Tứ.
Nghĩa là dương hào mà ở âm vị, có hiềm nghi vì bất chính. Kể thể toàn quẻ thời nó ở vào quẻ trên mà lại ở dưới quẻ trên, thế là xử vị lại bất trung.
Trông lên thời nó không được như Ngũ, ngó xuống thời nó lại không được như Nhị. Thế là bản thân Tứ sở xử đã bất chính lại bất trung, nhưng mà ở vào quẻ Càn, thời bản thân nó là chất cương kiện, vẫn cũng là một bậc quân tử, chỉ vì địa vị với hoàn cảnh của nó, muốn tiến mà chưa chắc tiến đã hay, muốn thối mà lại e thối cũng dở. Vậy nên thì gian của Tứ, chỉ nên châm chước thẩm thận, lựa xem thì cơ mà tiến, thối cho đúng; thì nên tiến thời ta tiến, thì nên thối thời ta thối. Nếu cơ hội đáng tiến thời tiến ngay, tượng như long dược. Long đã dược thời chẳng bao lâu cũng đến phi. Nếu thì cơ chưa đến tiến, tất phải nằm im mà chờ thì, tượng như long tại uyên. Vậy nên Hào từ nói rằng: Hoặc dược tại uyên[9] , biết tùy thì như thế, chắc không lầm lỗi, ấy là vô cựu.
PHỤ CHÚ: Địa vị hào Tứ cũng như địa vị hào Tam, cũng xử cảnh bán thượng lạc hạ, rặt là ở vào cảnh tiến, thối lưỡng nan, chỉ duy khác hơn Cửu Tam chút đỉnh là Cửu Tam thời chưa có thể tiến mà Tứ thời có thể tiến được. Bởi vì Tam còn ở quẻ dưới, mà Tứ đã bước lên quẻ trên, sở dĩ tiến, thối, có khác nhau. Thánh nhân dạy cho người nên thẩm thận xem thì mới khỏi mắc cái lỗi táo tiến nên Hào từ có chữ hoặc, nghĩa là không nhất định. Xem Tiểu Tượng của Khổng Tử dưới đây lại càng minh bạch.
Tượng viết: Hoặc dược tại uyên, tiến, vô cựu dã.
象曰: 或躍在淵, 无咎也.
Hào này đã li khỏi Hạ Quái mà lên gần Cửu Ngũ, thời thế nào cũng tiến mà thôi, nhưng tất phải tiểu tâm cẩn thận và có trí biết xem thì mà tiến mới vô cựu. Tượng từ nói rằng: Tiến vô cựu dã, là chỉ ngậm ý chữ dược, mà nuốt được chữ tại uyên. Đó là phát minh ý Hào từ, nghĩa là tất có thì tiến nhưng không nên cấp tiến, chính là nghĩa tùy thì ở trong Dịch học.
5. Cửu Ngũ: Phi long tại thiên, lị kiến đại nhân.
九五:飛龍在天, 利見大人.
Cửu là hào dương, Ngũ là vị dương, dương hào ở dương vị là đắc chính. Ngũ là hào ở chính giữa Ngoại Quái là đắc trung, vả lại ở vào quẻ Càn là có tính chất cương kiện. Đã cương kiện lại trung chính là tuyền đức của thánh nhân, mà ở vị Ngũ lại là địa vị chí tôn ở trong quẻ, ấy là thánh đức ở thiên vị, tượng như con long bay giữa trời, thiệt là một hào tốt nhất ở trong sáu hào nên Hào từ nói rằng: Phi long tại thiên.
Tuy nhiên, việc trong thiên hạ, há chỉ một thánh nhân mà làm nên ư? Có bậc thánh nhân ở vị trên tất phải có bậc thánh nhân ở vị dưới, giùm giúp với nhau, trao đỡ cho nhau mới làm nên sự nghiệp to lớn mà thiên hạ mới tín ngưỡng vào mình. Nên Hào từ nói rằng: Lị kiến đại nhân, nghĩa là, Cửu Ngũ vẫn là đại nhân, nhưng cũng phải lị kiến đại nhân ở dưới là Cửu Nhị nữa mới được, cũng như Cửu Nhị phải lị kiến đại nhân ở trên là Cửu Ngũ đó vậy. Hai bậc đại nhân ấy đồng tâm, đồng đức làm nên sự nghiệp của Càn mà thiên hạ phải vọng phong chiêm ngưỡng, ấy là lị kiến đại nhân vậy.
PHỤ CHÚ: Chữ long ở Cửu Ngũ với chữ long ở Sơ Cửu, nguyên chỉ một long, mượn mà thí dụ một bậc thánh nhân, khác nhau chỉ chữ tiềm và chữ hiện. Hiện rồi dược, dược rồi phi, cũng chỉ là tu dưỡng tích lũy từ nhỏ tới lớn, từ thấp lên cao, vẫn theo thì mà tiến lần, không phải trọn đời cứ tiến mãi, cũng không phải bỗng chốc mà phi ngay. Chúng ta nếu kiên trì đức hạnh, tích lũy công phu, bắt đầu tiềm dưỡng như Sơ, rồi bước lên hiện long như Nhị, lại còn kiền dịch như Tam, hoặc dược như Tứ, thì giờ lâu dài, công phu thành thục, thời sự nghiệp phi long như Cửu Ngũ cũng há phải việc rất khó đâu.
Xưa nay, thánh hiền, hào kiệt chẳng ai tiềm mãi mà không phi, cũng chẳng ai muốn phi mà không gốc ở tiềm.
Thầy Mạnh có câu: Nhân hữu bất vi dã, nhi hậu khả dĩ hữu vi, nghĩa là: Người ta tất trước có cái không chịu làm mà sau mới có thể đến lúc làm. Lời nói đó rất hợp với nghĩa Kinh Dịch. Bất vi tức là tiềm, hữu vi tức là phi, chỉ cốt cho đúng thì, nghĩa, là tác dụng của đại nhân đó vậy.
Tượng viết: Phi long tại thiên, đại nhân tạo dã.
象曰: 飛龍在天, 大人造也.
Nghĩa là: Đại nhân ở hào Ngũ này, cũng là đại nhân ở hào Nhị, nhưng trước kia mới thấy được thịnh đức của đại nhân, bây giờ thời thấy được đại nghiệp của đại nhân, chính là một bậc đại đức, đại tài, chuyển di được thời thế, tạo thành được thế giới, sở dĩ rằng đại nhân tạo dã. Đại nhân là thay cho chữ long, tạo là thay cho chữ phi.
PHỤ CHÚ: Đọc Hào từ này, nếu hạng người bình thường thời thế nào? Tất phải xét trong mình, quả đã có công phu "tiềm, hiện" được như Sơ, Nhị hay chưa? Nếu chưa, thời chưa nên đứng vào địa vị "phi long", mà phải tìm kiếm cho được bậc đại nhân như Cửu Ngũ, còn mình chỉ là một người lị kiến người ấy mà thôi. Thế mới là người biết học Dịch.
6. Thượng Cửu: Kháng long hữu hối. 上九: 亢龍有悔.
Hào này vạch đơn là hào dương, vạch thứ sáu quẻ Càn là ở trên hết quẻ nên gọi tên nó bằng Thượng Cửu, hào dương ở quẻ Càn, vẫn có đức cương kiện, cũng là một vị quân tử nên cũng tượng là long, nhưng địa vị hào ấy ở cuối cùng quẻ Càn, là cao đến tột bực.
Thế là: Thượng chi cực, sự chi chung 上之極, 事之終.
Hễ việc thiên hạ, cùng thời biến, đầy thời nghiêng. Nêu bậc quân tử xử vào địa vị hào này, tất phải răn đường dinh mẫu, giữ lối khiếm nhường mới tránh khỏi họa thái cương tắc chiết 太剛則 折.
Nếu không thế, đầy quá mà chẳng biết dè, tiến hoài mà chẳng biết thối, ấy là kháng long. Kháng nghĩa là cao cực, cũng có nghĩa là cương cực; cương cực thời không thế ôn hòa, cao cực thì không thể thối được; đầy tất phải tràn, cương quá thời gãy, thế nào cũng có việc phải ăn năn; sở dĩ hữu hối.
Xem như đời xưa, vua Nghiêu nhường vị cho vua Thuấn, đời sau ông Hoa Thịnh Đốn không chịu làm Đại Tổng Thống lần thứ hai, chính là tránh họa "kháng long" vậy. Nã Phá Luân bị đày ở hoang đảo, Viên Thế Khải bị đánh đổ vì đảng Quốc Dân, chính là "Kháng long hữu hối"; đó chẳng qua chứng vào việc lớn mà thôi, bao nhiêu việc trong thiên hạ, nhỏ từ một thân, một gia, lớn đến một quốc, một xã hội, một thế giới, cũng lẽ như thế.
PHỤ CHÚ: Chữ long ở Thượng Cửu, cũng một long như năm hào kia; hào này sở dĩ hữu hối, chẳng phải lỗi tại chữ long mà lỗi tại chữ kháng. Bởi vì địa vị hào Thượng Cửu là dương cương đã đến lúc thái quá, mà lại tột mực cao, nếu không hay biến thông, tất có họa hại. Đó là thâm ý thánh nhân dạy người xử thế.
Tượng viết: Kháng long hữu hối, dinh bất khả cửu dã.
象曰: 亢龍有悔, 盈不可久也.
Hào từ nói rằng: Kháng long hữu hối nghĩa là: Sáu hào quẻ Càn, hào nào cũng có thể gọi bằng long, đáng lẽ là vô hối, nhưng vì hào Thượng Cửu này, Càn đạo cũng đã đến lúc cùng cực rồi, địa vị đã đến lúc quá cao rồi, thế là đã đến hồi mãn dinh, hễ vật lí đã đến hồi mãn dinh thời không thể lâu dài được.
7. Dụng Cửu: Kiến quần long vô thủ, cát.
用九: 見羣龍無首, 吉.
Dụng Cửu vẫn không phải là một hào, nhưng theo về Hào từ của Chu Công, thời cũng giả thiết làm một hào. Bởi vì nguyên lí của Dịch, trọng yếu thứ nhất là biến dịch, vả lại đầu tiên Phục Hy vạch quẻ, thời trong phép xem quẻ có biến động mới vô cùng, hào dương có thể biến làm hào âm, hào âm có thể biến làm hào dương. Sáu hào dương quẻ Càn, biến hết thảy thành ra quẻ Thuần Khôn, đó là cơ vi diệu của tạo hóa, vẫn gì gì cũng có biến dịch. Chu Công muốn cho ta hiểu lẽ ấy nên ở quẻ Càn, quẻ Khôn thêm vào hai hào đặt tên là "Dụng Cửu", "Dụng Lục", nghĩa là: Hễ hào dương thời dụng số Cửu mà không dụng số Thất, hào âm thời dụng số Lục mà không dụng số Bát, nên một cái thông lệ cho người là đọc 384 hào vậy.
Vì đã có hai hào ấy, nên Chu Công lại thêm vào hai Hào từ để cho rõ thâm ý của thánh nhân thùy giáo. Đó là thích nghĩa quẻ Càn, còn quẻ Khôn cũng y vậy.
Kiến quần long vô thủ nghĩa là sao? Long là dương hào, quần long là sáu hào dương, vô thủ là sáu hào dương thảy biến cả.
Bởi vì, Dương là tượng long, mà long sở dĩ hoạt động khác thường, là cốt ở cái đầu. Bây giờ dương hào đã biến hết cả, là tượng như long đã tiêu diệt hết cái hình tích hoạt động, chính là vô thủ, nghĩa là không thấy đầu con long nào nữa vậy. Nhưng đó chẳng qua theo ở trên mặt chữ mà giải thích nghĩa đen đó thôi. Nếu nhận cho ra ý thâm diệu của thánh nhân, thời sâu xa huyền bí quá.
Nguyên lai, thánh nhân tác Dịch, gộp cả thiên đạo, nhân sự mà kể suốt từ vô thỉ đến vô chung.
Trên kia, trải qua sáu hào quẻ Càn, kể bằng sáu đại vận hội ở trong vũ trụ có thể đặng, mà kể bằng sáu thời đại rất dài ở trong xã hội, sáu tuần tự tiến hóa ở trong nhân loại, cũng có thể đặng.
Tỷ như Sơ tiềm long là thuộc về thời đại còn hỗn độn. Nhị hiện long là thuộc về thời đại đã có văn tự, thi thư. Tam, Tứ là thuộc về thời đại trung cổ dĩ hậu. Ngũ phi long là thuộc về thời đại có khoa học phát minh, nhân loại trải qua một trình tự đại tiến hóa. Thượng kháng long là thuộc về thời đại cận kim dĩ hậu. Toàn thế giới phát hiện ra chủng chủng đấu tranh, mà bao nhiêu thịnh cực phải suy, tiêu cực phải trưởng, nhân loại trải qua một thì gian đại phá hoại, mà tiến vào cuộc canh tân.
Trải qua sáu thời đại đó rồi thì bao nhiêu giai cấp cực cao ở trong thế giới hoàn toàn tiêu diệt, mà tất thảy nhân loại mới phát hiện ra một cách chân chánh, bình đẳng, chân chánh tự do.
Thế là kiến quần long vô thủ, nghĩa là: trước con mắt người ta thấy được tất thảy là long, mà không thấy đâu là thủ.
Nói cho kĩ, thời cũng như học thuyết mới nói rằng: đại đồng, vô chính phủ, v.v. Đó là rất hoàn toàn mỹ mãn ở trong nhân đạo. Vậy nên Hào từ tán rộng: Cát. Cát nghĩa là: tốt lành.
Trước kia sáu hào không chữ cát, mà cớ sao chữ cát chỉ đặt cho hào này? Thế mới biết rằng: Lục dương giai biến, chính là chúng tôn giai biến. Bởi vì thông lệ trong Dịch, dương là tôn, âm là ti, biến hết thảy dương tức là biến hết thảy giai cấp tôn quý vậy.
Tượng viết: Dụng cửu, thiên đức bất khả vi thủ dã.
象曰: 用九, 天德不可爲首也.
Ý Khổng Tử nói rằng: Nghĩa Hào từ Dụng Cửu đó là bảo: Long tuy là đức Càn nhưng mà quần long hãy còn có thủ thời chưa đúng với đức trời, Nếu thật [là] đức trời hoàn toàn, thời không thấy có ai làm thủ nữa vậy.
Sở dĩ rằng thiên đức bất khả vi thủ là vì còn có vi thủ, thời không phải thiên đức, tất không thấy ai vi thủ mới là thấy thiên đức.
Phật Tổ có câu: Thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ 是法平等, 旡有高下, cũng là ý nghĩa ấy.
Từ đây sắp xuống là Văn Ngôn quẻ Càn. Văn Ngôn chỉ quẻ Càn với quẻ Khôn có mà thôi, vì rằng hai quẻ ấy là làm cha mẹ cho toàn vạn vật, mà đứng đầu hết Kinh. Khổng Tử nghiên cứu hai quẻ ấy, đạo lí quá chừng rộng, ý tứ quá chừng sâu. Ngài sợ rằng chỉ Soán Truyện mà thôi thời e học giả chưa phát minh được hết ý nghĩa, vậy nên làm thêm truyện Văn Ngôn như dưới này:
Văn Ngôn viết: Nguyên giả, thiện chi trưởng dã; hanh giả, gia chi hội dã; lị giả, nghĩa chi hòa dã; trinh giả, sự chi cán dã.
文言曰: 元者善之張也; 亨者嘉之會也; 利者義之和也; 貞者事之乾也.
Nguyên Soán từ của Văn Vương chỉ có năm chữ Càn, Nguyên, Hanh, Lị, Trinh. Khổng Tử nhận ra được đức Càn của trời, bao quát tự thỉ đến chung, nói tóm lại thời chỉ một chữ Càn là đủ, mới chia ra thời có bốn chữ, mà cũng gọi bằng bốn đức.
Nhất là đức Nguyên, Nguyên là đức lớn nhất ở trong bốn đức lành. Kể theo tứ thì, thời Nguyên thuộc về mùa Xuân, đầu hết phát sinh ra vạn vật. Kể theo đạo người, thời Nguyên thuộc về đức Nhân, là cội gốc của lòng người. Đạo trời sở dĩ sinh sinh bất cùng, lòng người sở dĩ hợp được thiên lí, là chỉ vì có đức Nguyên nên bảo rằng: Thiện chi trưởng dã.
Nhị là đức Hanh nghĩa là thông. Kể theo tứ thì, thời Hanh thuộc về mùa Hạ, bao nhiêu sinh vật đến lúc ấy phát dục rõ ràng. Kể theo đạo người, thời Hanh thuộc về đức Lễ. Lễ là hợp với lí, những việc gì người làm mà hợp với đạo lí mới là tốt. Nhóm góp hết các chuyện tốt mới là thông nên bảo rằng: Gia chi hội dã.
Tam là đức Lị. Kể theo tứ thì, thời Lị thuộc về mùa Thu, bao nhiêu sinh vật đến lúc ấy tất thảy thành thục, ấy là Lị. Kể theo đạo người, thời Lị thuộc về đức Nghĩa. Nhân với nghĩa là một đạo lí nghiêm chính, mà trong nghiêm chính đó, tất cũng làm cho ai nấy được vui vẻ sung sướng, mới điều hòa được nghĩa, chính là nhờ có Lị, nên bảo rằng: Nghĩa chi hòa dã.
Tứ là đức Trinh.Trước kia đức Nguyên là tạo đoan khai thỉ cho vạn vật; đức Hanh là trưởng dưỡng cho vạn vật; đức Lị là thành tựu cho vạn vật. Nhưng hễ đạo lí gì, sự vật gì, cũng tất phải có kết thúc với kết quả, xem ở kết thúc và kết quả mà được hoàn toàn viên mãn, mới là họp với đức trời. Vì vậy, Nguyên, Hanh, Lị, rồi lại phải có đức Trinh, tức là đức Trí. Kể theo tứ thì, thời Trinh thuộc về mùa Đông, bao nhiêu sinh vật đến lúc đó vật nào thành vật nấy, mà cũng là kết quả của vật vậy. Kể theo đạo người, thời Trinh cũng thuộc về đức Trí. Trí là một chất tri giác linh minh, soi xét được thị phi rành rõi, nhất thiết sự gì hợp với lẽ phải mới làm, sự gì trái lẽ phải thời không làm. Đức Trinh ấy là căn cán cho người ta làm mọi việc nên bảo rằng: Sự chi cán dã. Cán nghĩa là thân cây, người làm muốn việc tất phải có đức Trinh, thời việc mới có kết quả, tượng như một giống cây, tất phải có thân cây, cây phải có ngành lá, hoa quả, cũng một lẽ in nhau.
PHỤ CHÚ: Trong bốn câu tiết đầu, rất thâm thúy, tinh diệu là câu: Lị giả nghĩa chi hòa dã. Xưa nay chữ Lị, chữ Nghĩa, các học giả thường chia nhau ra làm hai đường.
Đức Khổng Tử cũng có câu rằng: Quân tử dụ ở nghĩa, tiếu nhân dụ ư lị
君子喻於義, 小人喻於 利.
Thầy Mạnh càng biện biệt chữ Lị, chữ Nghĩa rất nghiêm.
Duy đến Văn Ngôn Kinh Dịch mới có câu: Lị giả nghĩa chi hòa, là nhập cả nghĩa, lị làm một lẽ.
Bây giờ xin giải phẫu cho rõ rằng:
Nghĩa, nguyên là phải. Thí dụ: Như cha có nghĩa từ với con, con có nghĩa hiếu với cha, nhưng hiếu, từ có phải chỉ nói suông đâu, tất phải làm sao cho cha nuôi được con, con nuôi được cha. Thế tất phải có lị đó, mục đích cốt ở nuôi cha, nuôi con để cho thành đức nghĩa mà thôi, suy rộng ra, lớn đến yêu nước thương dân vẫn là nghĩa.
Nhưng đã yêu nước, tất phải làm cho phú quốc cường binh, thương dân tất phải làm cho hậu sinh lị dụng. Thế là vì cái nghĩa thương nước, yêu dân mà trước cần phải có kinh tế, kinh tế tức là Lị. Thế là Lị giả nghĩa chi hòa.
Xem như tiết dưới có câu: Lị vật túc dĩ hòa nghĩa lại càng rõ lắm.
Quân tử thể nhân, túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lị vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ cán sự, quân tử hành thử tứ đức giả, cố viết: Càn, Nguyên, Hanh, Lị, Trinh.
君子體仁 足以長人, 嘉會足以合禮, 利物足以和義, 貞固足以干事, 君子行此四德也, 故曰: 乾元亨利貞.
Tiết này lại muốn cho đầy đủ ý nghĩa của tiết trên nên phải lấy một bậc thánh nhân toàn bị tứ đức mà phối hợp với đức Càn. Nghĩa là: Đấng quân tử lấy đức nhân làm bản thể, hay suy ra mà trưởng dưỡng được người. Tóm góp hết mọi sự tốt, thời không việc gì mà không hợp với thiên lí. Làm lị ích cho vạn vật, thời điều hòa được đức nghĩa, mà đức nghĩa không phải là giống chết khô.
Hằng tâm nghị lực 恆心毅力, bền giữ được Nguyên, thời làm được căn cán cho mỗi việc, việc gì cũng chung thỉ như nhất, mà được có kết quả 足以幹事.
Quân tử làm đủ bốn đức ấy thế là phối hợp được đức Càn, cho nên nói rằng: Càn, Nguyên, Hanh, Lị, Trinh.
Sơ Cửu, tiềm long vật dụng, hà vị dã?
Tử viết: Long đức nhi ẩn giả dã, bất dịch hồ thế, bất thành hồ danh, độn thế vô muộn, bất kiến thị nhi vô muộn, lạc tắc hành chi, ưu tắc vi chi, xác hồ kỳ bất khả bạt, tiềm long dã.
初九:
潜龍勿用, 何謂也?
子曰: 露德而隱者也, 不易乎世, 不成 乎名, 遯世無悶, 不見是而無悶, 樂則 行之, 憂則違之, 確乎其不可拔, 潜龍也.
Nghĩa Hào từ Sơ Cửu, là bảo làm sao?
Khổng Tử theo ý Tượng Truyện mà giải thích cho tường rằng:
Hào từ này khen đức một bậc thánh nhân tại hạ, tượng như long là một vật hay biến hóa mà còn tiềm ẩn đó vậy. Thánh nhân đương lúc ấy chỉ lo tấn đức tu nghiệp ở trong mình, không vì thế tục mà thay đổi ý chí mình, không lòe loẹt danh dự với người đời, tránh đời mà không lấy làm buồn, tuy đời không cho mình là phải mà vẫn cứ không buồn, giữ một chí hướng, thờ một chủ nghĩa, chờ có một thì cơ tốt thời ta làm. Nếu thì còn hoạn nạn chưa có dịp làm cho được chí mình, thời dầu mình tránh đời, cái chi tiết ấy, cái phương châm ấy, bền như đá, vững như đanh, không thể lay động được. Thế là gọi bằng tiềm long vậy.
Tiềm chi vi ngôn dã, ẩn nhi vị hiện, hành nhi vị thành, thị dĩ quân tử phất dụng dã.
潜之爲言也, 隱而未見, 行而未成, 是以君子弗用也.
Đây là giải thích cho minh bạch ý nghĩa chữ Tiềm, nghĩa là: Đương thì giờ còn ẩn núp, bao nhiêu sự nghiệp về ngày sau còn đương nấu nướng un đúc. Thế là thân ta còn đương tiềm tàng mà chưa xuất hiện, việc ta còn đương lo sắp đặt mà chưa kịp trình bày. Ví như: Mầm cây còn ở dưới đất, mũi sắt còn ủ trong lò nên quân tử chưa đem ra dụng vậy. Vì thế, Hào từ mới có chữ vật dụng.
Cửu Nhị viết: Hiện long tại điền, lị kiến đại nhân, hà vị dã?
Tử viết: Long đức nhi chính trung giả dã. Dung ngôn chi tín, dung hạnh chi cẩn, nhàn tà tồn kỳ thành, thiện thế nhi bất phạt, đức bác nhi hóa.
九二曰:
見龍在田, 利見大人, 何謂也?
子曰:
龍德而正中者也. 庸言之信, 庸行之謹, 閑邪存其誠, 善世而不伐, 德博而化.
Nghĩa Hào từ Cửu Nhị là bảo làm sao?
Khổng Tử rằng: Một vị thánh nhân khi đã thành đức rồi, tượng như long đã tỏ rõ ra một giống thần vật, vả lại Cửu Nhị là hào đắc trung là nó, đức thánh nhân sở dĩ hợp được đức Càn, mà tốt nhất là chữ trung, nên nói rằng: Long đức nhi chính trung giả dã.
Nghĩa hai chữ chính trung phải nhận cho kĩ, đạo lí trong thiên hạ, vẫn có nhiều việc, kể rằng chính thời vẫn chính, nhưng hoặc thái quá, hoặc bất cập, thế là bất trung, Vì bất trung, té ra mất cả chính.
Tỷ như: Hiếu với cha là chính, mà hiếu như Thân Sinh té ra làm thành cái tội giết con cho cha, là vì bất trung mà mất cả hiếu.
Lại như: Phục thù cho cha là chính, mà làm thái quá như Ngũ Tử Tư, té ra đem giặc về lấy nước. Thế là vì báo thù cho cha, mà hại đến dân một nước. Ấy cũng là bất trung mà thành ra bất chính. Khổng Tử nói hai chữ chính trung là cốt bảo cho người ta xử việc đời, phải cho chính vào giữa đức trung. Nêu chính mà bất trung, là không phải long đức.
Chữ trung có hai lối:
Một là cho đúng với thì, thì chưa đến mà làm gượng, tức là thái quá; thì đã đến nơi mà chậm trễ không làm, tức là bất cập. Thế là không đúng với thì là bất trung.
Hai là cho đúng với đạo lí, đạo lí không bao giờ thiên về một mặt, cũng không bao giờ thái quá với bất cập. Nếu đạo lí chỉ mười phân là đúng, mà làm đến mươi lăm phân là thái quá, thái quá thời việc cũng hư. Lại như đạo lí đáng mười phân, mà chỉ làm năm phân, thời là bất cập, bất cập thời việc không kết quả. Lại như nấu nồi cơm, công phu đốt lửa, đáng ba mươi phút đồng hồ, mà đốt ba mươi lăm phút, tất nhiên cơm khê; hoặc chỉ đốt hai mươi phút mà thôi, tất nhiên cơm sống.
Suy một việc rất nhỏ như thế, thời biết được việc thiên hạ dầu to lớn đến thế nào mặc lòng, tất cũng phải đúng với thì là đắc trung.
Trung cũng có nghĩa là trúng, trúng là đúng với thì, lại trúng với đạo lí. Ví như người bắn bia, tất phải nhắm vào trung tâm bia, mới gọi là chính, mà chính tức là trung vậy.
Quân tử vì muốn làm cho được đức chính trung nên công phu tu dưỡng phải thập phần kĩ càng, dầu một tiếng nói tầm thường mà đạo lí nên tin, thời bao giờ cũng cứ tin, dầu một việc làm tầm thường mà đạo lí nên cẩn, thời bao giờ cũng cứ cẩn. Hễ thấy những tư tưởng gì, mà hơi thuộc về tình dục, tất trước lo ngăn ngừa, không cho tà tâm phát hiện ra được, cốt để giữ lấy nguyên tắc chí thành của mình.
Công phu tu dưỡng đã như thế, thời đại đức tất đắc kỳ danh mà thiên hạ tất nhờ mình cảm cách được rất nhiều; thịnh đức của thánh nhân đã ảnh hưởng khắp trong một đời, mà thánh nhân không bao giờ lòe loẹt với đời, ấy là thiện thế nhi bất phạt (phạt là khoe tỏ cho người biết). Tuy thánh nhân vẫn không lòe với đời, mà đức Ngài ảnh hưởng quá xa, lưu hành quá rộng, tự nhiên thiên hạ bị hóa với thánh nhân. Đó là đức của bậc đại nhân ở hào Cửu Nhị vậy.
Chữ đức bác, là thích chữ "đại nhân". Chữ hóa, là thích chữ "lị kiến".
Trên đây, là nói bậc thánh nhân đã thành đức rồi. Còn học giả, muốn học cho đến thánh nhân, thời làm như tiết dưới này:
Quân tử học dĩ tụ chi, vấn dĩ biện chi, khoan dĩ cư chi, nhân dĩ hành chi
君子學以聚之,
問以辨之, 寬以居之, 仁以行 之.
Dịch viết: Hiện long tại điền, lị kiến đại nhân, quân đức dã.
易曰:
見龍在田, 利見大人, 君德也.
Nghĩa là: Thịnh đức đại nghiệp [của] bậc thánh nhân đã nói như trên đây, chúng ta làm thế nào mà đến được rư?
Trước cần thứ nhất là học. Học nghĩa là bắt chước, cũng có nghĩa là khảo nghiệm. Bởi vì đạo lí trong thiên hạ tán mạn mênh mông, nếu chỉ cậy óc riêng của mình, thời lấy gì mà nhóm góp được hết nên phải học dĩ tụ chi. Một phương diện thời so dọ với thánh hiền đời xưa, xem xét với nhân vật đời nay,
Khổng Tử có câu rằng: Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư
三人同行必有我師. Mạnh Tử có câu: Văn Vương ngã sư dã 文王我師也.
Theo ý Khổng Tử, thời ba người đồng đi với nhau, mà hai người ở cạnh mình, có một người thiện, một người ác, người thiện là bảo cho ta theo điều hay, người ác là bảo cho ta bỏ điều dở. Hai người thảy là thầy ta, thầy ta tức là ta học.
Theo như ý Mạnh Tử, thời Văn Vương là Thánh đời xưa, tuy không đồng thì với ta, nhưng lời nói việc làm của Văn Vương, ta có thể bắt chước mà làm. Thế là Văn Vương cũng là thầy ta, ta lấy ông Thánh làm thầy, tức là học. Lại một phương diện, thời chăm về đường cách vật trí tri, bằng cư vào ở nơi kinh nghiệm, để chứng minh cái điều hay điều dở của mình.
Người xưa có câu: Kinh nhất biến, trưởng nhất trí 經一變, 萬事一智. Lại có câu: Tiền sự bất vong, hậu sự chi sư 前事不忘後事之師.
Nghĩa là: Những việc thành bại ở lúc dĩ vãng, mình cứ ghi nhớ mà không quên, tức là làm thầy cho việc tương lai, như thế cũng là học.
Dù hai phương diện ấy, xét đời xa, nghiệm đời nay, tai no nghe, mắt no thấy mới tóm góp được đạo lí trong thiên hạ vào trong óc mình, chinh là cái lối nhập môn của Thánh học.
Nhưng mà đạo lí quá phức tạp, sở văn sở kiến của một mình. Nêu chỉ học mà thôi, tất không thể tinh thục xác đáng, nên phải cần tìm thầy kiếm bạn, mà chất vấn với kẻ hơn mình. Bởi vì muốn biết đường tốt phải hỏi kẻ đi quen mới có thể biết được đường phải, đường trái. Đó là công phu tầng thứ cho tiến đến Thánh học, nên lại nói rằng: Vấn dĩ biện chi 問以辯之.
Học với vấn là công việc tự tư trong mình. Nhưng mà học làm thánh nhân, há phải độc thiện kỳ thân mà thôi đâu nên phải bàn đến kiêm thiện thiên hạ. Xưa nay có một hạng người quân tử, nhưng mà độ lượng chật hẹp, quy mô bé nhỏ, thời chỉ vừa làm tốt một mình mà thôi, mà không kiêm thiện được thiên hạ.
Nếu đã học làm thánh nhân, tất lại phải độ lượng cho rộng rãi, mà không mắc vào tệ dục tốc; quy mô thiệt to lớn, mà không sụp vào bẫy tự tư, mới có thể chứa chất được đạo lí, dung nạp được cả thảy loài người. Đó là cái bực thang làm sự nghiệp thánh nhân, nên lại nói rằng: Khoan dĩ cư chi 寬居以居之.
Nghĩa chữ khoan này, không phản đối với chữ nghiêm mà phản đối với chữ hiệp. (Cư nghĩa là thu trữ, dung nạp).
Lúc bây giờ có học đã tụ được rồi, có vấn đã biện được rồi, có khoan đã cư được rồi, chính là bước lên được đường lối làm sự nghiệp thánh nhân rồi đó, ấy là hành chi.
Hành, nghĩa là đi, cũng có nghĩa là làm, nhưng trước khi bước lên vũ đài Thánh Nghiệp lại cần thứ nhất là chữ Nhân; Nhân, nghĩa là chí công vô tư, mà lại kiêm cả bác ái.
Khổng Tử có câu: Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân 聖人以天下爲 一家, 以中國爲一人.
Nghĩa là: Tâm lí bậc thánh nhân xem người thiên hạ như người một nhà, xem người một nước như thân của mình.
Xưa vua Nghiêu có câu: Nhất dân cơ viết ngã cơ chi, nhất dân hàn viết ngã hàn chi 一民饑曰我 之饑, 一民饑寒曰我寒之.
Nghĩa là: Thấy một người dân chịu đói, thời trách mình rằng: Chết thôi! Vì ta làm đói đến nó; thấy một người dân chịu rét, cũng trách mình rằng: Chết thôi! Vì ta làm rét đến nó. Như thế mới là đức Nhân của thánh nhân, mà cũng chính là đức Nguyên của đức Càn.
Quân tử vì tu dưỡng thực hành được bốn câu trên đây, chính là hợp với đức của đại nhân ở hào Cửu Nhị mà xứng đáng với địa vị một người thống ngự nhân quần đó vậy. Vậy nên Khổng Tử tán rằng: Hiện long tại điền, lị kiến đại nhân, quân đức dã.
Chữ quân này không phải hạn định quân là vua, chỉ là như chữ nguyên thủ làm lãnh tụ trong một đảng, hoặc làm một vị sư trưởng trong đám học trò cũng là quân vậy.
Học Dịch nên cần phải biến hóa, nghiệm ý chớ ăn chữ, mới là thông Dịch.
Cửu Tam: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ vô cựu, hà vị dã?
Tử viết: Quân tử tiến đức tu nghiệp, trung tín sở dĩ tiến đức dã; tu từ lập kỳ thành, sở dĩ cư nghiệp dã; tri chí chí chi, khả dữ cơ dã, tri chung chung chi, khả dữ tồn nghĩa dã. Thị cố, cư thượng vị nhi bất kiêu, tại hạ vị nhi bất ưu.
九三:
君子終日乾乾, 夕惕若, 厲 无咎, 何謂也?
子曰: 君子進德修業, 忠信所以進德也; 修辭立其誠, 所以居業也; 知至至之, 可與幾也; 知終 終之, 可與存義也. 是故, 居上位而不驕, 在下位而不憂.
Hào Cửu Tam này vẫn cũng có đức Long như Sơ Cửu, Cửu Nhị, nhưng Cửu Tam xử vào địa vị bất trung, mà hào Cửu, vị Tam lại là trùng cương, nên Hào từ nói rằng: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cựu.
Nhưng Hào từ chỉ nói về mặt tinh thần. Bây giờ Văn Ngôn mới phát huy cho đến sự thật.
Tiến đức tu nghiệp là do ở tinh thần kiền dịch mà ra; kiền dịch chẳng phải chỉ tối ngày run sợ mà thôi, tất phải có sự thật.
Sự thật là gì? Chính là công phu học tập của thánh nhân.
Công phu học tập của thánh nhân tất phải có thể, có dụng, có trong, có ngoài.
Trong thời cốt ở tiến đức, phải làm sao cho đạo đức trong mình, ngày ngày càng tiến lên mãi, in như lời trong Đại Học: Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân 茍日新, 日新, 又日新.
Ấy là tiến đức, nhưng tiến đức thời gốc ở cái gì? Tất gốc ở trung tín.
Hễ làm một việc gì hoặc nói một lời gì, tất thảy ngoài như trong, trong như ngoài, như nghĩa Trung Dung: Chí thành bất tức 至誠 不息, nghĩa là: Rất thành thực, không bao giờ nghỉ.
Như nghĩa Đại Học: Vô tự khi 毋自欺,, nghĩa là: Chớ dối với lương tâm mình, chẳng những không dối người mà cũng không dối lòng mình.
Như thế là trung tín. Trung tín ngày chồng tháng chứa, thời đức mình tiến đến cực điểm cao. Đó là Thánh học ở phía trong.
Còn Thánh học ở phía ngoài, tất phải xem ở nơi công nghiệp. Vậy nên lại phải tu nghiệp, mà xem ở nơi công nghiệp, tất phải lo ở nơi tu nghiệp.
Nhưng vì thì giờ với địa vị Cửu Tam, đương cần thiết về đường tu dưỡng, sự nghiệp cũng chưa đến tế thế an bang, mà chỉ cốt ở lập ngôn lập đức. Vậy nên phải tu từ lập kì thành. Tu từ tức là lập ngôn, hoặc làm ra sách vở, hoặc đứng ra diễn thuyết, lấy văn chương cảm động người, lấy lời lẽ dạy dỗ hưng mà sự nghiệp nói đó, há phải như phường lị khẩu xảo ngôn đâu. Tất căn cứ vào đức trung tín của mình từ thuở xưa, viết một chữ, nhả một lời, chỉ là mong mình lập mà người cũng lập, nói mà chính nhân tâm, nói mà phù thế đạo, không một lời gì không căn cứ ở thực lí, thực sự, khiến cho đức thành của mình càng ngày càng xác thực kiên cố, công hiệu càng ngày càng rõ rệt. Như thế là lập kì thành. Đó là công phu tu nghiệp của Thánh học.
Nhưng mà công phu tiến đức, chỉ nói suông trung tín [thì] chưa hết đâu. Công phu tu nghiệp chỉ nói suông tu từ lập thành, cũng chưa hết được đâu. Bởi vì công phu Thánh học vừa tri vừa hành, vừa hành vừa tri, đã tri tất phải hành, cũng có chân tri mới thực hành được, nên lại có câu: tri chí chí chi. Nghĩa là: Biết được như thế mới là đến nơi, đã biết được đến nơi, thời tức khắc phải làm cho đến nơi.
Lại cần cho biết đến nơi để làm cho đến nơi, như thế mới có thể thông thấu được đạo lí vi diệu, ấy là khả dữ cơ. Cơ nghĩa là cơ vi, tỉ như một việc gì thị phi họa phúc chưa hiện rõ ràng, mà đã có một tư cơ triệu rất nhỏ nhen, duy thánh nhân mới biết trước được. Thí như: Thấy mũi sừng ở cách bên tường, mà biết bên ấy hẳn có con trâu; thấy ngọn khói ở cách bên núi, mà biết bên ấy hẳn có đám thất hỏa, ấy là cơ. Hễ những người giữ được cơ mới là người tri chí mà tiên đức mới đến tột mực. Trên nói tri chí là thuộc về phần học trí tri, chỉ cầu một việc ấy biết cho đến nơi, mà chỉ nghiên cứu dĩ vãng với hiện tại, còn chưa thấu triệt đến tương lai.
Bây giờ phải nghiên cứu cho đến cùng là tương lai, đã biết rằng cuối cùng của việc ấy, mới làm cho đến kết quả của việc ấy. Thế là tri chung chung chi. Vì có tri chung chung chi, mới có thể bảo thủ được chủ nghĩa của mình.
Xưa nay, những người thờ một chủ nghĩa mà trung gian phải bỏ, là vì lúc đầu thờ chủ nghĩa chưa nghiên cứu kĩ càng, chưa biết kết quả của chủ nghĩa ấy rồi ra thế nào, lại chưa biết sức mình chống nổi phản diện của chủ nghĩa ấy [có] đến cuối cùng hay không. Thế là bất tri chung, tất nhiên không chung chi được, tất nhiên chủ nghĩa mình phải bỏ, nên nói rằng: Tri chung chung chi, khả dữ tồn nghĩa dã.
Chữ chung trên, nghĩa là cuối cùng, chữ chung dưới nghĩa là kết quả, tồn nghĩa là giữ chặt. Vì mình biết được đến cuối cùng nên mình mới làm được đến triệt để. Đã làm được đến triệt để, thời kỳ chủ nghĩa mình mới viên mãn hoàn toàn.
Thí như: Đi một lối đường từ Huế đến Hà Nội thì mình biết trước đến cuối cùng đường [ở] Hà Nội phải xuống ga nào? Nhà ga cuối cùng ấy là chung, tất phải biết trung gian trải qua mấy ga, chạy mấy giờ, phải dùng đến bao nhiêu tổn phí, phải dùng những đồ hành lí gì, phải dùng mấy người giúp đỡ với mình, hoặc dùng những giống gì để phòng bị thẳng dọc dường, đến khi tới ga Hà Nội thời trụt nghỉ ở chốn nào? Vả lại, từ lúc ra đi cho đến khi tới nơi, trung gian có điều gì nguy hiểm hay không?
Những điều như trên kể, phải tính toán hoàn bị mới nhất định ra đi, đi tất đến nơi, đến nơi tất như ý, thế là chung chi, mà chủ nghĩa mình đi Hà Nội không bao giờ hỏng.
Nói tóm lại, tri chí chí chi thuộc về phần không gian; tri chung chung chi thuộc về phần thời gian; khả dữ cơ là nhân lúc đã hình hiện, xét đến lúc chưa hình hiện; khả dữ tồn nghĩa là chu mật ở bề ngoài để gìn giữ ở bề trong. Đạo lí của Thánh học, tri hành tịnh tấn, thỉ chung nhất quán là như thế. Vì học của thánh nhân như thế nên ứng sự tiếp vật tùy thì xử thế, chẳng chốn nào mà chẳng hay, dầu khi đắc thì đắc thế ở địa vị trên người mà không bao giờ dâm nịch vì phú quý. Dầu khi thất thế ở địa vị dưới người mà không bao giờ buồn bã vì bần tiện.
Trên đó là chuyên nói về học của thánh nhân. Nếu những người chưa được đức như thánh nhân, mà xử vào địa vị Cửu Tam, thời lại nên xem tiết dưới này: nghĩa là chỉ cầu cho khỏi tội lỗi là hay.
Cửu Tam, trùng cương nhi bất trung, thượng bất tại thiên, hạ bất tại điền, cố kiền kiền, nhân kỳ thì nhi dịch, tuy nguy, vô cựu hĩ.
九三, 重剛而不中, 上不在天, 下不在田, 故乾乾因其時而惕雖危无咎矣.
Ý nghĩa tiết này ở trong Hào từ đã thích kĩ, duy chúng ta nên chú ý nhất là ở câu: Nhân kỳ thì nhi dịch. Bởi vì Cửu Tam theo về địa vị với hoàn cảnh, trên không được như Cửu Ngũ mà tại thiên, dưới không được như Cửu Nhị mà tại điền.
Nếu tài đức mình chưa được như thánh nhân mà biết thập phần cẩn thận ở đường đi nước bước, tất nhân thì mình như thế mà thì lo sự, thời tuy có nguy hiếm, mà không tội lỗi.
PHỤ CHÚ: Văn Ngôn thích sáu Hào từ, ở các hào không có chữ thì, duy Cửu Tam, Cửu Tứ lọt vào hai chữ thì là ý rất thâm thiết. Xưa nay, thánh hiền ở vào địa vị nguy hiểm, thiệt không thể đại hữu vi được, nhưng không bao giờ táng tiết trụy danh, chỉ vì biết nghĩa chữ thì mà thôi. Thì nên thối tàng thời thối tàng, thì nên im lặng thời im lặng; nhưng mà cái công phu tiến đức tu nghiệp, thời không bao giờ quên.
Xem như lời Văn Ngôn hai hào, thời học thì trung của thánh nhân chỉ là như thế.
Cửu Tứ viết: Hoặc dược tai uyên, vô cựu, hà vị dã?
Tử viết: Quân tử tiến đức tu nghiệp, dục cập thì dã.
九四: 或躍在淵, 無咎, 何謂也?
子曰:君子進德修業, 欲及時也.
Cửu Tứ này với Cửu Tam tính chất in như nhau, địa vị cũng tương tự nhau. Tam ở Hạ Quái chi thượng, Tứ ở Thượng Quái chi hạ. Kể toàn quẻ thời hai hào ấy ở địa vị chông chênh. Vậy nên xem Cửu Tam cũng có thể suy ra mà biết được Cửu Tứ. Sở dĩ, Văn Ngôn Cửu Tứ nhắc lại bốn chữ tiến đức tu nghiệp như Cửu Tam.
Nhưng khác nhau chút đỉnh là Cửu Tam thời chưa đến địa vị Thượng Quái, mà Cửu Tứ thời đã đứng vào địa vị Thượng Quái lại tiếp cận với Cửu Ngũ. Nếu nhích lên một tí, thời có thể đại hữu vi, nên Hào từ có chữ dược mà Văn Ngôn có chữ dục cập thì. Chữ dục có ý sắp sửa; cập thì nghĩa là may gặp được thì tiết hữu vi.
Bấy giờ lấy việc hai người đời xưa làm chứng. Cửu Tam thời như ông Khổng Minh khi ông còn cày ở Nam Dương nên ông có câu: Cầu toàn tính mệnh ở loạn thế. Cửu Tứ thời như ông Y Doãn, năm lần tới Kiệt, năm lần tới Thang, chỉ cân lường thì hội mà tấn thối; hay, thời ta dược, nếu chưa hay, thời ta tại uyên. Vậy nên Hào từ có chữ hoặc. Hoặc là có ý còn ngần nghĩ, mà cũng có ý nghi từ.
Công phu tấn đức tu nghiệp [của] Cửu Tứ vẫn y như Cửu Tam, mà ý tứ lựa thì tiến hành thời có khác với Cửu Tam.
Xem như lới tiết dưới càng rõ lắm.
Cửu Tứ, trùng cương nhi bất trung, thượng bất tại thiên, hạ bất tại điền, trung bất tại nhân, cố hoặc chi, hoặc chi giả, nghi chi dã, cố vô cựu.
九四, 重剛而不中, 上不在天, 下不在田, 中不在人, 故或之, 或之者, 疑之也, 故无咎.
Thiên chỉ Cửu Ngũ; điền chỉ Cửu Nhị; nhân chỉ Cửu Tam.
PHỤ CHÚ: Cửu Tam sở dĩ vô cựu là vì biết kiền kiền dịch nhược; Cửu Tứ sở dĩ vô cựu, là vì nhờ có chữ hoặc, địa vị Cửu Tứ vẫn đã có thể được rồi, nhưng còn phải ngần nghĩ đong lường nên tiến thời mới tiến. Vậy nên dùng chữ hoặc.
Cửu Ngũ viết: Phi long tại thiên, lị kiến đại nhân, hà vị dã?
Tử viết: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thủy lưu thấp, hỏa tựu táo, vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đổ. Bản hồ thiên giả thân thượng, bản hồ địa giả thân hạ, tắc các tòng kỳ loại dã.
先五曰: 飛龍在天, 利見大人, 何謂也?
子曰: 同聲相應, 同氣相求, 水流濕, 火就燥, 會從龍, 風從虎, 聖人作而萬物睹. 本乎天者親 上, 本乎地者親下, 則各從其類也.
Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thủy lưu thấp, hỏa tựu táo, vân tòng long, phong tòng hổ, sáu câu ấy là khách, là bồi sấn.
Thánh nhân tác, nhi vạn vật đổ, câu ấy là chủ, là chính, thích nghĩa Hào từ.
Tác là thích nghĩa chữ phi; đổ là thích nghĩa chữ kiến; thánh nhân là thích nghĩa chữ đại nhân.
Chương này không thích nghĩa câu một được nên phải thích tóm toàn văn, sẽ cho đầu đuôi quán triệt với nhau, tựu trung cũng phải xáo nguyên văn để cho thông suốt được ý nghĩa của thánh kinh, xin học giả nhận kĩ.
Hào từ Cửu Ngũ sở dĩ rằng: Phi long tại thiên, lị kiến đại nhân, là ý nghĩa như thế nào?
Khổng Tử sợ người học Dịch chỉ y theo mặt chữ, không thể phát minh được.
Vậy nên dùng cách thí dụ. Ngài nói rằng: Lẽ trong thiên hạ đã có cảm, tức có ứng, nhưng tức phải đồng loại với nhau, quan hệ với nhau thời cảm ứng mới mau chóng. Cửu Ngũ sở dĩ lị kiến Cửu Nhị, Cửu Nhị sở dĩ lị kiến Cửu Ngũ, thiên hạ sở dĩ lị kiến đại nhân, cũng chỉ một lẽ cảm ứng tự nhiên mà nên thế. Vẫn không ai bắt buộc ai, mà cái bắt buộc chỉ là dẫn dụ ở tâm đồng, đạo hợp mà thôi.
Ví như: con hạc mẹ kêu thời con hạc con họa lại ngay; đêm khuya một con gà gáy thời bao nhiêu con gà khác gáy theo ngay. Vì đồng một tiếng nên ứng nhau như thế. Lại ví như: Đem gương lấy lửa để dưới bóng mặt trời, thời lửa bén ngay, vì mặt trời là khí lửa nên gương lấy lửa dẫn được khí trời. Đem đá nam châm đặt gần chốn có sắt, thời dẫn được đồ sắt ngay, vì đá nam châm là mẹ đẻ ra sắt nên nó thường hút được kim khí. Hễ đồng khí thời cầu nhau như thế.
Chốn thấp là hợp với tính nước nên nước thường chảy xuống chốn thấp.
Chốn ráo là hợp với chất lửa nên lửa thường bén với chốn ráo. Hễ hợp tính thời tìm nhau như thế. Long là vật thuộc về loài dương, mà vân cũng là khí dương un nấu ra nên vân hay theo long, long hiện thời mây ùn lên. Hổ là vật thuộc về loài âm, mà phong lại là âm khí phát động nên phong hay theo hổ, hổ tới đâu thời gió hút theo
Xem như sáu cái chứng ấy, thời cơ cảm ứng rất tự nhiên, cũng rất mau chóng.
Bây giờ thịnh đức chí thành của thánh nhân cảm động được lòng người trong thiên hạ, người [trong] thiên hạ tất nhiên phải ưng ngay.
Tức như vua Thuấn là một tên dân cày ở Lịnh Sơn mà đến khi vua Nghiêu dắt ra, thời những kẻ ngục tụng âu ca ở trong thiên hạ, bỏ con vua Nghiêu mà theo vua Thuấn.
Lại như vua Lê Thái Tổ nước ta là một người dân cày ở Lam Sơn, đến khi khỏi nghĩa đánh Ngô, thời [người] hưởng ứng khắp toàn quốc, thật là một vị thánh quân xuất hiện, mà vạn vật đâu cũng nghểnh cổ trông vào.
Đó là cảm tự nhiên, mà ứng cũng tự nhiên, nên có thiên đức như Cửu Ngũ, thời tất thảy người trong thiên hạ ai nấy cũng phải lị kiến.
Bởi vì nguyên lí của loài người, theo lành tránh dữ, nhân đồng thử tâm, tâm đồng thử lí, mà thánh nhân là một người rất lành trong loài người nên thiên hạ rất vui theo, chẳng phải thánh nhân hữu tâm cầu thiên hạ, mà thiên hạ tự nhiên theo thánh nhân. Đó chỉ là tránh người bạo, theo người nhân, xa người dữ, gần người lành, vẫn là tâm lí sẵn của loài người nên cảm ứng được mau như thế. Thử xem bao nhiêu động vật tất nhiên đầu hướng về phía trên, không thấy động vật nào chân ở trên cả? Bởi vì nó là một loài gốc ở trời, đắc dương khí mà phát minh ra, vậy nên thân thượng. Lại xem Bao nhiêu thực vật, thời thường đầu hướng xuống dưới, chẳng thấy cây cỏ nào đầu ở trên cả? Bởi vì nó là một loài gốc ở đất, do âm khí mà phát sinh ra nên nó thân hạ.
Loài người gốc nguyên khí tạo hóa sinh ra vẫn là loài lành, được một người rất lành như thánh nhân, tất nhiên thiên hạ phải theo, cũng là tùng kỳ loại vậy.
Phù đại nhân giả, dữ thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thì hợp kỳ tự, dữ quỷ thần hợp kỳ cát hung, tiên thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thì, thiên thả phất vi, nhi huống ư nhân hồ, huống ư quỷ thần hồ.
夫大人者, 與天地合其德, 與日月合其明, 與四時合其序, 與鬼神合其吉凶, 先天而天弗違, 後 天而奉天時, 天且弗違, 而况於人乎, 而况於鬼神乎,
Trên là mượn các loài cảm ứng để thí dụ thiên hạ tất phải lị kiến đại nhân. Bây giờ lại hình dung cho tường tận đức của đại nhân. Hễ gọi một bậc đại nhân, tất có đức lớn như trời đất, không chốn nào không che, không vật nào không chở. Có đức sáng suốt như mặt trời, mặt trăng, không chốn nào, vật nào mà không soi rọi đến nơi. Có trí khôn sắp xếp mỗi việc, tầng thứ trước sau, đúng như thì tiết bốn mùa. Có tính khôn thiêng biết được việc lành, việc dữ in như quỷ thần, gặp việc gì ý trời muốn làm, đón trước được ý trời mà làm thì trời phải nghe theo; thấy được việc gì ý trời đã rõ rệt mà làm theo sau trời, thì quả nhiên như trời làm, thế là đại nhân. Đại nhân tức là thiên nên thiên phải nghe theo. Trời hãy còn nghe theo, mà huống gì người nữa rư.
PHỤ CHÚ: Lời Văn Ngôn tán tụng bậc đại nhân Cửu Ngũ, thật là cùng cao cực thâm, tận thiện tận mỹ, chúng ta muốn làm như bậc đại nhân ấy thật không dung dị, nhưng chúng ta phải biết, đại nhân Cửu Ngũ, tức là đại nhân Cửu Nhị, chẳng qua công phu tích lũy từ thấp tới cao.
Nếu chúng ta có học dĩ tụ chi, vấn dĩ biện chi, khoan dĩ cư chi, nhân dĩ hành chi, thời tuần tự bước lên, do hiền mà bắt chước đến thánh, do thánh mà bắt chước đến thiên, thời chúng ta cũng là một bậc đại nhân Cửu Ngũ mà thôi.
Nói tóm lại, công phu ở Cửu Nhị là tạo nhân, sự nghiệp đến Cửu Ngũ là kết quả. Chúng ta học Dịch tất phải có một cái mục đích sẽ làm đại nhân.
Tức như câu nói của Mạnh Tử: Nhân giai khả dĩ vi Nghiêu Thuấn.
Thượng Cửu viết: Kháng long hữu hối, hà vị dã? Tử viết: Quý nhi vô vị, cao nhi vô dân, hiền nhân tại hạ vị nhi vô phụ, thị dĩ động nhi hữu hối dã.
上九: 亢龍有悔, 何謂也?
子日: 貴而无位, 高而无民, 賢人在下位而无輔, 是以動而有悔也.
Sáu hào quẻ Càn, tất thảy đều có đức long, đáng lẽ là hào nào cũng tốt. Cớ sao Thượng Cửu lại nói rằng đức long đến lúc cùng cực thời hữu hối?
Thế mới biết, Dịch lí thiết yếu nhất là chữ thì.
Xử địa vị Thượng Cửu, là chỉ đã cùng cực, ở cao nhất quẻ Càn mà kỳ thực không được vị tôn.
Bởi vì hào vị đến Cửu Ngũ là tôn tột mực, té ra Thượng Cửu là vô vị. Trên hết cả mọi hào vẫn là cao, nhưng mà nhân dân chỉ lị kiến đến Cửu Ngũ mà thôi, té ra Thượng Cửu là vô dân. Tất thảy hiền nhân ai nấy đều ở vị dưới mình mà không ai lị kiến đến mình, té ra mình cô cao vô phụ (vô phụ là không ai giúp do cho mình).
Hào tượng đã như thế, chính đúng với buổi chặp tối trong một ngày, ngày ba mươi trong một tháng, mặt trời đã đến buổi gần lặn, mặt trăng đã đến buổi khuyết, dầu đức long tốt đến thế nào cũng chỉ nên thôi, [thế] mới được vô hối.
Nếu động thời tất nhiên hữu hối. Thí dụ [cho] hào này như hai hạng người sau:
Một là: Ông Thái Thượng Hoàng đời Trần là ông Trần Thái Tôn.
Một là: Ông chồng bà Vực Đa Lợi A người nước Anh.
Thế là: Quý nhi vô vị, cao nhi vô dân, hiền nhân tại hạ vị, nhi vô phụ.
Kháng chi vi ngôn dã, tri tiến nhi bất tri thối, tri tồn nhi bất tri vong, tri đắc nhi bất tri táng. Kì duy thánh nhân hồ: tri tiến, thối, tồn, vong nhi bất thất kì chính dã giả, kì duy thánh nhân hồ.
亢之為言也, 知進而不知退, 知存而不知亡, 知得而不知喪. 其惟聖人乎: 乎進, 退, 存, 亡而 不失其正也者,
其惟聖人乎.
Trên đây là giải thích lí do sở dĩ hối là vì kháng nên tiết này lại giải thích nghĩa chữ kháng cho rõ ràng.
Kháng là ý nghĩa thế nào?
Trong thiên hạ thường có một hạng người, chỉ biết lúc tiến được thì cứ tiến mà không biết lúc nên lui mà lui. Chỉ biết lúc hiện tại là đương tồn mà không biết tương lai e có lẽ vong. Chỉ biết phía được là đắc, mà không biết đến phía mất là táng.
Vì chỉ biết tiến, biết tồn, biết đắc, mà không xét đến thối, đến vong, đến táng; cứ tham tiến mà không thối, chắc rằng tồn mà không lo vong, tham đắc mà không sợ táng, thế thời xử địa vị Thượng Cửu, tất phải như ai mới khỏi hữu hối rư! Tất phải như bậc thánh nhân, biết được tiến, thối, tồn, vong, mà theo thì thuận xử, vừa đúng được đạo lí. Đương lúc tiến mà sắp sẵn một cách thối, đương lúc tồn mà đã phòng bị đến lúc vong, thấy cái đắc mà răn de đến cái táng, tác dụng vẫn có cái biến thiên luôn mà không bao giờ sai đạo lí chính. Như thế thời làm gì có kháng, mà cũng còn có việc gì hối nữa rư?
Than ôi! Địa vị như Thượng Cửu mà xử trí được hợp đạo như thế, e chỉ bậc thánh nhân mà thôi chăng.
Từ đây sắp xuống, Văn Ngôn dùng bằng cách vận văn.
Tiềm long vật dụng, dương khí tiềm tàng, hiện long tại điền, thiên hạ văn minh, chung nhật kiền kiền, dữ thì giai hành.
潜龍勿用,陽氣潜藏,見龍在田,天下文明,終日乾乾,與時皆行.
"Tàng, minh, hành, hiệp thành một vận".
Hoặc dược tại uyên, càn đạo nãi cách, phi long tại thiên, nãi vị hồ thiên đức, kháng long hữu hối, dữ thì giai cực, Càn nguyên dụng cửu, nãi kiến thiên tắc.
或躍在淵, 乾道乃革, 飛龍在天, 乃位乎天德, 亢龍有悔, 與時皆極, 乾元用九, 乃見天則.
"Cách, đức, cực, tắc hiệp thành một vận".
Vì Văn Ngôn dùng vần nên dịch nguyên văn cũng phải dùng vần:
Rồng ngầm chở dụng, là tượng hào Sơ
Khí dương ở dưới, rồng chứa mây mưa
Rồng ra ở ruộng, hào Nhị bây giờ
Rõ ràng văn hóa, khắp cả gần xa
Nửa trên nửa dưới, buổi phải âu lo
Triều càn tịch dịch, thì nghĩa rất to
Qua hào Cửu Tứ, hoặc dược tại uyên
Đạo Càn sắp đổi, từ dưới lên trên
Hào Cửu Ngũ tượng rồng bay
Đức trời tròn vẹn, đứng ngay ngôi trời
Hào Thượng Cửu, long tột vời
Ngôi cao nhưng cũng theo thì nên lui
Sáu dương đã biến cả rồi
Quần long bình đẳng, đạo trời hiển nhiên.
Càn nguyên giả, thỉ nhi hanh giả dã; lị trinh giả, tính tình dã. Càn thỉ năng dĩ mỹ, lị lị thiên hạ, bất ngôn sở lị, đại hỉ tai.
乾元者, 始而亨者也; 利貞者, 性情也.
乾始能以美, 利利天下, 不言所利, 大矣哉.
Tiết này lại thích thêm ý nghĩa Soán từ ở đầu quẻ, Càn nguyên là đức nguyên của Càn, tạo thỉ vạn vật, mà vạn vật được hanh thông.
Duy đương lúc nguyên, hanh, thời tính tình của Càn phú dữ cho vạn vật, còn chưa phát triển được hết, đến khi lị, trinh, thời giống gì, giống gì cũng thành công kết quả, thời tính tình của Càn mới phát triển đến cực điểm. Bởi vì nguyên, hanh là Càn đạo chi thỉ, lị trinh là Càn đạo chi chung, có đến lúc cuối cùng thời mới thấy được chân tính, chân tình. Vậy nên nói lị trinh giả tính tình dã.
Tuy nhiên, ở trong tứ đức, thời đức lị lại là quan kiện cho ba đức, tiếp tục đức nguyên, đức hanh mà thành tựu cho đức trinh, ấy là nhờ có lị. Mà kể đức lị to thứ nhất, thời không gì bằng đức lị của Càn. Càn đào chú ra vạn vật, chế tạo ra vạn loại, lấy những thực lị rất tốt làm lị ích cho thiên hạ mà không bao giờ kể công. Làm lị ích cho vật, chỉ là xuất ở tự nhiên, thiệt là lớn lắm vậy thay.
Đại tai Càn hồ, cương kiện, trung chính, thuần túy tinh dã.
大哉乾乎, 剛健, 中正, 純粹精也.
Tiết này là [do] Khổng Tử đã giải thích hết quái hào như trên nhưng Ngài vì tâm túy với đạo Càn nên tán tụng thêm một tầng: To lớn thay, đạo Càn vậy ôi! Đã cương kiện mà lại trung chính, mà đức cương kiện, trung chính đó, lại thuần túy mà tinh, đủ được như thế, thiệt duy đạo Càn vậy.
PHỤ CHÚ: Bảy chữ cương, kiện, trung, chính, thuần, túy, tinh mỗi một chữ hàm súc một ý nghĩa.
Cương là đức mạnh, tức là chữ dũng, nhưng mạnh mà không bền dai là không phải kiện.
Kiện nghĩa là mạnh, mà lại bền dai, tức là nghị lực.
Người có tánh dũng quyết, quả cảm gọi bằng cương, có tính nhẫn nại gọi bằng kiện, nhưng cương, kiện có lúc thái quá, có lúc bất cập, thời là bất trung. Hoặc có lúc chếch mếch về một bên, thời là bất chính. Vậy nên có đức tốt cương, kiện lại phải tất tu dưỡng cho được vô quá, vô bất cập, bất thiên, bất ỷ mới là cương, kiện, trung, chính. Nhưng đức cương, kiện, trung, chính đó lại tất phải trong như ngoài, ngoài như trong, thỉ như chung, chung như thỉ, mới là thuần túy. Đã thuần túy như vậy, nhưng còn lại phải cho tinh. Nếu cương, kiện mà chỉ như cách thầy Tử Lộ, mắc cái tệ bạo hổ bằng hà. Trung chính mà chỉ như ông Bá Di, ông Liễu Hạ Huệ, thời mắc cái tệ ải với bất cung. Thế là bất tinh. Vậy nên Khổng Tử có trách thầy Tử Lộ mà than rằng: Nhược Do dã bất đắc kỳ tử nhiên 若由也,不得其死然. Nghĩa là: Như anh Do kia, e đến nỗi kết quả cái chết [của] anh không được chánh đáng với đạo lí.
Thầy Mạnh lại có câu rằng: Bá Di ải, Liễu Hạ Huệ bất cung, quân tử bất do dã 伯夷隘,柳下惠 不恭。隘與不恭,君子不 由也.
Ải nghĩa là chật hẹp, bất cung nghĩa là ngạo đời. Bá Di vẫn là bậc thánh chi thanh, nhưng vì tật ải thái thậm, thành ra độ lượng chật hẹp, không dung nạp được người. Ông Liễu Hạ Huệ vẫn là bậc thánh chi hòa, nhưng vì quá lờn lã với người đời, thành ra một cách mục trung vô nhân. Những thái độ ấy quân tử không chịu làm đó vậy.
Dũng cảm như thầy Từ Lộ là cương, kiện mà bất tinh. Thanh, hòa như ông Di, ông Huệ, là trung chính mà bất tinh. Vậy nên, cương, kiện, trung, chính, thuần, túy mà lại kết thúc bằng chữ tinh. Đó là thâm ý của Khổng Tử, học giả học Dịch chớ bỏ lơ những ý ấy.
Lục hào phát huy, bàng thông tinh dã.
六爻發揮, 旁通情也.
Tiết này bảo cho học giả, muốn tu dưỡng được đức Càn thời cần trước phải có học vấn. Nghĩa như: Đọc sáu hào quẻ Càn, phải nhận kĩ Hào từ mà biết được ý nghĩa trong sáu hào, đã phát minh, khươi móc hết các lẽ mà suy rộng ra, thời bao nhiêu nhân tình, vật tính, có thể tứ bề thông thấu hết cả.
Thì thừa lục long dĩ ngự thiên dã, vân hành vũ thí, thiên hạ bình dã.
時乘六龍, 以馭天也, 雲行雨施, 天下平也.
Tiết này là ý Khổng Tử muốn cho những người học Dịch nên nêu cái mục đích cho rất cao, trông làm được như bậc thánh nhân Cửu Ngũ; lục long là sáu dương hào, thì thừa lục long là chiếu theo sáu vị dương hào, xử vào thì hào nào thời đúng như hào ấy. Ngự nghĩa là thống trì; ngự thiên nghĩa là thống trì lấy những công việc trời giao mình, câu ấy là thủ đoạn của thánh nhân.
Vân hành là mây đi; vũ thí là mưa rắc rưới khắp; thiên hạ bình là các vật các đắc kỳ sở, người trong thiên hạ tất thảy cân bằng như nhau, không một người nào chịu cái khổ bất bình. Đó là công dụng của thánh nhân, mà cũng là công dụng của đức Càn, Càn thỉ nhi hanh, đến lúc đó là lị, trinh vậy.
Quân tử dĩ thành đức vi hạnh, nhật khả kiến chi hạnh dã.
君子以誠德為行, 日可見之行也.
Nói tóm lại, người quân tử, muốn cho đúng với đạo Càn, tất phải tiến tu cho đến thành đức, có thành đức sẵn ở trong, suy ra làm việc thiên hạ, ngày nào, ngày nào cũng có thể biểu hiện được đức mình ra ở nơi thực hành vậy.
02. QUẺ BÁT THUẦN KHÔN
Khôn trên; Khôn dưới
Quẻ này là quẻ Bát Thuần Khôn.
Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Khôn thượng cũng là Ngoại Khôn.
Quẻ này sáu nét tất thảy là nét Âm, là tượng về thể đất, mà lại hoàn toàn thuộc về chất nhu thuận nên đặt tên quẻ bằng Khôn. Ba nét âm ở dưới là Khôn hạ, cũng là Nội Khôn; ba nét âm ở trên là Khôn thượng, cũng là Ngoại Khôn. Khôn, nghĩa là thuận.
Từ đây sắp xuống là Soán từ của Văn Vương.
SOÁN TỪ
Khôn, nguyên, hanh, lị tẩn mã chi trinh, quân tử hữu du vãng. Tiên mê hậu đắc, chủ lị, Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng hằng, an trinh, cát.
坤元亨, 利牝馬之貞, 君子有攸往. 先迷
後得, 主利, 西南得朋, 東北喪朋, 安貞, 吉.
Toàn bộ Dịch, gốc chỉ nhất âm, nhất dương. Nhất dương là gốc ở Càn, nhất âm là gốc ở Khôn. Vì có đức Khôn, đức Càn mới tạo thành được vạn vật, nên Càn, Khôn đủ cả tứ đức, nhưng mà Càn Khôn có khác nhau chút đỉnh. Càn là hoàn toàn đức Kiện, thuộc về tính chất con trai. Khôn, là hoàn toàn đức Thuận, thuộc về tính chất con gái.
Vậy nên Soán từ Văn Vương có khác nhau. Soán từ ở quẻ Càn thời rằng: Nguyên, Hanh, Lị, Trinh. Bây giờ Soán từ quẻ Khôn thời lại rằng: Thuần Âm cực thuận như đức Khôn, vẫn cũng đủ nguyên khí tại thỉ được vạn vật là Nguyên, vẫn cũng có công dụng, khiến cho vạn vật được phát đạt là Hanh, nhưng vì bản chất Khôn là âm, bản tính Khôn là thuận nên chỉ thừa thuận với Càn. Càn kiện hành đến bao nhiêu, thời Khôn cũng phải kiện hành đến bấy nhiêu, theo đức kiện hành của Càn mà tiến hành bất tức.
Thí dụ: Bằng loài vật, thời tượng như con ngựa cái; ngựa là giống đi mạnh, nhưng ngựa cái là giống thừa thuận với ngựa đực. Vậy nên nói rằng: Lị tẩn mã chi trinh. Nghĩa là: Khôn thuận theo như Càn, mới là trinh chính, mà làm lị ích cho vạn vật được.
Trên đây là thích tượng quẻ Khôn.
Từ đây sắp xuống lại bày dạy cho người học quẻ Khôn. Những người quân tử xem xét ở nơi mình, nếu đúng vào địa vị quẻ Khôn thời mình có làm những việc gì mà thủ xướng trước người ta tất nhiên lầm lỗi; mình chờ có người thủ xướng trước mà theo làm sau tất nhiên được thuận tiện, với lại trong khi mình tiến hành đó, chỉ cốt làm lị ích cho vạn vật, nên nói rằng chủ lị, nghĩa là chỉ tuân theo chương trình, mà không phải sắp đặt kế hoạch vậy.
Còn như đường lối, phương hướng, thời Khôn không thể phân bì được với Càn. Càn là thông ngữ được cả trời nên đi vào chốn nào cũng không quản ngại. Còn như Khôn, thời địa vị tự nhiên với chức vụ đương nhiên thảy phải có hạn lượng nên đường đi nước bước, phải nhìn theo cho đúng loài mình.
Tỉ như: Đi vào phương Tây Nam là âm phương, thời được bầy bạn; đi vào phương Đông Bắc là dương phương, thời mất bạn bầy. Vậy nên có câu: Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng.
Hai câu ấy là nói: Đi phải chọn phương, ngồi phải xem hướng, tìm cho được bạn đồng tâm đổng đức với mình thời mới theo, chính là phương dĩ loại tụ. Không phải là hạn định Tây Nam với Đông Bắc đâu. Bởi vì tính âm nhu thuận, xu hướng thường hay không vững vàng, không nhất định nên thánh nhân mới thiết ra câu răn này, trông cho những người tánh Khôn, thể Khôn, xu hướng cần phải kén chọn cho chắc chắn. Nếu không thế thời mắc cái lỗi táng bằng, mà kết quả không đắc bằng.
Xem Soán từ cuối cùng có câu: An trinh cát, thời càng rõ lắm. An trinh nghĩa là bền giữ đức trinh chính. Bởi vì đức Khôn tuy vẫn Nguyên, Hanh như Càn, nhưng mà tính chất riêng của Khôn, là thuần âm cực nhu nên phải thừa thuận với Càn, tự thỉ chí chung, kiên cố bất dịch, ấy là An, Trinh.
Nếu được như thế, thời Khôn nhờ có Càn mà vạn vật tạo thỉ. Càn lại nhờ có Khôn, mà vạn vật hoàn thành viên mãn, không còn gì là khuyết điểm. Ba chữ an trinh, cát, là nghĩa vụ của Khôn, mà chính là bổ trợ cho Càn. Càn nhờ có Khôn, mà công việc sinh thành vạn vật mới hoàn mãn.
Vậy nên ở quẻ Càn chỉ nói Nguyên, Hanh, Lị, Trinh, mà không chữ cát; đến quẻ Khôn mới thêm vào chữ cát, nhƣng mà Cát lại nhờ ở an trinh, ấy là Càn, Khôn hỗ trợ nhau mà làm nên công nghiệp rất lớn, suy từ một nhà, một nước đến một xã hội, một thế giới, thảy phải như thế. Nếu chỉ có Càn mà không có Khôn, thời không bao giờ cát; nếu chỉ có Khôn mà không thừa thuận với Càn, thời cũng không bao giờ cát.
Chúng ta nghiên cứu cho kĩ Soán từ hai quẻ, thời biết được thâm ý của thánh nhân rất chú trọng vào chữ trinh.
Trinh, nghĩa là chính, mà bền vững. Nếu hoặc không chính, hay là chính mà không bền vững, thời Càn bất thành Càn, mà Khôn cũng bất thành Khôn, làm họa hại cho xã hội, quốc gia chỉ vì cớ ấy.
Từ đây sắp xuống là Soán Truyện của Khổng Tử:
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên. Khôn hậu tải vật, đức hợp vô cương, hàm hoằng quang đại, phẩm vật hàm hanh, tẩn mã địa loại, hành địa vô cương, nhu thuận lị trinh, quân tử du hành. Tiên mê thất đạo, hậu thuận đắc thường, Tây Nam đắc bằng, nãi dữ loại hành, Đông Bắc táng bằng, nãi chung hữu khánh, an trinh chi cát, ứng địa vô cương.
彖曰: 至哉坤元, 萬物資生, 乃順承天. 坤厚载物, 德合無疆, 含弘光大, 品物咸亨, 牦馬地類, 行地無疆, 柔順利貞, 君子攸行. 先迷失道, 後順得常, 西南得朋, 乃與類行, 東北喪朋, 乃中有 慶, 安貞之吉, 應地無疆.
Soán viết: Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên.
Tiết này là thích đức Nguyên của Khôn, Khôn là đất, vậy nên lấy địa đạo làm giải thích quẻ Khôn.
Trước kia thích đức Nguyên của Càn rằng: Đại tai, nghĩa là to lớn không chừng mực; mà Khôn thời không được như Càn, vẫn có chừng mực, nhưng chừng mực thế nào, thời đến thế ấy, không một phân, một li sót thiếu, nên Soán Truyện tán rằng: Đến nơi vậy thay! Là đức Nguyên của Khôn. Vạn vật nhờ đức Nguyên của Khôn mà sinh nở, mới là thuận thừa đức Nguyên của trời.
PHỤ CHÚ: Trên kia nói vạn vật tư thỉ, đây thời nói vạn vật tư sinh, đạo lí có một gốc, mà công dụng thời có hai tầng. Thỉ là gây tạo ở vô hình, thuộc về phần khí. Sinh là vật nắn ra cái hữu chất, là thuộc phần hình. Thí như: Khí đứa con là công của cha, hình đứa con là công ở mẹ, xem đó thời biết được nghĩa tư sinh (Tư nghĩa là nhờ cậy; thỉ nghĩa là gây đầu; sinh nghĩa là đẻ ra).
Khôn hậu tải vật, đức hợp vô cương, hàm hoằng quang đại, phẩm vật hàm hanh.
Tiết này là thích đức Hanh của Khôn. Khôn vì có đức dày, chở đỡ được muôn vật, cái đức dày đó, không thể đo lường được, cũng to lớn in như đức Càn. Vậy nên Khôn phối hợp với Càn. Vì đức Khôn phối hợp với Càn mà vạn vật ở trong vũ trụ, chứa trữ rộng rãi, rực rỡ lớn lao, tất thảy bao nhiêu phẩm vật, nhờ sinh khí tự nhiên, mà trưởng thành phát đạt. Ấy là nhờ đức Hanh của Khôn vậy.
Tẩn mã địa loại, hành địa vô cương, nhu thuận lị trinh.
Soán từ sở dĩ có câu: Lị tẩn mã chi trinh. Bởi vì Khôn là tượng đất, tính Khôn vẫn thuận, mà thể đất vẫn lăn chuyển không nghỉ, tượng như ngựa có tính đi đường xa không nghỉ. Khôn là chất thuận mà có tính kiện, tượng như con ngựa cái. Vẫn tẩn mã là thuộc về loài địa mà được đi trên mặt đất, không chừng nào nghỉ. Vì đức Khôn như thế, mà quân tử bắt chước lấy Khôn, thời cũng nhu thuận và lị trinh in nhƣ đức Khôn vậy. Tiết này là thích chữ lị, trinh trên Soán từ.
Quân tử du hành, tiên mê thất đạo, hậu thuận đắc thường, Tây Nam đắc bằng, nãi dữ loại hành, Đông Bắc táng bằng, nãi chung hữu khánh, an trinh chi cát, ứng địa vô cương.
Bây giờ Soán Truyện lại dạy cho những người học Dịch, y theo Soán từ mà rằng: Quân tử có hành động việc gì, nếu thủ xướng trước thời mê mà đến nỗi lạc đường; biết thừa thuận ở sau, thời được đạo lí thường. Tây Nam thời đắc bằng là đi với người đồng loại cùng mình. Nếu đi về phương Đông Bắc thời táng bằng. Biết kén chọn phương hướng như thế, thời phương lành ta theo, phương dữ ta tránh, mới kết quả được phúc tốt. An trinh chi cát, ứng địa vô cương, nhưng tất phải an giữ đức trinh thời mới được cát, in như địa đạo vô cương vậy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Địa thế Khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật.
象曰: 地勢坤, 君子以厚德裁物.
Xem quẻ Khôn này, sáu hào rành âm, từ trên xuống dưới tầng lớp chồng nhau, tượng như thể đất dày mà lại thuận, cao thấp tầng thứ tiếp nhau, chở đỡ muôn vật, không giống gì ở trên đất mà đất chối từ, ấy là Khôn. Quân tử học chước tượng quẻ Khôn nên lấy đức rộng lớn sâu dày, mà dung chở loài người.
Hậu nghĩa là dày; tải nghĩa là chở.
PHỤ CHÚ: Đức Càn tốt nhất, là vì tính kiện, vì kiện nên mạnh bền không mỏi, quân tử học chước Càn, mà tự cường bất tức. Đức Khôn, tốt nhất là vì tính hậu, vì hậu nên bền chặt dày dặn. Quân tử học chước Khôn mà hậu đức tải vật. Ấy là phương pháp chúng ta học Dịch. Xem hai quẻ Càn, Khôn, thời suy ra các quẻ khác cũng như thế.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Lí sương, kiên băng chí.
初六: 履霜, 堅冰至.
Hào này là vạch thứ nhất ở dưới hết quẻ, thế là Sơ, mà lại hào đứt đôi là sách, sách là âm hào, thể là Lục nên gọi nó bằng Sơ Lục.
Số âm kể nghịch, từ bát nghịch đến lục. Lục là thành số chi chung. Vậy nên, kể hào âm thời gọi bằng Lục. Hào Sơ Lục này là hào âm đầu hết Kinh Dịch, nhưng kể vào quẻ Khôn, thời lại là hào âm mới sinh ở dưới hết. Nguyên lai chân lí trong Kinh Dịch, thông thường kể dương là thiện, âm là ác, dương chủ sinh, âm chủ sát, dương là quân tử, âm là tiểu nhân. Tuy Dịch đạo biến hóa, không phải chấp nhất như thế, nhưng mà theo về lí thường, thời nhất định như thế. Tỷ như: Dương là con trai, âm là con gái, vạn cổ bất dịch.
Thánh nhân thấy hào này là một hào âm mới sinh, một phương diện xem ở Thiên Đạo, một phương diện xét ở nhân sự mà suy ra rằng: Hào âm này tuy mới sinh, nhưng tình hình càng ngày càng nảy nở thêm mãi, âm sinh đến Thượng Lục thời tất nhiên cướp hết phần dương, cũng in như bắt đầu mới có một đứa tiểu nhân, thời những loài quân tử tất có một ngày vì nó mà bị tiêu diệt. Thánh nhân biết đạo lí như thế, mới răn cho chúng ta. Hễ làm một việc gì, dùng một người nào, tất phải cẩn thận ở lúc đầu tiên, đề phòng ở khi mới măng mậm. Cũng ví như dưới chân mới đi đạp dấu sương mà nghĩ đến âm hàn đã sắp tới nơi, chắc chẳng bao lâu mà giá dày tới đó vậy.
Sương là khí lạnh khi đầu ngưng kết, mà thành ra từng điểm; chân đi giẫm lấy sương là điềm báo cho mình biết âm hàn đã gần tới nơi. Kiên băng là hàn lạnh chi cực, nước lạnh đóng thành giá cứng.
Từ lúc có sương cho đến khi có giá, tuy trải qua thì giờ khá lâu, nhưng mà đã có sương tất sẽ đến khi có giá, có tạo nhân mới có kết quả, không bao giờ sai lầm. Thánh nhân dạy cho người ta, ngăn loài ác, tất phải ngăn ở khi ác còn nấp; phòng việc họa, tất phải phòng ở khi họa chưa rõ.
Vậy có Hào từ Sơ Lục.
Tượng viết, Lí sương kiên băng, âm thỉ ngưng dã, tuần trí kỳ đạo, chí kiên băng dã.
象曰: 履霜堅冰, 險始凝也, 馴致其道, 至堅冰也.
Hào từ Sơ Lục rằng: Lí sương là lúc đầu khí âm mới ngưng kết mà làm sương vậy, nhưng mà dần dà tích lũy cho đến khi cùng cực đạo âm, tất cũng đến nỗi giá bền vậy.
PHỤ CHÚ: Ý Hào từ này rất vi diệu, [nỗi] khổ tâm [của] thánh nhân vì người rất thâm thiết. Hễ việc thiên hạ, loạn chẳng phải sinh ở lúc loạn, mà thường sinh ở lúc thịnh trị; họa chẳng phải sinh ở lúc họa, mà thường sinh ở lúc phúc. Bởi vì trong lúc trị với phúc thường có một cái măng mậm rất nhỏ nảy nở ra là cái mầm họa với loạn ở lúc tương lai.
Cái mầm đó là ý nghĩa chữ lí sương. Vì chúng ta không biết phòng vi đậu tiệm mà để cho cái mầm ấy càng ngày càng lớn thêm. Thế là gây ra loạn, rước lấy họa chính từ lúc đó, tức là ý nghĩa chữ kiên băng chí đó vậy.
Kinh Thư nói rằng: Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi 人心惟危, 導心惟微. Nghĩa là: Lòng thuộc về nhân dục rất nguy hiểm, lòng thuộc về đạo lí rất mầu nhiệm. Chúng ta thường quên lửng ở nơi mầu nhiệm, mà mắc sụp lấy nguy hiểm, ấy là không biết răn ở nơi lí sương, mà mắc lấy họa kiên băng vậy.
2. Lục Nhị: Trực phương đại, bất tập, vô bất lị.
六二: 直, 方, 大, 不習, 無不利.
Hào này âm hào ở âm vị, là đắc chính. Nhị ở giữa Hạ Quái là đắc trung, thuộc về thể Khôn là nhu thuận. Vì ở vào thì tiết, địa vị quẻ Khôn nên nhu thuận mà lại trung chính, thiệt là một vị quân tử. Ở trong thời có đức ngay thẳng là Trực, ở ngoài thời có nết vuông vức là Phương, mà lại quy mô lớn, độ lượng rộng, là trực phương mà đại. Thịnh đức của bậc người ấy như thế, mà lại nhờ nguyên chất in như đức Khôn tự nhiên nhi nhiên, chẳng cần phải học tập khó khăn, mà làm việc gì việc gì, cũng thuận với đạo lí.
PHỤ CHÚ: Hào từ như hào này vẫn là tận thiện tận mỹ, nhưng sở dĩ tận thiện tận mỹ, là cốt ở hai chữ "Trung", "Chính". Nếu nhu thuận mà không trung chính, e có lúc thành ra nhu hiểm tiểu nhân mà thôi. Chúng ta học Dịch, chớ bỏ suông hai chữ Lục Nhị. Nhị là trung, Lục cư Nhị là chính.
Tượng viết: Lục Nhị chi động, trực dĩ phương dã, bất tập vô bất lị, địa đạo quang dã.
象曰: 六二之動, 直以方也, 不習, 無不利,
地道光也.
Tượng Truyện phát minh ý của Hào từ nói rằng: Lục Nhị này chẳng phải thuần nhiên nhu tịnh, thể vẫn tịnh mà dụng thời động.
Nhân vì có đức trung chính nên khi hành động, chỉ thấy ở trong thẳng, ngoài vuông.
Lại vì đúng với đạo Khôn, hữu chư trung, hình chư ngoại 有諸中, 形諸外 phát triển rõ ràng. Vậy nên bất tập vô bất lị.
PHỤ CHÚ: Tôn Chân Nhân có câu: Hạnh dục phương, trí dục viên 行欲方, 智欲圓, nghĩa là: Tính nết tất muốn cho vuông chính, mà trí khôn lại muốn cho viên hoạt, chữ phương này tức chữ phương ở Lục Nhị. Bất tập vô bất lị tức là trí viên mãn cực điểm. Viên nghĩa là tròn; hoạt nghĩa là trơn chảy.
3. Lục Tam: Hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung, 六三: 含章可貞, 或從王事, 無成有終.
Hào Lục ở vị Tam, theo như quẻ khác, thời là bất chính. Bởi vì âm hào ở dương vị, không thể gọi bằng chính được, nhưng ở vào quẻ Khôn, thời hào nào cũng có đức Khôn. Bây giờ âm nhu, mà pha vào tính cương kiện, lại có thể cho là thêm tốt, đó cũng là lí biến hóa ở trong Dịch đạo.
Vậy nên Hào từ nói rằng: Lục Tam này ngồi trên Hạ Quái, đúng vào vị nhân thần, mà bản thân nó lại tính như đái cương, lại là đức tốt.
Duy vì đạo làm tôi, chỉ nên hàm súc lấy điều tốt mình, chớ nên khoe khoang lòe loẹt. Thế mới là có thường mà được chính, có khi đi theo kẻ trên mình mà làm việc nước, thời phải giữ phần khiêm nhượng, lo hết nghĩa vụ của mình mà chớ chuyên thành công, như thế thời mới hoàn toàn là hữu chung (Hữu chung nghĩa là có kết quả mỹ mãn).
Tượng viết: Hàm chương khả trinh, dĩ thì phát dã, hoặc tòng vương sự, tri quang đại dã. 象曰: 含章可貞, 以時發也, 或從王事, 知光大也.
Lời Tượng Truyện bổ túc ý nghĩa Hào từ nói rằng: Hào từ tuy bảo hàm chương khả trinh, nhưng mà đức chương mỹ còn hàm súc lại đó, há phải không phát triển đâu. Hễ đã hữu chư trung tất hình chư ngoại. Duy tự mình phải giữ cho trinh chính, thì đáng hối mà hối, thì đáng hiển mà hiển (hiển nghĩa là rõ rệt, hối nghĩa là che lấp), chắc cái chương mỹ cũng có thì phát triển tới nơi. Hoặc tòng vương sự, mà được hữu chung, đó là nhờ đức trí của Lục Tam này sáng suốt lớn lao. Vậy nên, giữ được nghĩa vụ vô thành, mà hưởng được quyền lị hữu chung.
PHỤ CHÚ: Đọc Tượng Truyện hào này nên chú ý vào chữ "thì phát". Như Lục Tam ở quẻ khác là bất chính mà xấu, mà ở vào quẻ Khôn thời lại chương mỹ, phát triển được chương mỹ, thời cũng nhờ ở thì quẻ Khôn mới hay. Đó là nghĩa chữ thì ở Dịch.
4. Lục Tứ: Quát nang, vô cựu, vô dự. 六四: 括囊, 無咎, 無譽.
Theo về toàn quẻ Khôn mà nói thời nhu thuận vẫn là đức tốt, nhƣng theo về đạo lí toàn thể loài người và theo về địa vị từ mỗi hào, thời âm nhu lại không ví được [với] tính cương kiện. Cương kiện mới là người có tài, nhu thuận thời chưa chắc đã có tài. Huống gì Lục là âm mà lại xử vào địa vị bất trung, lại ở vào quẻ Thuần Âm, thành ra một hạng người nhu thuận hữu dư, cương đoán bất túc. ấy là hạng người vô tài, mà lại ở vào vị trên gần Lục Ngũ, tượng là đại thần cận quân, tài quá thấp mà vị quá cao, càng nguy hiểm lắm. Ai xử vào địa vị hào này chỉ nên giữ bề thận mặc, an phận thủ thường, cũng như cái đãy mà thắt miệng đãy lại, nghĩa là kín đáo giữ gìn may ra khỏi tội lỗi nhưng cũng không danh dự gì.
Tượng viết: Quát nang vô cựu, thận bất hại dã. 象日: 括囊无咎, 愼不害也.
Tài hèn sức nhỏ, mà ở vào địa vị nguy nghi, tất phải cẩn thận hết sức mới được khỏi họa hại. Đó là nghĩa câu quát nang vô cựu vậy.
PHỤ CHÚ: Hào từ quẻ Càn với Hào từ quẻ Khôn, tài đức vẫn khác nhau, mà địa vị với hoàn cảnh thời in nhau. Duy vì hào Tứ quẻ Càn có đức cương kiện, còn có thể hữu vi được, nên Hào từ có chữ "hoặc dược" mà tượng từ có câu "tiến vô cựu đã". Đến như hào Tứ quẻ Khôn, thời âm nhu thái quá, được vô cựu là may, nên Hào từ bảo phải quát nang mà Tượng từ lại có câu: "Thận bất hại đã". Đó là đồng một địa vị mà tài đức khác nhau, thời kết quả cũng khác nhau vậy.
5. Lục Ngũ: Hoàng thường, nguyên cát. 六五: 黄裳, 元吉.
Hào Ngũ là vị chí tôn ở trong quẻ. Ngũ lại là đắc trung, âm nhu mà đắc trung, lại là hợp với đức Nguyên của Khôn.
Có đức Nguyên như thế mà ở vào địa vị rất cao, chắc là đức xứng kỳ vị, tất kết quả được tốt lành, nên Hào từ nói rằng: Hoàng thường, nguyên cát, nghĩa là: Lục Ngũ này giữ được đức trung, không thái quá, cũng không bất cập, sở dĩ thủ tượng bằng sắc hoàng; giữ phận khiêm hạ không tự tôn tự cao, sở dĩ thủ tượng bằng cái xiêm. Vậy nên hợp với đức đại thiện, mà kết quả chắc tốt lành.
Hoàng là sắc vàng, là sắc trung ở năm sắc. Thường là cái xiêm, là đồ mặc ở dưới thấp.
Tượng viết: Hoàng thường, nguyên cát, văn tại trung dã.
象曰: 黄裳元吉, 文在中也.
Hào từ sở dĩ thủ tượng bằng hoàng thường, mà lời đoán bằng nguyên cát là vì Lục Ngũ này có đức văn minh, đốc thực mà lại quang huy, đức văn tiềm ẩn ở trong, mà phát hiện ra ngoài. Thế mới nguyên cát.
PHỤ CHÚ: Hai chữ nguyên cát có nghĩa là đại thiện mà lại cát, là chữ tốt nhất của lời đoán ở trong Dịch, nhưng vì sao quẻ Càn chưa thấy, mà lại bắt đầu thấy ở hào Ngũ quẻ Khôn?
Tượng Truyện mới phát minh ý nghĩa rằng: Văn tại trung dã. Thâm ý cốt nhất ở chữ trung. Chữ trung có hai nghĩa:
Một nghĩa là: Trung là đức trung, không thái quá, không bất cập.
Lại một nghĩa là: Trung là phía trong, phản đối với chữ ngoại. Văn tại trung, là có văn học tài hoa mà lại không thái quá, không bất cập. Nếu văn mà thái quá, té ra văn thắng chất, mà thường thành ra hạng người phù hoa, sở dĩ văn cốt tại trung, đó là một nghĩa.
Lại còn một nghĩa càng thâm thiết cho người đời. Văn là một giống rất đẹp, văn minh là một giống rất tốt, nhưng văn minh ở ngoài, trước phải văn minh ở trong.
Văn minh ở trong, là giống gì? Là đạo đức, là tinh thần.
Văn minh ở ngoài là giống gì? Là tài hoa, là vật chất.
Nếu chỉ có tài hoa, vật chất, mà không đạo đức tinh thần, té ra chỉ phấn sức ở ngoài, không gọi bằng văn được. Sở dĩ nói Văn tại trung dã, nghĩa là văn cốt ở trong vậy. Da cọp vẫn vẻ vang, lông phượng hoàng vẫn rực rỡ, mà không thoát khỏi vòng cầm thú, là vì nó chỉ có văn ở phía ngoài, mà phía trong vẫn lòng chim, dạ thú. Vậy nên văn của nó chỉ là văn bỏ đi. Chúng ta học ba chữ văn tại trung nên hết sức bồi dưỡng đạo đức tinh thần, trau dồi lấy văn phía trong, sau lại bổ thêm tài hoa vật chất cho đầy đủ văn phía ngoài, ấy là trong văn mà ngoài mới văn, góc nhánh tươi tốt, đủ trái đủ hoa. Thế mới là đại thiện chi cát, chi trông mong cho người học Dịch, chớ học thoáng qua một chữ mà thôi.
6. Thượng Lục: Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng.
上九: 龍戰于野, 其血玄黄.
Lục là âm hào, hào này là vạch trên hết quẻ Khôn, là âm thịnh đến cực điểm.
Tòng lai, âm không bao giờ tranh được dương, nhưng mà lí trong thiên hạ, kể hai vật đã địch với nhau, thời tất tranh nhau, huống gì âm lại là tượng phản với dương. Bây giờ âm đã thịnh cực, thế lực đã cân địch với dương, tất đến nỗi tranh thắng với dương, nhưng vì dương cũng thịnh cực, cũng chẳng chịu thua âm, âm dương hai bên tranh nhau, mà hai bên thảy cùng thua cả, thành ra lưỡng bại câu thương, ấy là tượng "long chiến vu dã, kì huyết huyền hoàng".
Long là dương, dương tranh với âm nên nói rằng: Long chiến. Khi đã chiến rồi, thời cuối cùng hai bên cũng bị họa lưu huyết nên nói rằng: Kì huyết huyền hoàng.
Huyền là sắc trời, hoàng là sắc đất, lấy hai chữ "huyền hoàng" mà hình dung tượng âm, dương. Lúc đánh nhau chảy máu, trộn cả máu huyền, máu hoàng, là tượng âm, dương đồng thời bị hại. Hào từ này là thâm ý của thánh nhân cốt dạy cho người ta: Phàm sự gì cũng xem vừa chừng thời nên thôi, chớ nên để đến lúc cùng cực. Nếu để đến lúc cùng cực, tất có biến tượng phát sinh ra.
Hào từ quẻ Càn Thượng Cửu nói: Kháng long hữu hối, là họa bằng dương thịnh cực. Hào từ Thượng Lục quẻ Khôn có chữ chiến, chữ huyết, là họa bằng âm thịnh cực. Nếu chúng ta biết cùng tắc biến, biến tắc thông thời tránh khỏi được những họa ấy.
Tượng viết: Long chiến vu dã, kỳ đạo cùng dã. 象曰: 龍戰于野, 其道窮也.
Hào từ sở dĩ nói long chiến vu dã là vì đạo âm nhu của Khôn đã đến lúc thịnh chi cực, ấy là cùng, cùng thời tranh với dương. Vậy nói long chiến.
PHỤ CHÚ: Nguyên lí ở trong vũ trụ, âm dương vẫn phải nhờ nhau luôn, nhưng tất phải dương phần hơn, âm phần kém.
Nghĩa như: quân tử với tiểu nhân vẫn có nhờ nhau luôn, nhưng tất phải quân tử có thế mạnh, tiểu nhân có thế yếu. Bởi vì quân tử mạnh mà tiểu nhân yếu thời tiểu nhân mới phục tòng với quân tử, mà thế giới mới hòa bình. Nếu tiểu nhân cũng bằng ngang quân tử, thời tất nhiên tranh nhau, mà thế giới đến gây ra họa loạn; còn như dương hơn, âm kém, thời âm phải phục tòng với Dương, mà vạn vật mới được sinh dục. Nếu âm dương cân địch với nhau thời âm chống với dương, mà vạn vật cũng bị ảnh hưởng vì họa loạn.
Tiền hiền có câu: Dịch dĩ thiên đạo minh nhân sự 易以天導明人事, nghĩa là: Sách Dịch là lấy đạo trời mà tỏ bảo việc người, là nghĩa như thế.
7. Dụng Lục: Lị vĩnh trinh. 用六: 利永貞.
Càn, Khôn thảy sáu hào thời hết quẻ, dầu quẻ khác cũng vậy, nhưng đạo Dịch, thời không bao giờ cùng, cùng thời biến, là để cho thông cái cùng. Càn có thể biến làm Khôn, Khôn có thể biến làm Càn. Vậy nên thánh nhân mới đặt thêm hai hào. Ở Càn có hào Dụng Cửu, ở Khôn có hào Dụng Lục, là tỏ cho người ta biết đạo Càn, đạo Khôn không phải đến sáu hào là hết.
Bây giờ thích Hào từ. Vì cớ sao mà đặt tên bằng Dụng Lục?
Bởi vì thông lệ trong Kinh Dịch, kể đến Âm, thời dụng số Lục mà không dụng số Bát. Vì nguyên số âm là ba thành số (Thập, Bát, Lục), mà kể số âm lại phải kể ngược, đến Lục là thành số chi chung. Vậy nên âm hào Dụng Lục.
Hào Dụng Lục này là sáu hào Khôn, tất phải biến làm sáu hào Càn, tượng một người nhu nhược biến thành một người cương cường; có đức cương cường, trinh cố mới hay biến hóa được khí chất như thế. Vậy nên Hào từ nói rằng: Lị vĩnh trinh.
Lị, nghĩa là phải; vĩnh nghĩa là lâu dài; trinh nghĩa là chính vừa bền.
PHỤ CHÚ: Hào từ này đã tán vĩnh trinh lại được chữ lị, đó là vì âm mà biến thành dương, tức là nhu mà biến thành cương, mới được như thế.
Sách Trung Dung có câu: Tuy ngu tất minh, tuy nhu tất cường 雖愚必明, 雖柔必強, nghĩa là: Một người nguyên vẫn ngu ám nhu nhược nhưng nhờ công phu học vấn, hết sức lo trí tri lực hành thời kết quả ngu ám biến ra thông minh, nhu nhược biến ra cương cường. Học giả biến hóa được khí chất mình, chính như Dụng Lục vậy.
Tượng viết: Dụng Lục vĩnh trinh, dĩ đại chung dã.
象曰: 用六永貞, 以大終也.
Thông lệ ở Dịch lí, đại thuộc về phần Dương, tiểu thuộc về phần Âm. Hào này sở dĩ thuộc vĩnh trinh là vì Thuần Âm biến làm Thuần Dương. Thế là nguyên chất vẫn tiểu mà trải qua biến hóa lần lần đến cuối cùng thời là đại. Tiểu mà hóa nên đại, là một hạng người tạo thời thế rất hay đó vậy.
VĂN NGÔN
Từ đây sắp xuống là Khổng Tử muốn phát huy cho hết ý nghĩa Soán Truyện, nên lại làm thêm Văn Ngôn, cũng như quẻ Càn.
Văn Ngôn viết: Khôn chí nhu nhi động dã cương, chí tịnh nhi đức phương, hậu đắc chủ nhi hữu thường, hàm vạn vật nhi hóa quang. Khôn đạo kỳ thuận hồ, thừa thiên nhi thì hành.
文言曰: 坤至柔而動也剛, 至靜而德方,
後得, 主利而有常, 含萬物而化光. 坤道其順乎, 承天 而時行.
Nguyên văn tiết này thảy có sáu câu, nếu thích luôn thời sợ học giả không hiểu nghĩa nên phải thích chia làm bốn đợt.
Nghĩa hai câu thứ nhất Khôn chí nhu, nhi động đã cương, chí tịnh nhi đức phương: Khôn là thể đất, là địa đạo, tính tình tuy rất nhu thuận mà đến khi tác dụng thời lại hay chuyển động vận hành, chở đỡ được muốn giống, phát sinh được mọi loài, cũng cương kiện không khác gì Càn. Thái độ vẫn lặng lẽ, mà phú dự các vật hình, vật nào vật nấy nhất định bất dịch, xem ở nơi con mà biết được đức tính mẹ, thời biết đức Khôn là vuông.
Vả lại đức nhu, tính thuận nên chí thuận cho theo đạo trời mà sau được thành công, chủ làm 1ị ích cho vạn vật, không bao giờ thay đổi.
Hàm vạn vật nhi hóa quang: Mấy câu trên là thích chữ lị trinh ở trên Soán từ, câu này mới thích nghĩa chữ hanh. Vì có đức Khôn giúp đỡ cho đức Càn nên ở trong lưỡng gian bao bọc chứa trữ khắp cả vạn vật, mà tạo hóa càng thêm rõ ràng, rộng lớn.
Khôn đạo kỳ thuận hề, thừa thiên nhi thì hành: Hai câu này là nói tóm. Xem ở mấy câu đã thuyết minh ở trên thời đạo Khôn là đức thuận đó mà thôi. Thuận thừa với đức nguyên của trời, đức nguyên của trời thì đạo vạn vật, đức nguyên của Khôn thừa tiếp trời dưỡng thành vạn vật mà vẫn cứ theo thì tấn hành luôn. Ấy là đạo Khôn vậy.
PHỤ CHÚ: Xem ba chữ động dã cương thời đất vẫn là tính động, há phải nằm chết một bề đâu. Xem hai chữ đức phương thời vuông là đức của đất, nghĩa là phú hình cho vật, vật nào cũng có định chất, ấy là đức vuông, há phải hình thể đất vuông đâu. Cái thuyết địa phương là đất vuông, là người sau nhận lầm ý Khổng Tử. Từ đây sắp xuống là thích Hào từ.
Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương, thần thí kì quân, tử thí kì phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kì sở do lai giả tiệm hĩ, do biện chi bất tảo biện giả. Dịch viết: Lí sương kiên băng chí, cái ngôn thuận (tác thận) dã.
積善之家必有餘慶; 積不善之家必有餘块,
臣弒其君, 子弒其父, 非一朝一夕之故, 其所由來 者漸矣, 由辯之不早辯也. 易曰: 履霜 堅冰至, 蓋言順也.
(Chữ thận nguyên văn là chữ thuận nhưng giảng nghĩa khó hiểu nên theo lời Chu Tử đổi làm thận).
Hễ việc trong thiên hạ, dầu cao dầu lớn đến bao nhiêu, tất thảy do khi thấp khi nhỏ tích lũy mà thành. Vậy nên nhà nào tích lũy điều lành, tất nhiên có phước thừa để đến con cháu. Nhà nào tích lũy điều chẳng lành, tất có tai vạ thừa để đến đời sau.
Thường thường có con cháu nhà kia, không thiện gì lớn, mà hưởng phúc? Là nhờ tích thiện từ đời cha ông để lại. Thường thường có con cháu nhà kia, không ác gì lớn, mà mắc họa, là vì tích bất thiện từ đời cha ông xưa để lại.
Thử xem việc họa to lớn nhất là tôi giết vua, con giết cha. Há phải cái cớ ở trong một mai một hôm mà gây nên đâu. Gốc sở tùng lai vẫn dần dà dây dắc đã lâu ngày rồi đó, chỉ khốn nạn vì người ta không biện được sớm vậy. Nguyên đầu măng mậm chỉ một phân, một tấc, tích lũy lâu ngày thành một tầm, một trượng. Nếu người ta đương khi một phân, một tấc mà xét được măng mậm kia, cắt đứt cho sớm, thời làm gì có tai họa đâu.
Dịch sở dĩ có câu lí sương kiên băng chí là bảo cho chúng ta cẩn thận từ lúc đầu vậy. Trên đây là thích nghĩa Hào từ Sơ Lục.
Quân tử kính dĩ trực nội, nghĩa dĩ phương ngoại, kính nghĩa lập nhi đức bất cô, trực phương đại bất tập vô bất lợi, tắc bất nghi kỳ sở hành dã.
君子敬以直內, 義以方外, 敬義立而德不孤,
直方大不習無不利, 則不宜其所行也.
Lục Nhị này là một bậc quân tử, lấy mình là hiền nhân mà học cho đến thánh nhân.
Vì muốn học cho đến thánh nhân, tất phải thể dụng hoàn toàn, nội ngoại nhất trí, mới tiến lên được địa vị thánh nhân. Vậy nên lấy đức kính mà trì thủ bề trong, thời trong lòng được chính trực luôn luôn, lấy đạo nghĩa mà ràng buộc bề ngoài, thời nết ngoài thường vuông vức luôn luôn. Đức kính, đức nghĩa đã đứng được vững vàng, thời trong lòng không bao giờ tà, nết ngoài không bao giờ khuyết. Lúc bấy giờ có thể, có dụng, có trí, có hình, cặp nhau thảy lên, không phải lo đến nỗi cô lập. Đã được như thế thời trí khôn ngày càng sáng suốt mà tri bất minh, đạo lí ngày càng thục luyện mà hành tất thuận, có thể không chờ học tập mà làm việc gì cũng lợi vậy.
Hào từ nói rằng trực phương đại, bất tập vô bất lị nghĩa là những việc mình sở hành, không phải nghi ngờ nữa vậy.
PHỤ CHÚ: Học giả nhận kĩ lời Văn Ngôn hào nầy, thời không học Trung Dung, Đại Học mà cũng có thể nhất quán được. Chữ "thành ý, thân độc" là "kính dĩ trực nội". Chữ "trí trung hòa" là "nghĩa dĩ phương ngoại", chữ "đức bất cô" là "minh minh đức ở thiên hạ". Thành ý nghĩa là gìn giữ từ lúc ý mình mới nghĩ ra cho được thành thực. Thận độc là cẩn thận, là cơ vi tự trong bụng mình nghĩ, là chốn một mình mình biết, tức là chữ kính. Trí trung hòa nghĩa là suy rộng đức trung, đức hòa của mình cho đến lúc cùng cực, tức là chữ nghĩa. Kính là căn bản ở bề trong, là phương châm đối bề ngoài, biết như thế mới là cách học Dịch. Trên đây là thích nghĩa Hào từ Lục Nhị.
Âm tuy hữu mỹ hàm chi, dĩ tòng vương sự, phất cảm thành dã. Địa đạo dã, thê đạo dã, thần đạo dã; địa đạo vô thành nhi đại hữu chung dã.
陰雖有美含之, 以從王事, 弗敢成也. 地導也,
妻導也, 臣導也; 地導無成而大有终也.
Đây là thích nghĩa Hào từ Lục Tam. Hàm chương khả trinh nghĩa là: Âm tuy có đức tốt đẹp nhưng chỉ hàm súc ở bề trong mà không phô bày ra. Hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung nghĩa là: Đem thân ra làm việc nước nhà, nhưng không dám chiếm lấy thành công, như thế là đạo lí thuộc về Khôn đạo vậy, đạo lí thuộc về phần làm vợ vậy, đạo lí thuộc về phần làm tôi vậy. Địa đạo tuy không thành, nhưng vì có vô thành mới hay thay thế đạo trời mà được hữu chung vậy. Trên đây là thích nghĩa Hào từ Lục Tam.
Thiên địa biến hóa, thảo mộc phồn. Thiên địa bế, hiền nhân ẩn. Dịch viết: Quát nang vô cựu, vô dự, cái ngôn cẩn dã.
天地變化, 草木繁. 天地閉, 賢人隐.
易曰: 括囊旡咎, 旡礜, 蓋言謹也.
Đây là thích nghĩa Hào từ Lục Tứ. Dương khí là thiên, âm khí là địa, âm dương giao cảm với nhau, dương có khi biến làm âm, âm có khi biến làm dương, thế là thiên địa biến hóa. Lúc bấy giờ vạn vật nhờ thiên, địa mà tất thảy trưởng dục, dầu đến cây cỏ cũng phồn thịnh tươi tốt. Nếu đến khi âm cự tuyệt dương, dương cách tuyệt âm, thế là thiên, địa bất giao (bế: lấp nghẹt). Lúc bấy giờ thế đạo suy vi, quân tử cùng nhi tại hạ, người có tài đức nên tùy thì mà thối tàng. Hào từ Lục Tứ nói rằng quát nang vô cựu, vô dự là nói người ta xử vào địa vị Lục Tứ nên cẩn thận như thắt miệng đãy vậy.
PHỤ CHÚ: Văn Ngôn thích Hào từ Lục Tứ không theo toàn thể quẻ Khôn, mà chỉ lấy nghĩa riêng một Hào từ Lục Tứ nên nói câu: Thiên địa bế. Bởi vì hào là âm hào ở vào quẻ vô dương chính là cô âm bất năng sinh, là âm dương cách tuyệt nhau, không thể nào thành được công sinh dục. Đó là một ý nghĩa đặc biệt.
Thánh nhân, nhân Hào từ Lục Tứ mà phát minh ra ba chữ ấy, cũng là ý nghĩa tùy thì biến hóa ở trong Kinh Dịch.
Suy ra cho rộng, thời có tôi mà không vua, có vợ mà không chồng, có phe gái mà không có phe trai, có tiểu nhân mà không có quân tử, dầu quốc gia, xã hội nào cũng không thể làm nên chuyện tốt được.
Trên đây là thích nghĩa Hào từ Lục Tứ.
Quân tử hoàng trung thông lí, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã.
君子黄中通理, 正位居體, 美在其中而暢於四支,
發於事業, 美之至也.
Đây là thích Hào từ Lục Ngũ, nghĩa: Quân tử như Lục Ngũ có đức trung ở trong, thông suốt hết đạo lí tất lên ở ngôi cao nhưng vẫn xem mình là thể dưới. Như thế là có thịnh đức mà lại hay khiêm, thiệt là chất tốt đẹp ở bề trong mà mở mang phát triển ở bề ngoài, khuếch trương ra làm sự nghiệp lớn. Thế mới là tốt đẹp đến cực điểm vậy, nên Hào từ nói: Hoàng thường nguyên cát. Tứ chi là hai tay, hai chân.
Hoàng trung thông lí thích nghĩa chữ hoàng. Chính vị cư thể thích nghĩa chữ thường. Mỹ tại kỳ trung thích lại nghĩa chữ hoàng trung. Nhi sướng ư tứ chi thích lại nghĩa chữ cư thể. Phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã thích nghĩa chữ nguyên cát.
PHỤ CHÚ: Văn Ngôn có chữ "hoàng trung", lại có câu "mỹ tại kì trung", cũng in như câu “văn tại trung dã” ở trên Tượng từ.
Thánh nhân sở dĩ nói đi nói lại ý ấy, là muốn cho người ta có văn thái ở bề ngoài, tất trước có mỹ chất ở bề trong.
Sách Trung Dung có câu: Y cẩm thượng quýnh, ố kỳ văn chi trứ dã 衣錦尚絅, 惡其文之著也, nghĩa là: Mặc áo gấm ở bên trong, mà bề ngoài che bọc lấy [bằng] áo vải, là ý quân tử ghét cái văn suông mà lòe loẹt vậy.
Lại có câu: Quân tử chi đạo, ám nhiên nhi nhật chương 君子之導, 闇然而日章, nghĩa là: Đạo của quân tử, tuy kín giấu ở bề trong mà tự nhiên ngày càng rực rỡ.
Lại có câu: Tiểu nhân chi đạo đích nhiên nhi nhật vong 小人之導, 的然而日亡, nghĩa là: Đạo của tiểu nhân tuy lòe loẹt ở bề ngoài mà tự nhiên ngày càng tiêu diệt. Xem như mấy câu ấy, thời hiểu được ý nghĩa Văn Ngôn của Lục Ngũ. Trên đây là thích Hào từ Lục Ngũ.
Âm nghi ư dương tất chiến, vi kì hiềm ư vô dương dã, cố xưng long yên, do vị li kì loại dã, cố xưng huyết yên, phù huyền hoàng giả, thiên địa chi tạp dã, thiên huyền nhi địa hoàng.
陰疑陽必戰, 爲其嫌於旡陽也, 故稱龍焉,
猶未離纇, 故稱血焉, 夫玄黄者, 天地之雜也, 天玄 而地黄.
Sáu âm đã cân địch với sáu dương, tất đến nỗi tranh nhau. Âm vẫn tranh nhau với dương, nhưng hiềm vì quẻ Khôn là quẻ không dương, nên xưng chữ long để tỏ ý là có dương. Quẻ Khôn đến Thượng Lục là thuần âm cực thịnh, chốc phút nữa, thế nào cũng biến làm Càn, nhưng vì còn ở Thượng Lục là âm hào, chưa rời được khỏi loài âm, vậy nên xưng chữ huyết, huyết là thuộc về loài âm.
Huyền hoàng là sắc lộn của trời đất âm dương, trời sắc huyền, mà đất sắc hoàng, khi âm dương đã tranh nhau, thời âm dương thảy bị thương hại nên nói rằng kì huyết huyền hoàng.
Khổng Tử sở dĩ bất thích dụng lục hào từ giả, phù dương ức âm chi ý dã. Cái nhược phù âm, tắc âm đẳng ư dương, Khôn địch ư Càn, huyết chiến chi họa, vô thì khả tức, cố Văn Ngôn bất tán dụng lục.
孔子所以不釋用六爻辭者, 扶陽抑陰之意也.
蓋若扶陰, 則陰等於陽, 坤敵於乾, 血戰之禍, 旡 時可息. 故文言不贊用六.
03. QUẺ THỦY LÔI TRUÂN
Khảm trên; Chấn dưới
Quẻ này là quẻ Thủy Lôi Truân. Ba vạch dưới: Sơ đơn, Nhị sách, Tam sách, là quẻ Chấn ở dưới, Chấn là Nội Quái. Ba vạch trên: Tứ sách, Ngũ đơn, Thượng sách, là quẻ Khảm ở trên, Khảm là Ngoại Quái. Chấn là Lôi, Khảm là Thủy, thành ra quẻ Thủy Lôi Truân.
TỰ QUÁI
Tự quái: Hữu thiên địa dã, nhiên hậu vạn vật sinh yên, doanh thiên địa chi gian giả, duy vạn vật, cố thụ chi dĩ Truân. Truân giả doanh dã; truân dã, vật chi thỉ sinh dã.
序卦: 有天地也, 然後萬物生焉, 盈天地之間者, 惟萬物, 故受之以屯. 屯者盈也, 屯也, 物之 始生也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Trên đây quẻ Càn quẻ Khôn, là có trời có đất rồi. Có trời đất vậy sau vạn vật mới sinh nở. Đầy ở giữa khoảng trời đất, tất duy vạn vật, vậy sau quẻ Càn, Khôn tiếp lấy quẻ Truân. Truân nghĩa là đầy, truân nghĩa là lúc vạn vật mới sinh ra. Vì lúc bắt đầu vạn vật mới sinh ra còn chưa lấy gì làm hanh thái được, nên lại có một nghĩa Truân là khốn nạn. Bây giờ thích Soán từ của Văn Vương.
SOÁN TỪ
Truân, Nguyên, hanh, lị, trinh, vật dụng hữu du vãng, lị kiến hầu.
屯, 元亨利貞, 勿用有攸往, 利建侯.
Quẻ Truân này, Ngoại Quái Khảm, Khảm là hiểm. Nội Quái Chấn, Chấn là động. Ở trong lúc hiểm mà hay hành động được, tất nhiên là hạng người có gan mạo hiểm, có chí tấn thủ, và có tài hữu vi. Đưa người ấy ra giúp đỡ buổi truân, có lẽ hanh thông lắm, nhưng vì theo về thời thế thời đương buổi truân nạn nên lại phải cẩn thận kĩ càng, đại đởm mà lại phải thường giữ tiểu tâm, nên bền giữ đức trinh mà chẳng nên vội vàng khinh tấn. Vãng nghĩa là tấn hành.
Tuy nhiên, một người có tài đức, mà gặp buổi thiên hạ đương truân, không lẽ chẳng ra cứu đời, nhưng muốn cứu đời không lẽ một sức mình mà làm xong, tất phải nhờ nhiều người bạn hiền giúp đỡ. Nói về việc quốc gia, tất phải nhờ hiền thần phụ bật. Suy ra việc xã hội cũng thế, nên có câu: Lị kiến hầu. Lị nghĩa là nên; kiến nghĩa là dựng đặt; hầu nghĩa là tước hầu.
Chữ hầu này chỉ vào Sơ Cửu. Bởi vì Sơ Cửu có đức dương cương, làm chủ nội Chấn, là một người chủ yếu ở trong trường chấn động có tượng làm được hầu. Quẻ Chấn nguyên đầu là quẻ Khôn, vì Sơ dương đổi vào thành ra Chấn nên hào Sơ là thành quái chi chủ.
PHỤ CHÚ: Chữ Hầu ở quẻ này là vì khi Văn Vương làm Dịch đương ở đời còn có chế độ phong kiến. Nếu chẳng phải hầu, thời không có thế lực mà gánh nổi việc. Tỉ như: Tề Hầu là Hoàn Công, Tấn Hầu là Văn Công, thảy có tài làm nên nghiệp bá, xây đổi được cuộc đời, chẳng qua đương thì phong kiến thời nói thế vậy. Bây giờ chúng ta chẳng phải ở vào đời phong kiến, thời lãnh tụ ở trong một đảng hoặc tổng trưởng ở trong đám ủy viên cũng có thể thay được chữ hầu, chỉ cốt hạng người có tài đức đủ tế truân là gọi bằng hầu được cả. Hễ học Dịch nên lấy ý mà suy cho thông, chớ nên câu nệ ở chữ.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Truân, cương, nhu thỉ giao nhi nạn sinh. Động hồ hiểm trung, đại hanh trinh. Lôi vũ chi động mãn doanh, thiên tạo thảo muội, nghi kiến hầu nhi bất ninh.
彖曰: 屯, 剛柔始交而難生. 動乎險中,
大亨貞. 雷雨之動滿盈, 天造草昧, 宜建侯而不寧.
1. Truân: Cương, nhu thỉ giao, nhi nạn sinh.
Soán Truyện thích ý nghĩa Soán từ của Văn Vương rằng: Quẻ Truân này tiếp ở sau Càn, Khôn. Trên kia Càn là quẻ thuần cương, Khốn là quẻ thuần nhu. Cương, nhu chia làm hai đường là cương, nhu chưa giao. Bây giờ vào quẻ Truân, quẻ dưới một hào cương, hai hào nhu, quẻ trên cũng một hào cương, hai hào nhu; thế là cương, nhu bắt đầu giao với nhau, nhưng vì lúc bắt đầu mới có vạn vật, xử vào thời đại ấy, công việc sinh dục hãy còn gian nan lắm. Vậy nên đặt tên quẻ bằng Truân.
2. Động hồ hiểm trung. Đây chỉ nói về tượng quẻ. Quẻ dưới Chấn là động, quẻ trên Khảm là hiểm. Khảm trên, Chấn dưới, thành quẻ Truân. Thế là phát động ở giữa chốn hiểm.
3. Đại hanh trinh. Đây nói về đức quẻ. Đương giữa lúc hiểm mà hành động được, tất là người tài đức phi thường, nhưng trong khi làm được sự nghiệp phi thường tất lại kiên tâm trì chính luôn luôn, nên nói rằng: Đại hanh trinh, nghĩa là vẫn đại hanh, nhưng phải trinh mới được.
4. Lôi vũ chi động mãn doanh. Đây là theo tượng quẻ mà thích cho hết nghĩa chữ Truân. Chấn Nội Quái là tượng sấm, Khảm Ngoại Quái là tượng mưa. Hễ âm dương hòa hợp, âm điện, dương điện tiếp xúc với nhau, mới thành mưa, sấm. Ở giữa lưỡng gian, chỉ thấy động cơ dầy dặc, tuy là lúc Truân mà chính là cơ hội tốt của trời đất vậy (Mãn doanh nghĩa là đầy tràn, cũng là thích nghĩa chữ Truân).
5.Thiên tạo thảo muội, nghi kiến hầu nhi bất ninh. Đây là thích riêng nghĩa câu Lị kiến hầu.
Thiên tạo nghĩa là vận trời; thảo nghĩa là hỗn tạp; muội nghĩa là tối mờ. Bốn chữ ấy là hình dung cái tượng thì đương truân nạn.
Thánh hiền hào kiệt xử vào địa vị ấy, tất không thể nằm cao an nghỉ, tất phải đa phương cầu trợ, tìm cho được người giúp đỡ với mình mới thành được công việc tế Truân, ấy là nên kiến hầu, mà chẳng nên an ở vô sự (Ninh nghĩa là an ở).
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Vân lôi Truân, quân tử dĩ kinh luân.
象曰: 雲雷屯, 君子以經綸.
Khảm tượng là vân, Chấn tượng là lôi. Theo hai tượng ấy thời chỉ thấy mây, nghe sấm mà chưa thấy mưa. Cơ trời còn ở trong lúc sắp đặt un nấu nên gọi bằng Truân. Tượng vào việc người thời là xử vào đời truân nạn, thiên hạ vẫn đương mong trị mà cuộc loạn còn chưa dẹp xong.
Quân tử xử vào thời đại này, xem tượng ấy mà biết rằng: Mây có rồi, sấm có rồi, thế nào cũng đến ngày mưa tới. Đời đương truân nạn, chính là thì tiết hữu vi của mình, thời phải đem tài đức của mình ra mà kinh luân việc thiên hạ.
Kinh luân, nghĩa là: sắp đặt sửa sang, ví như trong việc dệt tơ, chỉnh lí ra đường ngang, sợi dọc, kết hợp tất thảy sợi tơ mà tổ chức cho thành một tấm, ấy là nghĩa chữ kinh luân. Kinh nghĩa là phân cho ra từng sợi, luân nghĩa là dệt thành tấm. Tỉ như, để tổ chức cho thành một đoàn thể, kiến thiết cho được một quốc gia, xã hội, tuy lớn, nhỏ có khác nhau, tất thảy phải có tài kinh luân mới làm được.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Bàn hoàn, lị cư trinh, lị kiến hầu.
初九: 盤桓, 利居貞, 利建侯.
Cửu là dương hào, Sơ là vị ở dưới hết, hào dương thời sẵn tài có cương minh, vẫn là người có thể tế Truân, nhưng vì còn ở hạ vị thời chưa tấn hành được; tài tuy đủ hữu vi, chí tuy muốn hữu vi, nhưng vì cảnh ngộ bắt buộc mình, nên đi đứng ra hình khó khăn, muốn lên, nhưng mà cứ dùng dằng. Tuy thế, há phải quyết chẳng tấn hành đâu, chỉ chập chững lựa thì mà thôi.
Tuy nhiên, lí trong thiên hạ, đã có như lời Đức Khổng nói rằng: Bất hoạn vô vị, hoạn sở dĩ lập 不 患無位,患所以立.
Người ta xử vào thời đại Sơ Cửu, chỉ nên lo tấn đúc tu nghiệp, tự xử lấy đức trinh. Tài đức đã được như Sơ Cửu mà thiên hạ lại đương thì Truân, ai chịu để những bạng người ấy nằm không đâu! Tất nhiên cũng gặp bậc thánh minh đặt mình lên ở vị tế truân.
Chữ hầu ở đây cũng là chữ hầu ở Soán từ, là nhằm bảo: Tài đức như Sơ Cửu nên tiến cử lên làm hầu vậy.
Tượng viết: Tuy bàn hoàn, chí hành chính dã. Dĩ quý há tiện, đại đắc dân dã.
象曰: 雖盤桓, 志行正也. 以貴下賤,
大得民也.
Tuy vì thời thế mà phải bàn hoàn nhưng tâm sự của mình vẫn đi một đường chính vậy. Sở dĩ Hào từ lại có câu lị kiến hầu, bởi vì trong quẻ Truân này, toàn sáu hào, chỉ có hai hào dương, còn bốn hào thảy âm. Dương là quý, âm là tiện. Sơ là dương quý, mà chịu ở dưới bốn hào âm, tượng như người có tài đức đáng quý, mà chịu lún với hạng người đức tài hèn mọn. Người mà quên hết tài đức của mình, chịu ti hạ với quần chúng, đức thịnh lệ cũng được như thế, đặt lên làm hầu, tất nhiên thiên hạ ai cũng hân duyệt mà theo mình vậy.
PHỤ CHÚ:
Lời Tượng hào này tỉ như người đời xưa chính như ông Chu Công một bận ăn ba lần nhổ cơm, một lúc gội đầu ba lần nắm tóc dậy để gấp tiếp kiến sĩ phu trong thiên hạ. Ngụy Vũ Đế có câu: Chu Công thổ bô, thiên hạ quy tâm 周公吐晡天下歸心.. Lại như: Vua Quang Trung nước ta, bắt được thầy tớ vua Gia Long là ông Nguyễn Huỳnh Đức, dắt lên nằm ngủ với mình một giường, đó cũng tượng như hào này.
2. Lục Nhị: Truân như, chiên như, thừa mã ban như, phỉ khấu, hôn cấu, nữ tử trinh bất tự, thập niên nãi tự.
六二: 屯如, 邅如, 乘馬班如. 匪鬼, 婚媾, 女子貞不字, 十年乃字.
Lục là hào âm, Nhị là vị âm. Nhị lại ở giữa Hạ Quái, thế là một hào âm nhu vừa đắc trung vừa đắc chính. Tượng như một người con gái, tài đức phẩm hạnh đáng được một người chồng rất tốt, mà lại ở trên có Cửu Ngũ dương cương đắc trung, đắc chính, tượng là một người chồng chính đáng của Lục Nhị, nhưng vì ở về thời đại Truân là nhân sự còn bế tắc bất thông. Huống hồ kề cạnh mình có Sơ Cửu là một hào dương cương cũng muốn làm thân với Lục Nhị, vì Nhị e né Sơ, tuy đành Sơ chẳng phải chính ứng với mình mà hoàn cảnh lôi thôi. Nếu Sơ là một tay cường bạo, thời thân mình thể nhu, chất nhược e khó ứng phó cho được lưỡng toàn. Vì thế nên tình hình Lục Nhị tấn giả nan, thối giả nan, ra một cách khốn đốn khó khăn, tượng như người cưỡi ngựa muốn tới mà dùng dằng luẩn quẩn không dám tới.
Thánh nhân lúc bấy giờ mới vẽ một phương châm cho Lục Nhị rằng: Anh Sơ kia cũng vẫn người tốt, sở dĩ thân cận với Nhị, chẳng phải là tay cướp đâu, chỉ là cầu kết hôn với Nhị mà thôi. Nêu bản thân Nhị thiệt là con gái trinh chính, thời khăng khăng giữ mực, chờ người chính ứng với mình là Cửu Ngũ, chẳng chịu gả mình cho Sơ Cửu. Lòng mình kiên cố, cùng cực tất thông, dầu lâu chăng nữa cũng mƣời năm mà thôi, bạn tri kỷ tìm tới mình, thời mình tất là vợ chính đáng của Cửu Ngũ.
Chiên nghĩa là quanh quẩn; ban nghĩa là dùng dằng; phỉ khấu nghĩa là chẳng phải giặc; hôn cấu nghĩa là cầu làm vợ chồng; tự nghĩa là con gái gả lấy chồng.
Hào này chỉ là thủ tượng bằng nam nữ tương cầu. Suy ra thầy trò bạn hữu kết hợp với nhau cũng thảy như thế. Nếu chẳng phải đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thật một người chính giao với mình thời chớ nhẹ dạ non lời mà mắc phải lỗi thất tiết.
Tỉ như: Ông Khổng Minh đời Tam Quốc: Tào Tháo, Tôn Quyền rước ông mà ông chẳng dậy, chờ đến Lưu Tiên Chúa ba lần rước ông, ông mới chịu ứng sính. Đó chính là nghĩa câu nữ tử trinh bất tự, thập niên nải tự.
Tượng viết: Lục Nhị chi nạn, thừa cương dã, thập niên nải tự, phản thường dã.
象曰: 六二之難, 乘剛也, 十年乃字,
反常也.
Cảnh ngộ Lục Nhị sở dĩ khốn nạn, là vì ở trên Sơ Cửu, tượng như cưỡi hào dương cương vậy. Nhưng Lục Nhị kiên trinh giữ tiết cố chờ được kẻ tri kỉ của mình, tuy vẫn có bức cận với Sơ mà cuối cùng vẫn kết hợp với Cửu Ngũ. Xưa nay minh quân, hiền tướng, trinh nữ, lương phu tất nhiên gặp gỡ nhau, đó là lẽ thường. Thập niên nãi tự là quay trở lại lẽ thường đó vậy. Phản nghĩa là quay trở lại; chẳng phải phản nghĩa là trái.
3. Lục Tam: Tức lộc vô ngu, duy nhập vu lâm trung, quân tử cơ bất như xá, vãng lẫn.
六三: 即鹿無虞, 惟入于林中, 君子幾不如舍,
往吝.
Lục là âm hào, Tam là dương vị. Âm cư dương vị là bất chính, Tam lại bất trung. Tính chất vẫn đã bất chinh bất trung, lại ở vào thời đại Truân mà người ứng với mình là Thượng Lục cũng âm nhu, không thể ứng với Tam được, tượng là một người tài hèn sức mọn, lại không thấy bạn dắt dìu cho mình, đáng lẽ lo độc thiện kì thân, chớ cầu cạnh với ai là phải, nhưng vì tính chất Tam bất trung, bất chính nên chẳng khỏi láu táu chạy càn, tượng như người tham ăn thèm thịt hươu, tự mình đi đuổi hươu. Vì không người thầy săn là ngu nhân dẫn đường cho nên hươu chẳng thấy đâu mà bị sụp vào trong rừng. Nếu Lục Tam mà là quân tử, thời tất nhiên thấy được khi còn cơ vi, chẳng gì bằng an nghỉ, đừng chạy càn. Nếu cứ chạy hoài, thiệt đáng xấu hổ.
Tượng viết: Tức lộc vô ngu, dĩ tòng cầm dã, quân tử xá chi, vãng lẫn, cùng dã.
象曰: 即虎無虞, 以從禽也, 君子舍之,
往吝窮也.
Tức lộc vô ngu, vì lòng tham muốn được cầm vậy. (Cầm là những giống sinh vật ở trong núi). Quân tử thời chỉ nên ở an địa vị, nếu cứ chạy càn, thời đến lúc cuối cùng chỉ xấu hổ mà thôi.
PHỤ CHÚ: Hào từ, tượng từ chỉ là răn một hạng người táo tấn. Thâm ý tại bốn chữ tức lộc vô ngu. Hễ giữa mình đã tài hèn khôn cạn, học thức non kém, địa vị lại dở dang, thời nước bước đường đi nên chờ có thầy hay bạn tốt đem đường chỉ lối cho mình. Ví như săn hươu mà được ngu nhân làm thầy hướng đạo. Nếu chẳng thế, thời sụp vào giữa rừng, đến nỗi chẳng biết đường mà ra. Đó là vì tội đi càn, chẳng tránh khỏi được chữ lẫn.
4. Lục Tứ: Thừa mã ban như, cầu hôn cấu, vãng cát, vô bất lị.
六四: 乘馬班如, 求婚媾, 往吉, 無不利.
Hào Lục ở vị Tứ, là âm nhu đắc chính. Tính chất vẫn là người hiền, nhưng vì tài mình âm nhu, lại gặp lúc thì Truân, không thể chỉ cậy sức mình mà tấn thủ được. Tuy thân cận với Ngũ nhưng Ngũ đã chính ứng với Nhị rồi. Tứ muốn thượng tấn mà sợ Ngũ chẳng cần dùng đến mình nên phải chập chững dùng dằng, muốn lên mà lên chẳng được, tượng như cưỡi ngựa mà dùng dằng chẳng dám tới.
Nguyên Tượng vẫn như thế, nếu Tứ là một người minh triết liệu nhân, liệu kỉ được rành rõi thời chớ nên cầu với Ngũ mà quay xuống cầu với Sơ, Sơ là hào cương minh có tài tế truân, lại có đức dĩ quý há tiện. Tứ cầu với Sơ, Sơ là chính ứng với Tứ, tất nhiên tâm đầu ý hợp, ấy là cầu được hôn cấu.
Khi Sơ đã thuận ứng rồi, thời đề huề với nhau ra gánh việc cứu đời, tất làm nổi công việc, tới đâu cũng được như ý.
Tượng viết: Cầu nhi vãng, minh dã.
象曰: 求而往, 明也.
Tứ đã âm nhu vô tài, vẫn chẳng phải người tế Truân, nhưng vì có đức minh tri nhân, biết Sơ là bậc hiền tài, chịu khuất kỉ hạ hiền, lấy mình là bậc trên mà chịu hạ cầu với người dưới. Nhờ tài người làm nên việc mình, kết quả vãng cát, vô bất lị, đó là hiệu quả của đức minh vậy.
PHỤ CHÚ: Xem Hào từ Tượng từ Lục Tứ nên xem cả Hào từ Tượng từ Lục Nhị, cũng là một hào Sơ muốn làm hôn cấu, nhưng Nhị thời bất tự với Sơ, Tứ thời vãng cầu với Sơ. Sở dĩ bất đồng như thế là có hai đạo lí. Một là duy hiền tri hiền , dương cương, trung chính như Cửu Ngũ, tất có âm nhu trung chính như Lục Nhị mới kết hợp với nhau, còn như Tứ, âm nhu bất trung nên chỉ hạ giao với Sơ là đúng, đó là một lẽ. Lại một đạo lí nữa là nhân dĩ loại tụ. Tứ là chính ứng với Sơ nên địa vị tuy cận với Ngũ mà phải cầu với Sơ; Nhị là chính ứng với Ngũ nên địa vị tuy cận Sơ, mà phải chờ Ngũ, chính như lời Đức Khổng nói: Đạo bất đồng, bất tương vi mưu 道不 同, 不相爲謀, nghĩa là chẳng phải người đồng đạo với mình, chớ nên cùng nhau bàn việc, cũng như ý nghĩa hai hào này vậy.
5. Cửu Ngũ: Truân kì cao, tiểu trinh cát, đại trinh hung.
九五: 屯其膏, 小貞吉, 大貞凶.
Hào Cửu vị Ngũ, dƣơng cƣơng mà lại trung chính lại được ở vị tôn, đáng lẽ là việc gì cũng xong, nhưng vì ở về đời Truân nạn mà lại ở dưới có Sơ Cửu, cương minh tài cán thu được hết lòng dân, ví như minh quân tại thượng, mà hạ hữu quyền thần, bao nhiêu quyền bính bị quyền thần cướp ráo. Ngũ chỉ hư cư tôn vị, thành ra muốn tuyên bố đức trạch gì cũng rất khó khăn, tượng như truân kì cao (Cao nghĩa là dầu mỡ, ví vào ơn trạch của người trên; truân nghĩa là keo rít, là đức trạch chẳng tuyên bố ra được).
Thời thế tuy vẫn như thế, nhưng vì Cửu Ngũ là dương cương cư tôn, có đức, có vị, quyết chẳng chịu khoanh tay ngồi dòm, tất nhiên muốn chỉnh đốn thì cuộc, ra tay đại hữu vi, nhưng khốn nạn thay, uy quyền chẳng ở trong tay mà địa vị lại ở trên Sơ, thành ra thế cưỡi cọp, nên thánh nhân mới bày cho một phương pháp rằng: Ông nếu muốn hữu vi tất phải ủy khúc chu toàn, làm lần lần từ điếu nhỏ làm đi thời mới được an lành. Tượng là tiểu trinh thời cát, nghĩa là chỉnh đốn việc nhỏ mà thôi. Nếu chẳng hàm nhẫn được như thế mà muốn ra tay chỉnh đốn những việc thật lớn e đến nỗi quyền thần chẳng dung mình mà mắc lấy họa hoạn, Tượng là đại trinh thời hung.
Tượng viết: Truân kì cao, thí vị quang dã.
象曰: 貞其膏, 施未光也.
Hào từ sở dĩ nói rằng: truân kì cao là vì thời thế bắt buộc nên tuy có đức như Cửu Ngũ mà ân trạch mình chưa rõ rệt vậy.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Hào từ này càng tin lời thầy Mạnh nói:
Tuy hữu trí tuệ, bất như thừa thế; tuy hữu tư cơ, bất như đãi thì
雖有智慧, 不如乘勢; 雖有鎡基, 不如待時, nghĩa là tuy sẵn có trí tuệ, nhưng cũng phải cậy vào thế mạnh; tuy sẵn có tư cơ nhưng cũng phải chờ có thì đến. Việc thiên hạ nếu chỉ trí tuệ, tư cơ mà làm xong thời Cửu Ngũ quẻ Truân làm gì đến nỗi truân kì cao mà thánh nhân phải bảo đại trinh hung?
Ngũ là dương cương, trung chính, há không trí tuệ rư? Ngũ là tôn vị, há không tư cơ rư? Nhưng vì ở đời Truân nạn là thì đã khó khăn, tại hạ có quyền thần lăng bức mà bản thân lại sụp vào giữa nguy hiểm (Ngũ ở ngoại Khảm là hãm ở hiểm trung), là thế cùng chật hẹp éo le. Thời thế đã chẳng thuận tiện, thời tuy trí tuệ, tư cơ như Cửu Ngũ cũng chỉ là tiểu trinh được, mà đại trinh thời chẳng xong.
Xem sử nước ta như đời hậu Lê, vua Lê bị áp bức với chúa Trịnh. Vua Cảnh Hưng vẫn là một ông vua hiền mà phải ngồi lặng bốn mươi năm. Đến đời vua Chiêu Thống muốn ức Trịnh phục Lê thời đến nỗi quốc vong gia táng, đó là đại trinh hung.
6. Thượng Lục: Thừa mã ban như, khấp huyết liên như.
上六: 乘馬班如, 泣血漣如.
Hào Thượng là vạch trên hết quẻ Truân, tượng là đời Truân nạn đã đến lúc cực điểm. Ở vào thời đại ấy, nếu có đại tài đại trí là rất hay. Là vì truân cực, tất thông đó vậy. Nếu bất tài bất trí, thời thường bị chết oan, là vì tài hèn thời chẳng đỡ nổi gánh nặng, gánh đổ thời thân cũng nguy.
Thượng Lục âm ám nhu nhược mà lại ở trên hết quẻ Truân, tượng là một người bất tài, bất trí mà xử vào địa vị khốn cực, tượng như cưỡi ngựa đứng sần, quẹt đôi hàng giọt lệ mà thôi. Khấp huyết nghĩa là khóc chảy nước mắt máu. Liên như nghĩa là nước mắt chảy đầm địa.
Tượng viết: Khấp huyết liên như, hà khả trường dã.
象曰: 泣血漣如, 何可長也.
Nghĩa là: Một hạng người như Thượng Lục quẻ Truân chính là tài hèn, vận ách, đứng vào thiên diên đào thải, không thể sinh tồn được nữa, còn mong gì lâu dài nữa đâu.
PHỤ CHÚ: Đọc hết lời sáu hào quẻ Truân, phát minh được một đạo lí rất rõ rệt. Việc thiên hạ nhất thiết phải có thì, làm việc thiên hạ nhất thiết phải có người. Có người mà không thì thời việc chẳng làm nên, có thì mà không người thời việc chẳng ai làm, té ra không việc. Đạo lí trong Kinh Dịch, mỗi một quẻ, một tượng là một đám công việc. Tỉ như một quốc gia, một xã hội cũng tóm vào trong một quẻ, mỗi một hào là một thì gian trong việc ấy. Quẻ có tốt xấu ở từng quẻ, là việc ấy chung, thời tốt xấu cũng chung; hào có tốt xấu riêng từng hào là thì của mỗi hào riêng nên tốt xấu cũng riêng.
Việc, tỉ như không gian; thì, tỉ như thì gian. Tỉ như chung một quả địa cầu, mà buổi đêm ở Mỹ Châu trái lại là buổi ngày ở Á Châu. Buổi nóng ở Phi Châu trái lại là buổi rét ở Á Châu. Việc in nhau mà thì vẫn khác nhau cũng như thế. Vậy nên, làm việc phải lựa thì. Thì đúng thời việc mới xong.
Xem như quẻ Truân, Sơ Cửu tuy dương cương vẫn là người có tài, nhưng ở vào vị Truân; Sơ là lúc bắt đầu vào thì Truân nạn, còn có thể để chuyển toàn nên Hào từ Sơ Cửu có chữ lị. Thượng Lục âm nhu, vẫn là người vô tài, lại xử vào thì Truân cực, chính là thì khốn nạn cực điểm nên Hào từ có chữ khấp huyết. Thế mới biết thì có sự quan hệ rất lớn, nhưng thì lại tất cần có nhiều người mới xong.
Sơ có Tứ làm hôn cấu. Nhị có Ngũ làm hôn cấu, vì gặp bạn tế truân nên Tứ Ngũ được chữ cát. Tam vì không thấy bạn nên mắc chữ lẫn. Thượng cũng vì không thầy bạn nên mắc chữ khấp huyết. Tam, Thượng tuy ứng với nhau, như vì hai hào thảy âm nhu cả, không ứng viện cho nhau được; ở đời Truân nạn mà không thấy bạn nên hai hào thảy chẳng xong rồi. Đó lại là một nghĩa nên biết lắm.
04. QUỂ SƠN THỦY MÔNG
Cấn trên; Khảm dưới
Quẻ này là quẻ Sơn Thủy Mông. Quẻ dưới là quẻ Khảm, cũng là Nội Quái Khảm. Quẻ trên là quẻ Cấn, cũng là Ngoại Quái Cấn. Khảm tượng Thủy, Cấn tượng Sơn, nên đặt tên quẻ bằng Sơn Thủy Mông.
TỰ QUÁI
Tự quái: Truân giả vật chi thỉ sinh dã, vật sinh tất mông, cố thụ chi dĩ Mông. Mông giả mông dã, vật chi trĩ dã.
序卦: 屯者物之始生也, 物生必蒙, 故受之以蒙.
蒙者蒙也, 物之穉也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Truân tiếp lấy quẻ Mông, là vì cớ sao? Bởi vì Truân là lúc vạn vật mới sinh ra, vật mới sinh ra, tất nhiên non yếu mà mù mờ. Hễ vật lí đương lúc Truân, tất nhiên Mông. Vậy nên, sau quẻ Truân tiếp lây quẻ Mông. Mông, nghĩa là non yếu, cũng có nghĩa là mù mờ.
SOÁN TỪ
Mông, hanh; phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã. Sơ phệ, cốc, tái tam độc, độc tắc bất cốc, lị trinh.
蒙亨, 匪我求童蒙, 童蒙求我. 初筮告,
再三漬, 漬則不告. 利貞.
Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng Mông, vì có hai ý nghĩa. Một là theo về đức quẻ: Cấn có đức chỉ, Khảm có đức hiểm. Khảm nội là nội hiểm, Cấn ngoại là ngoại chỉ. Trong thời hiểm mà ngoài chẳng tấn được, tỏ ra ý mù mờ. Hai là theo về tượng quẻ: tượng Cấn là sơn cao, tượng Khảm là thủy thâm; ở dưới núi mà lại có nước sâu, ấy là chốn hiểm. Thế là tượng mù tối. Vĩ hai nghĩa ấy, mới đặt tên quẻ bằng Mông.
Soán từ thích quẻ này khác với mỗi quẻ: Mỗi quẻ lấy nghĩa toàn quái, còn quẻ này chỉ chú trọng vào hào Ngũ, hào Nhị. Lục Ngũ là chủ trong đám Mông, Cửu Nhị là thầy phát Mông. Cửu Nhị có đức dương cương đắc trung, làm chủ ở Nội Quái, Vì Nội Quái nguyên là quẻ Khôn, thay hào Nhị vào mới thành ra quẻ Khảm, thiệt là đích đáng một vị thầy phát Mông. Lục Ngũ âm nhu đắc trung, chịu thuận ứng với Cửu Nhị, thế là sư, chủ rất tương đắc. Thầy sẵn lòng dạy trò mà trò cũng hết lòng theo thầy, tất nhiên được thông thái. (Hai chữ Mông, hanh là thích nghĩa quẻ).
Bây giờ, lại tường giải lí do cho người học Dịch bắt chước, nghĩa là: sở dĩ Mông mà được hanh, tất nhờ có đạo lí tri hanh. Theo về phía làm thầy phát Mông, tất phải tôn đức lạc đạo, chớ thấy thế lực Lục Ngũ mà khuất kỉ vọng cầu. Theo về phía người chủ Mông, tất phải quên thế vị của mình, mà khuất kỉ hạ cầu Cửu Nhị. Chính như nghĩa câu hữu lai học, vô vãng giáo 有來學, 无往 教.
Phỉ nghĩa là chẳng phải; đồng mông nghĩa là đứa bé con, chỉ vào Lục Ngũ; ngã nghĩa là người làm thầy, chỉ vào Cửu Nhị.
Đạo lí người làm thầy, đã đành như trên nói. Lại còn đạo lí người làm trò tất phải chí thành chuyên nhất, hết lòng tín ngưỡng vào thầy, ví như người cầu thần hỏi quẻ mà chí thành như lúc đầu mới bói, mới được thầy dạy bảo cho. Nếu đến lần tái lần tam, thời là nhàm lờn. Ý mình đã chẳng chuyên nhất, thời thầy chẳng dạy.
Phệ nghĩa là bói quẻ; cốc nghĩa là dạy bảo; độc nghĩa là nhàm lờn; sơ phệ nghĩa là bói lần đầu hết; tái nghĩa là bói lần thứ hai; tam nghĩa là bói lần thứ ba. Mấy câu ấy chỉ là muốn tượng cho rõ nghĩa là bảo học [trò] cầu thầy phải chí thành như cầu thần, chứ chẳng phải dạy người bằng việc bói.
Lại còn một đạo lí chung cho cả hai phía, hoặc mình còn mông muội mà cầu người phát khải cho, hoặc người có đạo đức học vấn mà phát khải được người mông. Lại tất thảy phải biết rằng: Công việc phát Mông chẳng phải rày mai, hoặc nửa chừng mà xong được, tất hai bên phải tương tín cho thật sâu, tương đắc cho bền chặt, thỉ chung đúng hợp với đạo chính mới có thể thành công.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Mông, sơn hạ hữu hiểm, hiểm nhi chỉ, mông. Mông hanh, dĩ hanh hành thì trung dã. Phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã, chí ứng dã. Sơ phệ cốc, dĩ cương trung dã, tái tam độc, độc tắc bất cốc, độc mông dã. Mông dĩ dưỡng chính, thánh công dã.
彖曰: 蒙, 山下有險, 險而止, 蒙.
蒙亨, 以亨行時中也. 匪我求童蒙, 童蒙求我, 志應也. 初筮 告, 以 剛中也, 再三瀆, 漬則不告, 瀆蒙也. 蒙以養正, 聖功也.
1. Soán viết: Mông, sơn hạ hữu hiểm, hiểm nhi chỉ, mông.
Đây là lấy tượng quẻ, đức quẻ, mà thích tên quẻ. Dưới núi có nước hiểm, là nghĩa chữ Mông lấy bằng tượng quẻ. Thấy trong hiểm mà ngoài chẳng dám bước vào, là nghĩa chữ Mông lấy bằng đức quẻ. Xem ở trên thích Soán từ thời rõ.
2. Mông hanh, dĩ hanh hành thì trung dã, phỉ ngã câu đồng mông, đổng mông câu ngã, chí ứng dã.
Đây là thích nghĩa lời Soán, cũng chỉ chú trọng vào Nhị, Ngũ. Mông vì sao mà được hanh? Là lấy đạo trí hanh làm cho hợp thời và đắc trung vậy. Phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã, là chí hai bên ứng với nhau vậy.
PHỤ CHÚ: Đọc lời Soán Truyện tiết này nên chú ý hai chữ thì trung. Hai chữ thì trung này in như hai chữ thì trung ở câu: Quân tử nhi thì trung trong sách Trung Dung. Làm thầy dạy người với người học tập, thảy cần đúng thì. Nếu dạy chẳng đúng thì thời người thụ giáo chẳng vui nghe mà công dạy cũng quá uổng, người học không có thì, thời công phu gián đoạn, mà học nghiệp không thể nên.
Vậy nên thầy dạy người, phải lựa buổi học trò vui học mà dạy cho nó. Sách Học Kí có câu: Đương kì khả chi vị thì 當其可之謂时, nghĩa là dạy người phải lựa cho vừa dịp mà dạy, ấy là chữ thì thuộc về phần người dạy; còn như người học, lại phải cứ thì, thời làm cho chuyên.
Khổng Tử có câu: Học nhi thời tập chi 學而時習之, nghĩa là học thánh hiền mà phải buổi cứ tập lại luôn. Đó là chỉ thì thuộc về phần người học. Đã được chữ thì lại còn phải có chữ trung, nghĩa là: Làm thầy dạy người, chớ dạy người những điều thái quá hay bất cập. Nếu dạy người những điều thái quá thời người không thể với tới nơi; nếu dạy người những điều bất cập thời người học không thể tiến bộ, nên làm thầy dạy phải có một cách tùy tài giáo huấn, cốt cho thích trung, người quá cao, ta phải kéo lại; người quá thấp, ta phải nhấc lên.
Sách Kinh Thư có câu doãn chấp quyết trung 允執厥中 nghĩa là thật hay cầm giữ đạo trung, đó là phương pháp của nhà phát Mông vậy, mà những người cầu thầy phát Mông cũng phải chú ý vào chữ thì trung mới được.
3. Sơ phệ cốc, dĩ cương trung dã, tái tam độc, độc tắc bất cốc, độc mông dã.
Đây là lấy thể quẻ thích lời quẻ, cương trung chỉ vào hào Cửu Nhị, Cửu Nhị dương cương đắc trung, là một bậc minh sư rất mực nên hiểu rõ phương pháp dạy người, xem người cầu giáo với mình có thành tâm chuyên nhất được như người sơ phệ thời dạy bảo cho. Nếu chí ý đã bất thành mà phiền toái đến tái tam, thế là độc, độc thời không dạy. Vì nghĩa rằng: Nó đương đồng mông nên nuôi ý chí thành của nó, nó đã không thành nhất mà còn dạy gượng, té ra mở lối bất thành cho nó, tập cho nó bằng một cách lờn lã, ấy là độc mông (Độc mông nghĩa là dạy cách lờn lã cho đứa mông vậy).
4. Mông dĩ dưỡng chính, thánh công dã.
Dưỡng chính nghĩa là bồi dưỡng gốc chính. Chính nghĩa là trung trực, vô tà. Mông dĩ dưỡng chính nghĩa là bồi dưỡng cái gốc chính ở lúc đồng mông vậy. Tục ngữ có câu "Dạy con dạy thuở đương thơ" chính là nghĩa ấy.
Người ta đương độ đồng mông, tính chất trời phú cho còn đương thuần nhất, lòng tình dục còn chưa nảy nở. Đương hồi đó mà lo gấp bồi dưỡng lấy mênh mông thiên lí, dắt vào đường lành, thời càng ngày càng tiến lên bậc cao minh, công phu làm thánh ngày sau chính [ở] lúc ấy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Sơn hạ xuất tuyển, Mông. Quân tử dĩ quả hạnh dục đức.
象曰: 出下出泉, 蒙. 君子以果行, 育德.
Quẻ này Ngoại Quái Cấn, tượng núi; Nội Quái Khảm, tượng nước suối. Trên Cấn, dưới Khảm, tượng là dưới núi phun ra nước suối. Suối khi mới phun ra ở dưới núi, chất nước rất trong, mà thế chảy chưa được mạnh, tượng như người còn trẻ nhỏ, là một hạng đồng mông nên đặt tên bằng Mông. Quân tử xem rõ tượng quẻ Mông, mới biết rằng phẩm hạnh người phải quả quyết, tượng như nước suối đã ra, tất ào ào chảy ngay, đạo đức tất phải bồi dưỡng cho cực cao, như chất núi không bao giờ lổ.
PHỤ CHÚ:
Lời Đại Tượng Truyện này, là chỉ tỏ rõ cho ta bằng cách dưỡng Mông, tất phải quả hạnh dục đức mới nuôi được Mông, mà thành được thánh công. Nhưng cội gỗc lại cốt ở hai chữ dục đức. Đức là cội gốc ở phía trong; hạnh là nhánh lá ở phía ngoài. Đức có bồi dưỡng được dày thời hạnh mới quả quyết được. Phép dạy ở nước văn minh đời nay, các nước văn minh trước chú trọng đức dục, sau mới trí dục, thể dục, cũng ám hợp với ý quẻ Mông.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Phát Mông, lợi dụng hình nhân, dụng thoát trất cốc, dĩ vãng, lẫn.
初六: 發蒙, 利用刑人, 用說桎梏, 以往吝.
Lục là âm nhu, Sơ là ở đầu hết quẻ Mông, tượng là hạng người hôn ám. Bây giờ muốn khởi phát hôn mông cho nó. Vì tính chất hôn mông của nó bị vật dục ràng buộc như hình gông cùm giằng trói nó, ta muốn phát mông cho nó, tất trước phải cởi lột cái gông cùm cho nó; nhưng vì nó bị vật dục gông cùm đã quá chừng sâu, nếu chỉ dùng bằng cách nhân ân mà thôi, thời nó không biết sợ, chẳng biết nghe lời dạy của mình. Vì vậy, trong lúc phát mông, có khi phải dùng hình phạt người mới cởi lột được cái gông cùm vật dục cho nó.
Khi đã cởi lột được gông cùm rồi thời những cách hình phạt sẽ bỏ đi, chuyên theo một cách bằng giáo hóa. ấy là cách phát mông đúng với nghĩa thì trung vậy. Nếu cứ dùng cách hình nhân mà tấn hành hoài thời trái mất đạo thì trung, mà người Mông cũng không bao giờ được cảm hóa. Ấy là một việc đáng xấu thẹn cho người phát Mông vậy.
Lợi dụng hình nhân nghĩa là: có khi dùng hình phạt mà trừng trị người.
Trất cốc nghĩa là gông cùm; dụng thoát trất cốc nghĩa là cốt để mở cái gông cùm cho nó. Trất cốc là thí dụ với một hạng người, hoặc vì tính di truyền, hoặc tập quán theo hoàn cảnh, mà đến nỗi những tính xấu, nết quen bó buộc nó không giải thoát được, ấy là gông cùm.
Tượng viết: Lợi dụng hình nhân, dĩ chính pháp dã.
象曰: 利用刑人, 以正法也.
Hào từ sở dĩ nói lợi dụng hình nhân là cốt làm cho vừa chính được phép tắc dạy người mà thôi. Khi trừng trị nó, thâm ý chỉ cốt ở khỏi phát cho nó chứ không phải hình nhân chuyên để làm uy đâu. Vậy nên Hào từ có câu: Dụng thoát trất cốc.
PHỤ CHÚ: Sách Luận Ngữ có câu bất giáo nhi sát vị chi ngược 不教而殺謂之虐, nghĩa là không dạy dỗ cho nó mà đã vội tru trách nó, ấy là làm hại nó. Thế thời lợi dụng hình nhân chẳng phải là bất giáo nhi sát hay sao?
Không phải. Hình nhân ở quẻ Mông là cốt để tháo gông cùm cho nó; hình tức là giáo, không phải bất giáo đâu. Giáo hóa mà đụng phải người hôn ngu, lẽ phải như thế cũng là nghĩa chữ thì vậy.
2. Cửu Nhị: Bao Mông, cát, nạp phụ cát, tử khắc gia.
九二: 包蒙, 吉. 納婦吉, 子克家.
Hào Cửu,vị Nhị đã dương cương lại đắc trung, lại Cửu Nhị làm chủ cho Nội Quái, thống trị cả bốn hào âm, thế thời Cửu Nhị chính là thầy phát Mông. Các hào âm kia là Mông, tượng là phụ. Cửu Nhị đã đang lấy trách nhiệm phát Mông, tất phải độ lượng cho khoan dung, thương lấy người hôn Mông, mà hết lòng dạy bảo, tuy nó vẫn hôn Mông, mà mình cũng hết lòng bao bọc cho.
Tuy nó vẫn nhu ám tượng như loài đàn bà nhưng mình cũng sẵn lòng dung nạp cho miễn nó chịu phục tòng giáo hóa, thời tuy ngu ám, nhưng ta cũng không cự tuyệt nó. Được như thế thời cái trách nhiệm phát Mông mới được hoàn toàn.
Nhị là chính ứng với Ngũ. Ngũ cư tôn ở địa vị quẻ trên, tượng như ông cha ở trong một nhà, Nhị chính ứng với Ngũ là tượng con. Ngũ âm nhu tượng như người cha nhu âm, Nhị lấy đức cương minh của mình mà cảm hóa được cha nhu ám, khải phát được hôn Mông cho Ngũ, tượng là người con hay chỉnh lí được việc nhà.
Tỉ như: Vua Thuấn hay hết chức phận làm con mà cha là Cổ Tẩu, cuối cùng phải cảm hóa với vua Thuấn; thầy Mạnh có câu: Thuấn tận sự thân chi đạo nhi Cổ Tẩu để dự; Cổ Tẩu để dự nhi thiên hạ hóa 舜盡事親之道而瞽瞍厎豫; 瞽瞍厎豫而天下化, nghĩa là: Vua Thuấn hết đạo thờ cha, mà Cổ Tẩu hóa, Cổ Tẩu đã hóa rồi thì thiên hạ cũng hóa luôn. Đó là nghĩa Hào Nhị quẻ này vậy.
PHỤ CHÚ: Cửu Nhị sở dĩ được hai chữ cát, là nhờ được đức cương trung. Bởi vì dương vẫn có tài cương minh, nhưng cương minh mà thái quá e có khi uy thắng ân, không dung nạp được tiểu nhân, tất nhiên không bao được Mông, không nạp được phụ, lấy gì mà Cát.
Mông phụ, là chỉ hạng tiểu nhân ngu ám. Mà Cửu Nhị sở dĩ bao nạp được, là vì cương minh mà đắc trung vậy.
Tượng viết: Tử khắc gia, cương nhu tiếp dã.
象曰: 子克家, 剛接柔也.
Tượng từ lại bổ thêm ý tứ Hào từ, mà nói rằng làm con sở dĩ khắc gia được. Tuy vì đức hiếu của con là Cửu Nhị nhưng cũng nhờ tính từ của cha là Lục Ngũ. Cương tiếp đặng nhu, nhu tiếp đặng cương, tượng như con hay cảm hóa được cha, mà cha cũng tín nhiệm con, ấy là cương, nhu tương tiếp.
Cương là Cửu Nhị, Nhu là Lục Ngũ. Nếu cương, nhu không tương tiếp thời khắc gia không được đâu. Trên Hào từ chỉ tán tụng Cửu Nhị, nơi tượng từ lại tán thêm Lục Ngũ để cho rõ ý thượng hạ phải tương tiếp mới được, cũng như nghĩa chữ "chí ứng" ở trên Soán Truyện.
3. Lục Tam: Vật dụng thú nữ, kiến kim phu, bất hữu cung, vô du lị.
六三: 勿用取女, 見金夫, 不有躬, 無攸利.
Lục là âm hào ở vào quẻ Mông, chính là âm nhu mà lại hôn ám, nếu được trung chính thời còn khá, bây giờ Lục ở vị Tam là bất trung, bất chính chi cực, tượng như một người con gái đã nhu nhược mà lại mù mờ, xu hướng không đường lối nhất định, đụng gặp phải anh trai nào nhiều tiền là theo ngay (Cung: thân; bất hữu cung: quên cả thân mình).
Vì vậy nên Hào từ nói Lục Tam này là một hạng gái rất dở, ngƣời ta chớ nên lấy hạng gái ấy. Bởi vì hạng con gái ấy, kiến kim phu thời bất hữu cung, chẳng đi đâu mà lị cả (Kim phu là hạng người nhiều vàng).
PHỤ CHÚ: Hào này thủ tƣợng bằng con gái dở, nhƣng không phải chuyên nói về một phụ nữ mà thôi. Hễ hạng tiểu nhân, kiến lợi vong nghĩa, thấy ai cho mình tiền, dầu bảo việc làm trái đạo nghĩa cũng cứ làm mà quên hết nghĩa vụ của mình làm ngƣời, đó chính là kiến kim phu bất hữu cung. Xƣa có anh Phùng Đạo bỏ vua này, thờ vua khác, làm quan trải năm đời triều. Tiên hiền có câu thơ vịnh Phùng Đạo rằng: Ngũ giá nhân gian lão a bà 五嫁人間老阿婆, nghĩa là: Một mụ già gả năm đời chồng chính là đúng với Mông Tam vậy. Hễ ai có quyền dụng nhân, thời nhất thiết bỏ hạng người ấy, tức là nghĩa câu vật dụng thú nữ. Tƣợng viết: Vật dụng thú nữ, hạnh bất thuận dã. 象曰: 勿用取女, 行不順也 Nghĩa là: Làm ngƣời con gái, cốt lấy chữ trinh làm thuận, bây giờ Lục Tam này hễ thấy trai nhiều tiền thời đi theo ngay, là tính nết nó trái đạo gái vậy (Bất thuận nghĩa là bất trinh).
4. Lục Tứ: Khốn Mông, lẫn.
六四: 困蒙, 吝.
Quẻ này chỉ hai hào dương là Cửu Nhị và Thượng Cửu là có tài phát Mông. Lục Tứ này, trùng âm bất trung, vẫn là âm nhu hôn ám mà địa vị sở xử, trên thời xa với Thượng Cửu, dưới thời xa với Cửu Nhị, chung quanh thảy là âm nhu, tượng là người mông ám mà lại không thầy bạn, suốt một đời người, chỉ nhốt vào trong vòng hôn ám. Người mà đến thế, đáng xấu hổ biết bao.
Tượng viết: Khốn Mông chi lẫn, độc viễn thực dã.
象曰: 困蒙之吝, 獨遠實也.
Xấu hổ vì tội khốn Mông là bởi vì Lục Tứ này một mình xa cách bạn dương cương. Nguyên toàn quẻ sáu hào, hai hào dương tượng là quân tử, có tính chất cương minh, còn bốn hào âm tượng là tiểu nhân, có tính chất nhu ám. Sơ gần Cửu Nhị nên phát được Mông, Ngũ gần Thượng Cửu nên được chữ cát, duy Lục Tứ xa cách hai dương, thế là độc viễn thực. Thực nghĩa là đặt chính giữa. Thông lệ trong Kinh Dịch, nét dương đặt chính giữa là thực, nét âm rỗng chính giữa là hư, thực là tượng hạng người có lương tâm ở trong nên dương thực là quân tử; hư là tượng hạng người không có lương tâm ở trong nên âm hư là tiểu nhân.
PHỤ CHÚ: Hào từ Lục Tứ xấu hơn các Hào từ ở trong quẻ là ý thánh nhân dạy cho người phải đo đường thân sư thủ hửu, thời dầu có hôn Mông mà may nhờ thầy hiền, bạn tốt khải phát cho, tất nhiên khốn nhi tri chi 困而知之 như sách Trung Dung nói. Chứ Lục Tứ này, đã mông ám mà lại không chịu tìm thầy, kén bạn để hỗ trợ đường học vấn cho, chính là như lời Khổng Tử nói: Khốn nhi bất học, tư vi hạ hĩ 困而不學, 斯爲下矣, nghĩa là tư chất đã khốn nạn, mà lại không chịu học, tất là phường hạ lưu mà thôi. Đó là khốn Mông chi lẫn đó vậy.
5. Lục Ngũ: Đồng Mông, cát. 六五: 童蒙, 吉.
Hào Lục vị Ngũ là âm nhu mà đắc trung, ở vào vị Ngũ, lại là tôn vị. Vì có đức nhu trung nên biết khuất kỉ hạ hiền tín nhậm lấy Cửu Nhị ở dưới, tượng là ông vua biết tín nhậm hiền thần. Ti như: Vua Thang chịu học với ông Y Doãn, Hoàn Công chịu học với ông Quản Trọng, lúc đầu thời nhờ người mà phát Mông cho bản thân, cuối cùng thời lại lấy bản thân mà phát được Mông cho thiên hạ, nhờ mình được thấy mà té ra thiên hạ thảy được nhờ mình vậy. Thế là đồng Mông mà cát. Đồng Mông nghĩa là mông hồi còn bé con. Vì còn hồi bé con nên tính chất dễ dạy, chỉ biết nghe vào thầy, thầy hay thời mình cũng hay. Lục Ngũ có tượng như thế nên nói rằng Đồng Mông, cát.
Tượng viết: Đồng Mông chi cát, thuận dĩ tốn đã.
象曰: 童蒙之吉, 順以巽也.
Lục Ngũ sở dĩ đồng Mông mà cát là vì nhờ có đức nhu thuận mà lại ti tốn, dốc lòng nghe thầy dạy, vả lại được thầy dạy cương minh như Cửu Nhị, vậy nên kết quả được tốt lành.
6. Thượng Cửu: Kích Mông bất lợí vi khấu, lợi ngự khấu.
上九: 擊蒙, 不利為寇, 利御寇.
Thượng Cửu có đức dương cương, có tài phát Mông, đúng với tư cách làm thầy, nhưng vì hào này ở về cuối cùng quẻ Mông nên tượng là Mông chi cực. Phương pháp làm thầy: Nếu gặp phải hạng người ngu mông đã cực điểm, thời cách dạy nó không thể quá cương mà xong. Vì hào này cương mà bất trung nên thánh nhân phải đặt làm lời răn rằng: Dạy hạng người quá ngu mông, không nên trách móc nó thái quá, chỉ dùng bằng cách công kích. Nếu dụng cách công kích, thời hạng người ngu mông chi cực thường đến nỗi đổ khùng phát bẳn, té ra không nghe lời dạy mình, xui cho nó thành ra tội bất tuân giáo hóa. Thế là người kích mông đó chỉ làm hại cho nó mà thôi, ấy là vi khấu mà bất lợi (Khấu nghĩa là hại, cũng có nghĩa là giặc). Duy thầy hay thời khéo lợi dụng cơ hội mà lần lần khỏi phát cho nó, chỉ cốt ngăn ngừa những giống vật dục ngoại dụ, cải lương hoàn cảnh cho nó khỏi tiêm nhiễm những thói hƣ. Thế là ngự khấu mà lợi. Ngự nghĩa là ngăn ngừa. Lợi ngự khấu nghĩa là nên ngăn ngừa những giống làm hại ở bên ngoài, trái thế, tức là vi khấu.
PHỤ CHÚ: Hào này tuy chỉ nói riêng bằng một việc dạy người nhưng không phải chuyên về dạy người mà thôi đâu. Suy ra cho rộng, hễ thống trị loạn dân, hoặc giả ngự tiểu nhân, tất thảy không nên quá cương chuyên bằng một cách công kích. Đức Khổng Tử có câu: Nhân chi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã 人之不仁, 疾之以葚, 亂也, nghĩa là gặp người bất nhân mà ghét nó quá thậm, thời đến nỗi kích thành ra loạn, chữ loạn tức là chữ khấu này. Hễ lời trong Kinh Dịch, tất thảy là ngôn cận nhi chi viễn, chúng ta đọc hào này nên biết nghĩa ấy.
Tượng viết: Lợi dụng ngự khấu, thượng hạ thuận dã.
象曰: 利用御寇, 上下順也.
Thượng là người phát Mông, hạ là người chủ Mông, lợi dụng ngự khấu, thời trên dưới thảy thuận với đạo lí vậy. Người trên không quá chừng cường bạo, người dưới thời nhờ đó mà trừ khử được Mông. Thế là trên dưới thảy thuận.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc suốt bốn quẻ Càn, Khôn, Truân, Mông, thời nên phát giác một đạo lí lớn: Có Càn, Khôn là có trời đất rồi, đứng giữa trời đất mà thành ra tam tài tức là loài người. Vì loài người là giống có cảm giác, có vật dục, tất cần phải có dưỡng, có giáo, cần có người thống trị, lại phải có cách giáo hóa, nên sau quẻ Càn, Khôn, tức tiếp lấy quẻ Truân, quẻ Mông. Ở quẻ Truân thời có những câu lợi kiến hầu, quân tử dĩ kinh luân, là nói về mặt chính trị. Ở quẻ Mông thời có những câu Mông dĩ dưỡng chính, dụng thoát trất cốc, lợi ngự khấu, là nói về mặt giáo hóa. Có chính trị tốt, có giáo hóa hay, thời loài người mới sinh tồn đƣợc. Nếu chính trị mà không được nguyên, hanh như Soán từ quẻ Truân, giáo hóa mà không được thì trung như Soán Truyện quẻ Mông, thời nhân loại không bao giờ được hưởng hạnh phúc, ấy là thâm ý của thánh nhân sắp đặt quẻ đó vậy. Lại có một đạo lí riêng về quẻ Mông, sáu hào quẻ Mông, hào nào cũng có chữ Mông, duy Lục Tam không có chữ Mông, cũng là thâm ý của thánh nhân rất hay. Vì rằng trong việc giáo hóa quan hệ ở cả hai bên: một bên là người chủ giáo hóa, một bên là người bị giáo hóa. Những hạng người bị giáo hóa tất phải có tư cách tốt nhất, là tính dương cương, thứ nữa là người âm nhu mà đắc trung, ấy là hạng người vừa đúng cách Mông, tất nhiên giáo hóa được, chỉ cốt thầy dạy cho hay nữa mà thôi. Hào Sơ âm nhu, bất trung, bất chính vẫn là khó dạy, may còn hồi Mông chi sơ nên đến nỗi phải dụng hình mới thoát trất cốc. Lục Tam đã âm nhu bất trung, bất chính mà lại ở đoạn giữa Mông, là mông ám quá nhiều nên Hào từ không đặt chữ Mông vào, mà lại chỉ có chữ vật dụng thú nữ, vô du lợi, nghĩa là không nên cho những hạng người này vào hạng Mông được, chỉ nên để ra ngoài vòng giáo hóa vậy. Chúng ta xét được ý thánh nhân như thế, thời hạng người tham lợi quên thân như Lục Tam, còn lấy gì mà nhận làm đồ đệ nữa rư!
05. THỦY THIÊN NHU
Khảm trên; Kiền dưới Quẻ này là quẻ Thủy Thiên Nhu. Ba nét dưới là quẻ Càn, là Càn hạ, cùng là Nội Càn. Ba nét trên là quẻ Khảm, là Khảm thượng, cũng là Ngoại Khảm. Khảm tượng Thủy, Càn tượng Thiên nên tên quẻ đọc bằng Thủy Thiên Nhu.
TỰ QUÁI
Tự Quái: Mông giả mông dã, vật chi trĩ dã; vật trĩ bất khả bất dưỡng dã, cố thụ chi dĩ Nhu. Nhu già ẩm thực chi đạo dã.
序卦: 蒙者蒙也, 物之穉也; 物穉不可不養也, 故受之以需. 需者飲食之道也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Mông tiếp lấy quẻ Nhu là vì cớ sao? Bởi vì Mông là giống vật thơ, vật còn thơ yếu tất cần phải nuôi, mà nuôi cần nhất là ăn uống. Nhu nghĩa là những việc cung cấp ăn uống; sách Xã Hội có câu: Các tận sở năng, các thủ sở nhu 各盡所能, 各取所需, cũng như chữ Nhu ấy. Vì có đạo ăn uống mới nuôi được sống. Vậy nên sau quẻ Mông tiếp lấy quẻ Nhu.
PHỤ CHÚ:
Chính nghĩa chữ Nhu có ba nghĩa:
1) Do dự rù rờ, sách Tả Truyện có câu: "Nhu giả sự chi tặc” nghĩa là: Do dự rù rờ rất làm hại cho việc;
2) Cần thiết, mà những giống cần thiết ở trong loài ngƣời, không chi bằng đồ ăn uống, Tự Quái có câu: "Nhu giả ẩm thực chi đạo đã" nghĩa là: Nhu là cái đạo ăn uống;
3) Đợi chờ. Chữ Nhu có ba nghĩa nhƣ trên kể, như theo ý nghĩa tự quái ở đây, thời chỉ lấy nghĩa Nhu là ăn uống. Vì muốn nuôi người Mông, trước cần phải có đồ ăn uống. Sách Luận Ngữ có lời: Tiên phú nhi hậu giáo 先富而後教, cũng là nghĩa ấy.
SOÁN TỪ Nhu, hữu phu, quang hanh, trinh, cát, lợi thiệp đại xuyên. 需, 有孚, 光, 亨, 貞, 吉, 利涉大川.
Soán từ quẻ này, lấy thể quẻ thích nghĩa tên quẻ, chỉ lấy nghĩa Nhu là chờ đợi. Xem thể nội ngoại trong quẻ, Nội Càn là cương kiện, Ngoại Khảm là hiểm hãm. Càn kiện mà đụng lấy hiểm, dầu muốn thượng tiến, nhưng cũng phải chờ đợi, nên đặt tên quẻ bằng Nhu. Lại xem các hào ở trong quẻ, tốt nhất là Cửu Ngũ, dƣơng cương, trung chính lại ở ngôi tôn, vả Ngũ lại làm chủ cho quẻ Nhu, vì rằng quẻ này nếu không Cửu Ngũ thời Ngoại Quái thành ra ngoại Khôn, không thể thành được quẻ Nhu; vì có Cửu Ngũ thay vào mà thành ra Khảm, mới thành ra quẻ Thủy Thiên Nhu. Có đức cương kiện, trung chính là có đức thành thực bên trong. Đức thành thực đầy đủ ở bên trong thời đến khi phát hiện ra bên ngoài tất nhiên quang minh mà thông thái.
Sách Trung Dung có câu: Thành tắc hình, hình tắc trứ, trứ tắc minh 誠則形, 形則著, 著則明, chính là hữu phu quang hanh đó vậy. Hữu phu nghĩa là thành thực. Vì có đức hữu phu thời chẳng những quang hanh mà thôi, mà làm việc gì tất cũng trinh chính, kiên cố mà đƣợc tốt lành. Thích tóm lại, hữu phu là tạo nhân kết quả; quang hanh, trinh, cát là tạo nhân kết quả được như thế là nhờ có đức cương kiện, trung chính. Người ta nếu có đức cương kiện, trung chính như Cửu Ngũ quẻ Nhu thời chẳng những khi bình thường vô sự mà hanh, nếu gặp lúc hiểm trở gian nan cũng cán toàn được thong thả, vậy nên Soán từ có câu: Lị thiệp đại xuyên. Thiệp là qua; đại xuyên là sông lớn, là thí dụ việc nguy hiểm, gặp lúc nguy hiểm mà xử trí được như thường là lị.
PHỤ CHÚ: Đọc Soán từ quẻ này nên nhận kĩ chữ hữu phu, chữ trinh, xử vào thời đại Nhu là việc gì cũng còn đương chờ đợi, họa phúc thành bại quan hệ ở lúc ấy, tất phải có đức thành tín làm căn bản, có đức trinh chính làm cơ sở thời cơ hội mà mình chờ đợi đó mới là cơ hội tốt, tiến hành mới thuận tiện. Nói tóm lại, nhu là khi tâm ở trong chốc phút mình còn chờ đợi, hữu phu, trinh là chứa sẵn khi bình nhật. Ví như toan qua sông lớn, còn phải chờ gặp thuyền là nhu, có tiền sẵn trong lƣng để trả tiền đó là hữu phu, đón cho nhằm bến lên cho nhằm thuyền là trinh, qua đƣợc sông, lên đƣợc bờ là cát. Câu lị thiệp đại xuyên thủ tượng rất tinh diệu.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Nhu, tu dã, hiểm tại tiền dã, cương kiện nhi bất hãm, kì nghĩa bất khốn cùng hĩ. Nhu hữu phu quang, hanh, trinh cát, vị hồ thiên vị, dĩ chính trung dã. lị thiệp đại xuyên, vãng hữu công dã.
彖曰: 需須也, 險在前也, 剛健而不陷,
其義不困窮矣. 需有孚, 光, 貞, 吉, 位乎天位, 以正中 也. 利涉大川, 往有功也.
Soán viết: Nhu, tu dã, hiểm tại tiền dã, cương kiện nhi bất hãm, kì nghĩa bất khốn cùng hĩ. Soán Truyện lấy đức quẻ, thích nghĩa tên quẻ. Đặt tên bằng quẻ Nhu nghĩa là chờ đợi. Chữ tu cũng là nghĩa chờ đợi. Vì quẻ này Khảm ở trên Càn, là trước mặt có đám hiểm, đụng lấy hiểm, chưa tiến được liền, tất phải chờ đợi, vì biết chờ đợi, chính là trí khôn “thẩm thì đạc thế", chờ gặp dịp mới lên. Tuy tính Càn cương kiện, mà chẳng bao giờ sụp vào Khảm hiểm (Hãm nghĩa là sụp). Khổng Tử thấy có đức dũng, mà lại đủ đức trí nhƣ thế nên lại tán thêm một câu rằng: Người xử thế mà được như nghĩa quẻ Nhu, thời chắc chẳng bao giờ khốn cùng.
PHỤ CHÚ: Cương kiện vẫn là một tính tốt, nhưng đã cương kiện thời thường hay nhuệ tấn cảm vi, nhiều lúc bị nguy hiểm ở trước mặt mình, mà cũng táo tiến, vọng động, chẳng sao tránh khỏi hiểm. Vì thế nên thánh nhân đặt ra quẻ Nhu. Nhu nghĩa là nín nhịn mà chờ đợi. Tỉ như đụng lấy một việc gì, chỉ nín nhịn được năm phút đồng hồ, thời tối hậu là quyết thắng. Vì mình không nín nhịn nổi, trước khi hết năm phút đồng hồ đã vội làm ngay, té ra mắc tội dục tốc bất đạt. Kinh Dịch nói rằng: Cương kiện nhi bất hãm, chính là khôn khéo ở chốn ấy. Kinh Thư có câu Lự thiện dĩ động, động duy quyết thì 慮善以動, 動惟厥时, nghĩa là tính toán cho thiệt lành mà sau mới động, động thời đúng với thì, chính là nghĩa quẻ Nhu đó vậy. Nhu hữu phu, quang hanh, trinh cát, vị hồ thiên vị, dĩ chính trung dã. Đây là lấy thể quẻ, thích nghĩa Soán từ. Soán từ sở dĩ nói rằng: Nhu, hữu phu, quang hanh, trinh cát là chỉ vào Cửu Ngũ với Cửu Nhị. Cửu Ngũ ở vào vị chí tôn là vào ngôi trời mà lại có đức chính trung để ứng với Cửu Nhị. Cửu Nhị cũng có đức trung, mà ứng với Cửu Ngũ. Vì vậy nên được Soán từ tốt như thế.
PHỤ CHÚ: Nghĩa quẻ Nhu có hai phương diện: Một phương diện là mình phải chờ đợi ngƣời, tức là nhu nhân, tỉ như Cửu Nhị phải nhu Cửu Ngũ. Lại một phương diện là mình có thế lực, tài đức, mà ngƣời cần phải chờ mình, tỉ như Cửu Ngũ ở quẻ Nhu này. Đại phàm việc quốc gia, xã hội, đụng phải thời đại Nhu tất phải đủ hai phương diện ấy, nên Hán văn có câu: Tương nhu thậm ân 相需甚殷, nghĩa là chờ đợi nhau rất mật thiết. Lị thiệp đại xuyên, vãng hữu công dã. Quái từ sở dĩ có câu lị thiệp đại xuyên, nghĩa là đã hữu phu mà lại trinh chính, vả có trí khôn biết cách Nhu thời đầu trải qua hiểm trở bao nhiêu cũng chắc thành công.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Vân thượng ư thiên, Nhu, quân từ dĩ ẩm thực yến lạc.
象曰: 雲上於天, 需. 君子以飲食宴樂.
Quẻ này Nội Càn là tượng trời, Ngoại Khảm là tượng mây, dưới Càn, trên Khảm là tượng mây ùn lên tột trời. Mây đã ùn lên tột trời, chắc rày mai cũng mưa, chỉ tranh nhau thì giờ chút đỉnh, phải chờ đợi mà thôi. Vậy nên đặt tên quẻ bằng Nhu. Quân tử ở vào thời đại ấy thời những việc đã sắp đặt sẵn sàng rồi, không nên làm rối thêm nữa, chỉ nên: một phương diện thời nuôi thân thể cho bạo mạnh, tượng bằng ẩm thực. Một phương diện thời nuôi tâm chí cho hòa bình, tượng bằng yến lạc. Vì thì đã sắp đến nơi, nếu vội vàng biến động, e lỡ hỏng việc, chỉ duy lặng lẽ êm đềm chờ thì đến, nên Tượng Truyện nói rằng: Quân tử dĩ ẩm thực yến lạc.
PHỤ CHÚ: Lời Tượng Truyện đây chúng ta nên nghiên cứu lấy ý, chớ nên câu nệ ở lời. Rằng ẩm thực, há phải say mê rượu chè đâu! Rằng yến lạc, há phải hát xướng chơi bời đâu. Bởi vì Nhu chỉ [là] chờ đợi chốc lát thôi. Nhưng trước khi chờ đợi đó vẫn đã sắp đặt sẵn sàng, chứa trữ đầy đủ. Duy thì giờ chưa đến thời chưa động tác được. Vậy ở trong thì giờ chờ đợi đó chỉ nuôi thể xác cũ cho mạnh thêm, giữ tinh thần cũ cho sung túc thêm, tượng như ẩm thực yến lạc. Thầy Mạnh Tử bàn dưỡng khí mà răn người ta rằng vật trợ trưởng 勿助長, nghĩa là chớ miễn cưỡng sinh sự giúp làm cho nó mau lớn, chính là nghĩa Tượng Truyện quẻ Nhu vậy. Chúng ta lại phải biết, sở dĩ ẩm thực yến lạc mà nên được Nhu là nhờ có tư cơ trí tuệ đã sẵn đủ trước khi chưa Nhu. Đến lúc Nhu thời chỉ chờ thời thế nữa mà thôi. Nếu bình thì mà không dự bị gì thời không gọi bằng Nhu được. Nếu lâm thì mà táo tiến vọng động, thời hỏng cả Nhu. Hễ trúng lấy một tệ ấy, thời không đúng với nghĩa Tượng Truyện.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Nhu vu giao, lị dụng hằng, vô cựu.
初九: 需于郊, 利用恒, 無咎.
[Về] địa vị các hào ở quẻ Nhu, thời Ngoại Khảm là hiểm, vì gặp hiểm nên phải Nhu. Sơ Cửu vẫn có tài cương minh là hạng người tri tiến, tri thoái, lại ở vào địa vị Nhu Sơ, cách Ngoại Khảm còn xa (Khảm là chốn hiểm). Sơ cách hiểm còn xa nên trong thì giờ chờ đợi, Sơ chỉ đứng ngoài xa, tượng như chờ đợi ở chốn giao vậy (Giao nghĩa là chốn đất xa ở ngoài quốc thành). Nhưng vì Sơ là tính dương cương, dương cương thời ham tiến, sợ không giữ được thái độ thường chăng nên Hào từ răn rằng: Lị dụng hằng, vô cựu. Hằng nghĩa là thường; lị dụng hằng nghĩa là nên giữ thái độ thường, chớ thấy mình xa hiểm mà vội vàng khinh tiến, vậy mới được vô cựu.
Tượng viết: Nhu vu giao, bất phạm nạn hành dã, lị dụng hằng, vô cựu, vị thất thường dã.
象曰: 需于郊, 不犯難行也, 利用恒,
無咎, 未失常也.
Thích Hào từ nói rằng: Chờ đợi ở chốn giao là vì thì giờ mình chưa nên xông hiểm nạn mà đi vậy, đã đành biết thì giờ mình còn nên chờ đợi, nhưng phải tâm chí cho kiên định, chớ để mất thƣờng độ của mình, có thế mới khỏi tội lỗi.
2. Cửu Nhị: Nhu vu sa, tiểu hữu ngôn, chung cát.
九二: 需于沙, 小有言, 終吉.
Cửu Nhị cách hiểm đã gần, chỉ vượt qua Cửu Tam tức là vào Khảm hiểm, tượng như đứng ở bãi cát, đã bức cận nước sông. Địa vị Cửu Nhị như thế nên Hào từ nói rằng: Nhu vu sa (Sa là bãi cát). Thế thời Cửu Nhị e sụp vào hiểm chăng? Không, không. Bởi vì Cửu Nhị là dương cương ở vào vị nhu lại đắc trung, dương cương mà đắc trung là người thiệp thế rất khôn khéo, tuy địa vị gần hiểm mặc lòng nhưng chắc cũng biết lựa thì rồi mới tiến, không đến nỗi vấp vào hoạn nạn đâu, dầu có tổn hại chút đỉnh cũng chẳng qua khẩu thiệt mọn mằn mà thôi. Kết quả thời một vị nhân tài cương trung như Cửu Nhị, cuối cùng chắc cũng được tốt lành.
Tượng viết: Nhu vu sa, diễn tại trung dã, tuy tiểu hữu ngôn, dĩ chung cát dã.
象曰: 需于沙, 衍在中也, 雖小亨言,
以終吉也.
Diễn nghĩa là thung dung khoan khoái. Diễn tại trung nghĩa là sở dĩ thung dung khoan khoái, cốt vì có đức trung vậy. Vì có đức trung, mà xử vào thời đại Nhu nên không tai hại đến mình, tuy có chút khẩu thiệt chi thương, mà cứ giữ lấy đức trung cho đến cuối cùng thời vẫn không thất bại.
PHỤ CHÚ: Chữ trung ở hào này với chữ chính trung ở Soán Truyện là phương châm rất tốt cho người ở đời, mà ở vào thời đại Nhu lại càng hay lắm. Bây giờ xin giải thích cho rõ nghĩa chữ trung: Trung là nghĩa vừa cân, ý như trung là giữa, lại nghĩa là vừa đúng như chữ trúng là nhằm, vẫn nhiệt tâm mà không quá nóng, vẫn trầm tĩnh mà không quá nguội, vẫn thẩm thận mà không phải hồ nghi, vẫn thung dung mà không phải là chậm trễ. Thì chưa đến, ai dắt mấy ta cũng không đi; thì đến rồi, ai kéo lại ta cũng cố tới, đủ các phương diện ấy chính là đúng nghĩa chữ trung, mà xử về thời đại Nhu thì không gì hay hơn nữa. Vì vậy nên truyện Soán từ, tượng hào Cửu Nhị đều có chữ trung nên thảy được chữ cát.
3. Cửu Tam: Nhu vu nê, trí khấu chí.
九三: 需于泥, 至寇至.
Cửu Tam này bức cận Khảm hiểm, tượng như người qua sông, tuy chưa sụp xuống nước nhưng đã bén chân vào giữa bùn. Đã đến hồi đó, không còn gì nhu đƣợc, chẳng bao lâu, sụp vào chốn hiểm, thành ra tự mình đem giặc đến mà làm hại mình. Vậy nên Hào từ nói rằng: Nhu vu nê, trí khấu chí. Nê nghĩa là vũng bùn; trí nghĩa là đem dắt; khấu nghĩa là giặc; trí khấu chí nghĩa là tự đem tai hại vào thân. Hào từ này rất xấu ở trong quẻ, tuy cũng là hoàn cảnh bất buộc như thế, như không phải tội tại hoàn cảnh mà là tội tại bản thân Cửu Tam này. Cửu với Tam đều là dương cương, mà lại bất trung, lại ở vào địa vị trên hết Nội Càn là cương chi cực, thiệt là cương táo đạt cực điểm, tất nhiên hay động càn chạy bậy, không sụp hiểm không thôi, đến nỗi tai hại vào thân Tam là do Tam tự thủ. Sách Binh Thư có câu: Tất tử khả lục, nghĩa là: Những người cố liều chết, tất nhiên bị giặc giết, chính là đúng với Cửu Tam này. Vậy nên Hào từ có câu: Trí khấu chí.
Tượng viết: Nhu vu nê, tai tại ngoại dã, tự ngã trí khấu, kính thận bất bại dã.
象曰: 需于泥, 災在外也, 自我致寇, 敬慎不敗也. Tượng Truyện lại bổ túc ý Hào từ, phát minh cho chúng ta một đạo lí mà dạy rằng: Cửu Tam tuy bức cận với hiểm, nhưng Khảm hiểm còn ở Ngoại Quái. Thế là người làm tai hại mình, còn ở phía ngoài. Nếu mình biết kính thận kĩ càng, lựa đúng thì mà tiến thối, cũng có thể tránh được tai vạ. Cửu Tam thời trái thế, vì cương cấp thái quá, đi đứng không lựa đường, nhắm mắt đi liều, đến nỗi phải sụp vào hiểm hãm, thế là tự mình đem tai họa tới mình. Nếu Tam trước biết cẩn thận, thời cũng chẳng thất bại. Nghĩa chữ kính, chữ thận có khác nhau chút đỉnh. Kính là tính nết cung kính ở khi thường; thận là thẩm thận ở khi lâm sự. Khổng Tử có câu: Lâm sự nhi cụ 臨事而懼 nghĩa là lâm đến việc mà có ý sợ, chính là nghĩa chữ thận.
4. Lục Tứ: Nhu vu huyết, xuất tự huyệt. 六四: 需于血, 出自穴. Hào này đã bước vào thể Khảm, ấy là thân mình đã sụp vào giữa chốn hiểm, tượng như đã gieo thân vào vùng lưu huyết, xử ở thời đại Nhu mà đến thế thành ra chờ đợi ở giữa vùng hiểm nạn, theo như hoàn cảnh hào này, thiệt đáng ghê gớm, nên nói rằng: Nhu vu huyết. Huyết nghĩa là máu là chốn ghê gớm, nhưng vì Lục Tứ mà âm nhu, âm hào ở âm vị là đắc chính, âm nhu đắc chính mà xử vào thời đại Nhu, còn có thể tìm được phương pháp thiện hậu. Vậy nên, lúc trước tuy xử vào vùng nguy hiểm mà cuối cùng may cũng thoát khỏi vùng ấy. Huyệt nghĩa là bộng (lỗ), ở từ trong huyệt thoát ra, tượng là thoát khỏi vùng nguy hiểm.
Tượng viết: Nhu vu huyết, thuận dĩ thính dã.
象曰: 需于血, 順以聽也.
Hào từ đã nói nhu vu huyết, thời đã là không thể thoát được hoạn nạn, nhưng cớ sao lại nói xuất tự huyệt? Bới vì, Lục Tứ này tính chất thuần Nhu, chỉ biết một mực nhu thuận, mà nghe trời sắp đặt cho mình vậy nên cũng chẳng đến nỗi hung họa.
5. Cửu Ngũ: Nhu vu tửu tự, trinh cát. 九五: 需于酒食, 貞吉.
Cửu là hào dương, mà Ngũ cũng vị dương, Dương cư dương vị là đắc chính, lại ở giữa Ngoại Quái là đắc trung; một bậc dương cương, trung chính như thế, mà lại ở được ngôi chí tôn làm nguyên thủ trong một nước. Có đức này, có vị này, lại gặp thời đại Nhu, tượng là người truyền quốc ai nấy cũng trông mong chờ đợi vào người ấy. Lấy đức một bậc thánh nhân, ở vị thánh nhân, tất nhiên thỏa thích được nguyện vọng trong thiên hạ, tượng như chờ đợi ở giữa trường khoái lạc. Tửu tự nghĩa là ăn no uống say, ý là ai nấy cũng được vui vẻ hạnh phúc. Kinh Thi có câu: Ký túy dĩ tửu, ký bảo dĩ đức, nghĩa là đã lấy rượu cho chúng ta say, lại lấy đức cho chúng ta no, chính là tượng hào này. Tuy nhiên, họa thường sinh ở chốn phúc, vả lạc cực thường hay sinh bi, thánh nhân sợ người đời xử vào thời đại an lạc hay nảy ra mầm bất chính nên lại có lời răn rằng: Trinh, cát, nghĩa là tuy được cảnh hạnh phúc, nhưng phải lo bền giữ đức trung chính, thời hạnh phúc mới được lâu dài. Thế là cát.
Tượng viết: Tửu tự, trinh cát, dĩ trung chính dã.
象曰: 酒食貞吉, 以中正也.
Chữ trung chính ở Tượng Truyện đây có ý nói chung Cửu Ngũ với Cửu Nhị; Cửu Ngũ có đức trung chính, Cửu Nhị có đức cương trung, minh quân hiền thần chung nhau làm sự nghiệp Nhu, dắt thiên hạ lên vũ đài hạnh phúc nên Hào từ nói rằng: Nhu vu tửu tự, trinh, cát.
6. Thượng Lục:
Nhập vu huyệt, hữu bất tốc chi khách, tam nhân lai, kính chi, chung cát. 上九: 入于穴, 有不速之客, 三人來,
敬之, 終吉.
Thượng Lục này đã âm nhu mà lại ở vào địa vị Khảm hiểm chi chung. Theo hoàn cảnh có lẽ hiểm cực, mà đến nỗi không đường lên, vả lại hào âm ở trên, e cũng dễ sụp vào giữa hiểm, tượng như rớt vào giữa hang. Nhưng Dịch lí biến hóa vô cùng, không chấp nhất như các hào, mà cốt yếu nhất là thức thì, Thượng Lục ở về cuối cùng thì Nhu tượng là thì tiết chờ đợi, bây giờ đã đến nơi rồi, bản thân Thượng Lục tuy âm nhu, nhưng chính ứng với Cửu Tam, Cửu Tam có đồng đảng là Sơ Cửu. Cửu Nhị tất thảy là bạn dương cương, họ nghe thì Nhu đã đến, họ hùa nhau kéo lên, tới hào cuối cùng dụng Thượng Lục, Thượng Lục nguyên sẵn tính nhu thuận, lấy chính ứng của mình là Cửu Tam, mà bạn Cữu Tam có hai người nữa, thình lình đến trƣớc mặt mình. Vì Thượng Lục nhu thuận nên hết sức hoan nghênh, được nhiều bạn thần thế kéo dắt mình, chẳng những kéo mình đã ra khỏi vùng hiểm nạn, mà cuối cùng mình lại được hưởng một phần sung sướng ở đời Nhu vậy. (Khách tam nhân chỉ vào ba hào dương ở Hạ Quái; bất tốc nghĩa là chẳng mời; kính chi nghĩa là kính rước lấy ba người khách ấy).
Tượng viết: Bất
tốc chi khách lai, kính chi, chung cát, tuy bất đáng vị, vị đại thất dã. 象曰: 不速之客來, 敬之終吉, 雖不當位,
未大失也.
Thượng Lục tuy âm nhu, mà lên ở vị cao tột, tuy hào không xứng vị nhưng biết khiêm tốn tự trì, kính trọng lấy những bạn dương cương, cũng chưa đến nỗi thất bại lớn vậy, nên Hào từ nói rằng: Bất tốc chi khách lai, kính chi, chung cát. Chữ vị ở tượng từ này, khác chữ vị ở mọi nơi. Chữ vị ở mọi nơi là âm, dương chi vị. Nếu theo nghĩa chữ ấy, thời hào này âm cư âm vị, không nói bất đáng vị được. Duy lấy nghĩa bằng vị trên, vị dưới, thời âm nhu mà ở vị cao, ấy là bất đáng vị.
PHỤ CHÚ: Đọc suốt hết sáu Hào từ quẻ Nhu này, càng biết được đạo biến hóa ở trong Dịch lí. Nguyên tượng quẻ này chỉ tượng là chờ đợi, mà sở dĩ phải chờ đợi là vì Khảm hiểm bức ở trước mặt ngoài nên Sơ Cửu xa Khảm, thời nói Nhu vu giao; Cửu Nhị đã gần Khảm thời nói Nhu vu sa; Cửu Tam bức cận Khảm thời nói Nhu vu nê; Lục Tứ bắt đầu bước vào Khảm, thời có chữ huyết, chữ huyệt; Thượng Lục ở trên hết quẻ Khảm, thời nói Nhập vu huyệt. Thế thời suốt cả năm hào, thì tuy vẫn gần Khảm, xa Khảm khác nhau, mà hào nào cũng cay co vì Khảm. Cớ sao Cửu Ngũ là chính giữa Khảm, theo thông lệ của mỗi hào thì Cửu Ngũ đáng lẽ chôn vào bộng Khảm mà Hào từ lại nói: Nhu vu tửu tự, tửu tự ngó ra một cách rất thái bình là ý làm sao? Chúng ta nghiên cứu cho kĩ ý ấy thời biết được Dịch lí biến hóa vô cùng mà ý thánh nhân dạy người hết sức tinh tường. Bởi vì trên kia, Càn, Khôn, Truân, Mông trải qua thời kỳ không biết bao lâu, thiên địa đã định vị rồi; bước qua Truân, Mông thời là chính trị, giáo dục đã sắp đặt sẵn sàng rồi, bắt đầu vào thì Nhu, cũng ví như cơm đã đến lúc gần chín chỉ ngồi chờ hỏa hậu đến nơi nữa là được ăn. Vì vậy, ở Cửu Ngũ, thánh nhân không lấy nghĩa riêng mỗi hào, mà lấy nghĩa chung cả toàn quái, cũng như nghĩa Đại Tượng Truyện nói rằng quân tử dĩ ẩm thực yến lạc, vì rằng có tài dương cương, trung chính như hào Ngũ mà ở vào thời đại Nhu chính là lúc vô vi nhi thiên hạ trị. Lại còn hai ý nghĩa nữa là thuộc về ý thánh nhân dạy người đời:
Một là: Thường lí trong thiên hạ, hoàn cảnh hay xoay chuyển đƣợc ngƣời mà ngƣời cũng xoay chuyển được hoàn cảnh. Nếu có đức dương cương, trung chính, lại có tài cương minh như Cửu Ngũ, thật là một bậc anh hùng tạo thời thế, mà cũng là một bậc thánh nhân xoay vũ trụ. Tuy giữa lúc Khảm hiểm mà xoay chuyển ra làm thái bình, cũng là lẽ tất nhiên. Hai là: Tuy đương giữa lúc Khảm hiểm nhưng mình có tài dương cương ra gánh việc đời, giúp thiên hạ thoát ra ngoài vùng Khảm hiểm. Nếu nhƣ Cửu Ngũ biết dắt ba bạn dƣơng cƣơng dƣới lên, mà làm nên công nghiệp ở thời đại Nhu, chớ thấy Khảm hiểm mà kinh sợ mới phải. Vậy nên Hào từ Cửu Ngũ nói Nhu vu tửu tự, cốt bảo cho ngƣời ta thấy Khảm hiểm mà vui, chớ thấy Khảm hiểm mà buồn, duy phải cẩn thận chờ thì, chớ không thể nóng nôn mà sai lầm, mất ý nghĩa Nhu vậy.
Nhận xét
Đăng nhận xét