PHAN BỘI CHÂU CHU DỊCH HẠ KINH 1
CHU DỊCH HẠ KINH
31. QUẺ TRẠCH SƠN HÀM
Đoái trên; Cấn dưới
Quẻ này là quẻ Trạch Sơn Hàm. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Sơn Hàm.
TỰ QUÁI
Tự quái: Hữu thiên địa nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ nhiên hậu hữu phụ tử, hữu phụ tử nhiên hậu hữu quân thần, hữu quân thần nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu thượng hạ nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở thố.
序卦: 有天地然後有萬物, 有萬物然後有男女, 有男女然後有夫婦, 有夫婦然後有父子, 有父 子然後有君臣, 有君臣然後有上下, 有上下然後有禮義有所錯.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Nguyên đầu tiên có trời đất, vậy sau mới có vạn vật; đã có vạn vật, vậy sau mới có trai gái; đã có trai gái, vậy sau mới có âm dương giao kết mà thành phu phụ; đã có phu phụ, vậy sau mới có công sinh dục mà thành cha con; đã có cha con, vậy sau mới có trật tự ở loài người, mới nảy ra quân thần; đã có quân thần, vậy sau mới có chế độ mà chia làm thượng hạ; đã có thượng hạ, vậy sau mới có chốn mà sắp đặt nên lễ nghĩa.
Thiên địa là nguyên tổ của vạn vật, phu phụ là nguyên thỉ của loài người. Sở dĩ Thượng Kinh đặt quẻ Càn, quẻ Khôn ở đầu. Hạ Kinh đặt quẻ Hàm, quẻ Hằng ở đầu mà sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là ý nghĩa như thế. Thiên địa là nhị thể nên chia ra làm hai quẻ, để hình dung cái đạo của trời đất, trai gái thời hợp nhau mà thành phu phụ, nên quẻ Hàm với quẻ Hằng thảy là hai thể hợp làm một quẻ, để chỉ rõ cái nghĩa của phu phụ. (Hàm, nghĩa là cảm).
Quẻ này Đoài ở trên, Cấn ở dưới, Đoài là thiếu nữ, Cấn là thiếu nam, cảm với nhau rất thân thiết, không chi bằng thiếu nam, thiếu nữ.
Vậy nên, lấy ý nhị thiếu cảm nhau mà đặt tên quẻ bằng Hàm.
PHỤ CHÚ: Quẻ Hàm với quẻ Hằng thảy là quẻ nhất nam nhất nữ, nhưng quẻ Hàm thời thiếu nam phải hạ ở thiếu nữ. Vì bắt đầu nam nữ tương cảm có như thế mới thành phu phụ. Nếu trái lại, bắt thiếu nữ cầu với thiếu nam mà nữ phải hạ nam, thế là nữ bất trinh mà nam cũng không cảm làm sao nên được Hàm. Đến như quẻ Hằng thời sau khi phu phụ đã thành rồi nghĩa phải vợ thừa thuận chồng nên trưởng nam ở trên, trưởng nữ ở dưới. Nếu trái lại, trưởng nữ trên, trưởng nam dưới là trái nghĩa phu phụ thời làm sao hằng cửu được. Ý sắp quẻ, với đặt tên quẻ của thánh nhân là lí do như thế. Thượng Kinh thủ Càn, Khôn là nói chung nguyên lí của toàn vũ trụ; Hạ Kinh thủ Hàm, Hằng là bàn riêng về phần nhân sự, nhưng nếu không nhân sự thời lấy gì mà thành vũ trụ, bốn quẻ đặt đầu hai Kinh, rất có ý nghĩa.
SOÁN TỪ
Hàm, hanh, lị, trinh, thú nữ, cát.
咸亨, 利貞, 取女吉.
Hàm, nghĩa là cảm, lại một nghĩa là tất thảy. Vật tình tương cảm không gì thân thiết hơn nam nữ, quẻ này thiếu nam thiếu nữ kháp nhau mà lại nam hạ nữ, chính là cảm tình rất thân mật.
Nếu suy ra đến triều đình, quốc gia, xã hội, cho đến khắp loài người mà tới đâu cũng cảm ứng thân thiết với nhau như thế thời tất nhiên thảy được hanh thông. Nên nói rằng: Hàm hanh (Hàm hanh: đã cảm tất nhiên thông).
Tuy nhiên, loài người vẫn nhờ có cảm nhau mới có thể ăn ở với nhau được mà thành ra xã hội, nhưng mà động cơ cảm có nguyên nhân vì chính, có nguyên nhân vì tà; nguyên nhân vì chính thời cảm mà đằm thắm lâu dài, nguyên nhân vì tà thời cảm đã không ra gì mà kết quả tất xấu.
Tỉ như: Trai gái mà cảm nhau bằng cách tà dâm, tất nhiên trước nồng sau đạm; trên dưới mà cảm nhau bằng cách nịnh hót giả dối, tất nhiên hữu thỉ vô chung.
Bởi vì: Tương cảm đã bất chính, có bao giờ lợi đâu, nên Quái từ lại răn cho rằng: lợi trinh. Lợi trinh, nghĩa là: Hễ cảm thời thông, nhưng tất phải cảm cho chính, nếu biết theo đạo ấy, lấy tình cảm nhau mà tương hợp, lấy đạo chính mà tương giao, theo lối ấy mà cưới con gái làm vợ thời chắc được tốt lành.
PHỤ CHÚ: Hàm hanh, lị trinh là nói chung đạo lí tương cảm trong thiên hạ. Thú nữ, cát là nói riêng bằng một việc vợ chồng, nhưng ý nghĩa vẫn dếnh với chữ trinh. Trái lại, thú nữ mà bất trinh thời làm gì được cát.
Nguyên chữ Hàm, nghĩa là cảm, sao không đặt tên quẻ bằng cảm mà đặt tên bằng Hàm?
Bởi vì, Cảm gốc ở công lí mà không phải cảm bằng tư tâm. Nếu lấy tư tâm mà cảm thời ứng lại cũng chỉ là tư tâm, không lấy gì nên được đạo cảm. Chữ cảm vì có chữ tâm ở dưới nên không lấy chữ cảm đặt tên quẻ mà đặt bằng Hàm, vì chữ Hàm là vô tâm, duy vô tâm mới là chân cảm.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Hàm, cảm dã. Nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, nam hạ nữ, thị dĩ hanh, lị, trinh, thú nữ cát dã. Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình. Quan kì sở cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
彖曰: 咸感也. 柔尚而剛下, 二氣感應以相與, 止而說, 男下女, 是以亨利貞, 取女吉也. 天地 感而萬物化生,
聖人感人心而天下和平, 觀其所感而天地萬物之情可見矣.
Soán viết: Hàm, cảm dã.
Hàm nghĩa là cảm, nhưng trước khi cảm thời chỉ là Hàm, nghĩa là hai bên thảy chỉ tự nhiên mà tương hợp. Vì tự nhiên tương hợp nên cảm duyệt càng sâu. Hàm là tạo nhân mà cảm là kết quả. Xem chữ Hàm không có chữ tâm mà chữ cảm thời thêm vào chữ tâm ở dưới thì sẽ biết.
Nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, nam hạ nữ, thị dĩ hanh, lị, trinh, thú nữ cát dã.
Theo về thể quẻ thời hào nhu biến được cương mà lên làm Đoài, hào cương biến được nhu mà xuống làm Cấn, Cấn sơn, Đoài trạch, hai khí âm dương cảm ứng mà hòa hợp với nhau.
Theo về đức quẻ thời Cấn có tính chỉ, Đoài có tính duyệt, yên lặng mà hòa duyệt. Theo về tượng quẻ thời Cấn tượng là thiếu nam, Đoài tượng là thiếu nữ, nam trước cầu nữ mà chịu ti hạ với nữ, góp mấy câu trên đây, rặt hợp với đạo tương cảm.
Vậy nên nói rằng: Hanh, lị trinh, thú nữ, cát.
PHỤ CHÚ: Chỉ nhi duyệt là thích chữ trinh ở Quái từ. Hễ thường tình đã duyệt thời hay võng động, động mà duyệt thời cách duyệt hay sai, duy chỉ mà duyệt thời cách duyệt mới đắc chính.
Sách Luận Ngữ có câu: Nhất nhật khắc kỉ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên 一日克己復禮, 天下歸 仁焉, nghĩa là: Mình lo trừng trị tư tâm mình, hoàn phục được thiên lí nên thiên hạ tự nhiên quy hướng vào đức nhân của mình. Đó là chỉ nhi duyệt (Chữ chỉ có ý như chữ tính).
Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình. Quan kì sở cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
Đây nói cho rộng hết lí cảm ứng, cảm rất to không gì bằng trời đất, trời lấy khí dương mà hạ cảm với đất, đất lấy khí âm mà thượng cảm với trời, âm dương giao cảm với nhau mà vạn vật thảy được hóa sinh.
Chữ hóa thuộc về phẩn khí, chủ sinh thuộc về phần hình. Tỉ như con tước hóa ra được con cáp, cỏ hủ hóa ra được con đóm, v.v. đó là hóa. Có giống sinh bằng thai, có giống sinh bằng trứng, v.v. đó là sinh.
Đạo cảm của thánh nhân, cũng in như đạo cảm của trời đất, thánh nhân khuếch sung đức chí thành, phát triển đạo đại công, cảm động được lòng ức triệu người mà thiên hạ được đến hòa bình.
Xem ở nơi những cách sở cảm mà chân tình của thiên địa vạn vật có thể thấy được.
Chữ tình gốc ở chữ tính mà ra, nhưng tính thời tịch nhiên bất động thuộc về phần thể, tình thời cảm nhi toại thông thuộc về phần dụng, nên tính thời khó thấy mà tình thời có thể thấy được. Tình thiên địa cốt ở nơi sinh vạn vật, mà tình vạn vật cốt ở nơi ứng với thiên địa. Tỉ như: Gặp Xuân, Hạ thời vật gì cùng sinh trưởng, gặp Thu, Đông thời vật gì cũng thu tàng. Đó chính là tình cảm ứng của thiên địa, vạn vật. Thấy được tình thiên địa thời thấy được tình thánh nhân nên không cần nói đến thánh nhân chi tình. Thánh nhân với thiên hạ cũng như thiên địa với vạn vật. Duy người có triết học thời mới nhận ra được.
Tượng viết: Sơn thượng hữu trạch, Hàm. Quân tử, dĩ hư thụ nhân.
象曰: 山上有澤, 咸. 君子以虛受人.
Tượng Truyện không theo ý nghĩa Quái từ, không lấy bằng nghĩa nam nữ tương cảm mà chỉ lấy bằng tượng quẻ. Cấn là sơn mà ở dưới, Đoài là trạch mà ở trên, tượng là ở trên núi có cái chằm nước, vì sơn có vững thủng xuống mà đựng được trạch, trạch vì trong lòng rỗng không mới đựng được nước.
Quân tử xem tượng biết được rằng: Có rỗng không trong lòng mình, chẳng cho giống gì tiên nhập vi chủ mới dung thụ được người, nên lấy một cách hư trung để thụ nhận.
Hư trung nghĩa là không rỗng trong lòng, tức là chữ vô ngã mà cũng là vô tư. Hễ trong lòng mình mà trước sẵn có tư ý, hoặc lợi dục riêng, thời té ra trung mãn. Trung mãn nghĩa là trong lòng chét đặc, còn dung thụ được gì nữa, nên quân tử dĩ hư thụ nhân.
PHỤ CHÚ: Tâm thuật người ta, theo về bản thể thời tất phải trung thực, trung thực, nghĩa là trong chất chứa lòng chí thành, nếu bất thành thời vô vật nên cần phải trung thực. Theo về cách ứng dụng thời lại phải trung hư. Trung hư nghĩa là không rỗng trong lòng, chớ có tư ý vật dục vào chiếm trước bộ phận trung tâm mình. Nếu tự ý vật dục đã lọt trước vào trung tâm mình thời thành ra trung mãn, tâm người ta đã trung mãn rồi, tất không dung nạp được đạo lí của thiên hạ cổ kim nên lại cần phải trung hư. Chúng ta nghiên cứu tâm lí học, nên phải đủ cả hai phương diện ấy. Vậy nên học Dịch lại phải xem quẻ Đại Súc nói chữ "đốc thực", quẻ Hàm nói chữ "hư", hai nghĩa đó vẫn bổ túc cho nhau.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Hàm kì mẫu. 初六: 咸其拇.
Hào này ở dưới hết Hạ Quái, tượng như ngón chân cái ở dưới hết thân người mà lại thượng ứng với hào Tứ, nghĩa là dưới thấp mà cảm ứng với trên xa, sức cảm còn hèn mọn, chưa lấy gì cảm động được lòng người. Tượng như chỉ động một ngón chân cái thời chưa động được mấy. Nên nói rằng: Hàm kì mẫu (Mẫu: ngón chân cái).
PHỤ CHÚ: Hào từ với Quái từ thủ nghĩa khác nhau, Hào từ thủ tượng bằng thân người. Kể tự dưới kể lên thời địa vị Sơ chính đứng với mẫu. Lên nữa thời Nhị là bắp chân, Tam là trái vế, đến Tứ thời đúng ở lòng bụng, Ngũ là trên lưng, Thượng là miệng mép.
Hễ lên từ nào thời sức động mạnh từ ấy, cảm mà chuyên bằng động thời cảm không hay nên sáu hào cốt ở tĩnh, tĩnh mà cảm được người thời cảm mới hữu lực.
Sơ Lục hàm kì mẫu là có hơi động mà chưa thiệt động nên không nói cát hung.
Tượng viết: Hàm kì mẫu, chí tại ngoại dã. 象曰: 咸其拇, 志在外也.
Hào từ nói rằng hàm kì mẫu là Sơ Lục chí tại ứng với Cửu Tứ vậy. Ngoại là chỉ vào hào Tứ ở Ngoại Quái. Sơ tuy có chí tại ngoại mà chưa thiệt động hung nên nói rằng: Hàm kì mẫu.
2. Lục Nhị: Hàm
kì phì, hung, cư cát. 六二: 咸其腓, 凶, 居吉.
Phì là trái bắp chân, hễ sắp sửa đi thời nó động trước, tượng như một người có tính táo động.
Lục Nhị sở xử chính đúng với chốn phì, Nhị lại thượng ứng với Ngũ nên thánh nhân có lời răn rằng: Nhị tuy muốn cảm ứng với Ngũ nhưng Nhị phải biết: Nhị là người dưới, Ngũ là người trên; người dưới muốn cảm được người trên tất mình phải trước tự trọng lấy mình, im lặng mà chờ người trên cầu mình, mới có lẽ hay. Nếu anh gấp bốn tẩu, nóng lên cầu Ngũ ứng với mình, té ra cách cảm bằng bắp chân, chân chưa đi mà bắp đã động, e đến nỗi xấu.
Nhưng vì Nhị là người trung chính nên thánh nhân lại khuyên cho rằng: Thấy người sang bắt quàng làm họ, Nhị không đến nỗi thế, Nhị cứ tự trọng lấy thân, ngồi lặng an ở chờ Ngũ tới cầu minh thời cát. Nói hàm kì phì, hung là răn cho Nhị không nên động. Lại nói cư cát là khuyên cho Nhị nên giữ cách tĩnh.
Tượng viết: Tuy hung, cư cát, thuận bất hạì dã.
象曰, 雖凶, 居吉, 順不害也.
Lục Nhị tuy hung, nhưng biết cư tĩnh thời được cát là vì thuận theo đạo lí thời không tai hại gì vậy.
3. Cửu Tam: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lẫn.
九三: 咸其股, 執其隨, 往吝.
Cổ là trái vế ở trên đầu gối là một giống không đủ sức tự động, chân có động thời mới động theo. Cửu Tam xử ở địa vị trên Nội Quái, ví vào thân người thời tượng như trái vế, vì có tính cương táo hí động, thấy người động mà động theo. Ở trên Tam có hào Tứ, Tứ động thời Tam động theo, in như cái vế theo chân mà động đến nỗi mất tự do của mình, nên Hào từ răn rằng: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lẫn. Nghĩa là: Cảm người mà chỉ dùng bằng một cách như cái vế, chỉ cầm giữ lấy cách theo người, cứ thế mà đi hoài, tất nhiên mắc lấy xấu hồ.
Tượng viết: Hàm kì cổ, diệc bất xử dã, chí tại tùy nhân, sở chấp hạ dã.
象曰: 咸其股, 亦不處也, 志在隨人, 所執下也.
Hàm kì cổ là hào Tứ bất xử thời hào Tam cũng bất xử vậy (Bất xử: không an ở). Nhưng hào Tam há phải có sức tự động đâu, chỉ là chí ở theo người, thấy người động mà động theo, cách trì thủ của Tam thiệt là ti hạ lắm vậy.
4. Cửu Tứ: Trinh cát, hối vong, đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.
九四: 貞吉, 悔亡, 憧憧往來, 朋從爾思,
Toàn quẻ Hàm sáu hào thảy thủ tượng bằng thân người.
Hào Sơ là mẫu; hào Nhị là phì; hào Tam là cổ. Đến hào Tứ này sơ xử dưới thượng thể, vừa đoạn giữa nhân thân, chính đúng vào bộ phận tâm mà tác dụng của tâm là cốt biết hay nghĩ, vả lại, hào Tứ tuy có tính dương cương mà lại ở vào thể Đoài thời có tính hòa duyệt, chính là một hạng người nặng vì cảm tình.
Vậy nên, Hào từ không thủ tượng bằng hình thể mà chuyên nói về tinh thần. Trinh, cát, hối vong nghĩa là đạo cảm người có trinh nhất mới được cát mà mất hết những việc đáng ăn năn.
Chủ trinh ở đây, nghĩa là chí công vô tư, hư trung vô ngã, cảm người bằng một cách tự nhiên. Cứ lấy lẽ đại công chí chính mà ứng phó với đời, không cần cầu người ứng mà người tự nhiên ứng vào mình, như thế mới là trinh cát.
Trái lại, một phương diện mình lo cảm người mà một phương diện thời lại mong người ứng lại với mình. Tỉ như câu trong Kinh Thi nói: Đầu ngã dĩ đào báo chi dĩ lí, thành ra mình đeo đào cho người mà mong người đeo lí giả lại cho mình. Thế là cảm đã hữu tâm mà ứng cũng xuất ở hữu tâm, chỉ là đồng đồng vãng lai mà thôi. Đồng đồng có ý như săn săn sóc sóc, hoặc mình vãng mà mong người lai, hoặc thấy người vãng mà mình mới lai, cảm với nhau bằng một cách dụng tâm cố ý như thế là gọi bằng đồng đồng vãng lai.
Hễ đã đồng đồng vãng lai thời dầu có kẻ lai, cũng chẳng qua những người mình có vãng.
Nhưng bằng theo mấy loại đó, phạm vi không gì rộng, đoàn thể không gì to, xung xăng qua lại, cũng chẳng qua những người mà bụng mày nghĩ tới nơi mà thôi, như thế là bằng tòng nhĩ ti. Hệ tử giải thích Hào từ này rất hay, xin thích dịch ra cho tường.
Vì có hai chữ vãng lai với một chữ ti mà diễn thành một thiên đạo lí, bao hàm vạn tượng, tóm hết lí vũ trụ vào trong mấy câu: đó mới biết cách thánh nhân học Dịch. Xin độc giả chịu khó mà nhận xét cho đến nơi.
Hệ tử nói rằng: Thiên hạ hà tư hà lự, thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự. Thiên hạ hà tư hà lự, nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên; hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên. Vãng giả khuất dã, lai giả thân dã, khuất thân tương cảm nhi lị sinh yên; xích quặc chi khuất, dĩ cầu thân dã; long xà chi trập, dĩ tồn thân dã; tinh nghĩa nhập thần, dĩ trí dụng dã, lị dụng an thân, dĩ sùng đức dã; quá thử dĩ vãng, vị chi hoặc tri dã, cùng thần trí hóa, đức chi thịnh dã.
子曰: 天下何思慮, 天下同歸而殊途, 一致而百慮. 天下何思慮, 日往則月來, 月往則日來, 日 月相推而明生焉
寒往則暑來, 暑往則寒來, 暑寒相推而歲成焉. 往者屈也, 來者伸也, 屈伸相 感而利生焉. 尺蠼之屈以求伸也, 龍蛇之蟄 以存身也, 精義入神以致用也, 利用安身以崇德
也, 過此以往, 未之或知也, 窮神知化, 德之盛也.
Đạo lí trong thiên hạ, chỉ có một lẽ cảm với ứng, cảm bằng tự nhiên mà ứng cũng tự nhiên, có cần gì phải dụng tư tâm tư lự đâu (Tư: ngẫm nghĩ bằng bụng riêng; lự: tính toan bằng mẹo vặt). Kể dọc thời cổ vãng đến kim lai, kể ngang thời khắp năm châu bốn bể, thiên hạ đường đi tuy khác nhau mà đến lúc quy kết thời in nhau, sắp đặt tuy có trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ. Như thế thời đạo lí trong thiên hạ cần gì phải ngần nghĩ bằng bụng riêng, cần gì phải tính toan bằng mẹo vặt. Thử xem lí cảm ứng lớn rất cùng cực đến vũ trụ, rất nhỏ đến một giống vật gì, cũng chỉ là cảm ứng đắp đổi nhau mà thôi. Cảm là động cơ, đã có cảm tất có ứng, mà cái ứng đó quay lại làm cái cảm, tạo nhân trước thành ra kết quả sau, mà kết quả sau, lại làm tạo nhân cho sau nữa.
Tỉ như mặt trời chạy qua cảm cho mặt trăng thời mặt trăng ứng lại với mặt trời; mặt trăng chạy qua cảm với mặt trời thời mặt trời ứng lại cho mặt trăng.
Nhật nguyệt đôi bên nhất vãng thời nhất lai, nhất lai thời nhất vãng, xô đẩy nhau hoài mà tia sáng tự nhiên nảy nở ra, mùa rét qua cảm được nắng thời nắng ứng lại; mùa nắng qua cảm được rét thời rét cũng ứng lại. Nhất hàn nhất thử, vãng vãng lai lai, xô đẩy nhau hoài hoài mà công việc trong một năm tự nhiên thành tựu.
Trên đây là cảm ứng hiệu quả ở giữa chốn hữu hình mà chỉ thuộc về phần không gian, lại xem đến phần thì gian thời càng không phút nào nghỉ.
Tỉ như, trong một thời giờ đó nhưng tất cũng có mấy phút trước là vãng, lai có mấy phút sau là lai; vãng là cái đã qua đi là co rút lại, lai là sắp sửa tới là kéo dài ra. Khuất thân cảm ứng với nhau, vì có khuất mới có thân, vì có thân mới có khuất; khuất thân cảm nhau hoài hoài mà lị ích mới nảy nở ra. Đó lại là lí cảm ứng thuộc về phần tinh thần vậy.
Lí khuất thân đó chứng nghiệm vào giống vi vật càng minh bạch lắm.
Khuất, nghĩa là co rút lại; thân, nghĩa là thẳng dài ra, tức như giống sâu xích quặc (Xích quặc: chúng ta thường gọi con sâu đo). Khi nó co rút lại là cốt cầu cho được ngay thẳng mình nó ra. Kìa giống rồng, rắn, khi nó nấp dưới đất, ngầm dưới vực, cốt cầu giữ thân nó để sẽ chờ ngày bay lượn vậy (Khuất ấy là cảm, cầu thân ấy là ứng, trật ấy là cảm, tồn thân ấy là ứng). Xem lẽ khuất thân như hai giống trên kia thời khí cơ cảm ứng không chốn nào không quân tử, vì thế mới suy ra làm đạo dưỡng tâm tu thân thời như sau này nói.
Toan phát triển ra sự nghiệp, trước phải lo bồi dưỡng lấy trí thức, nghiên tìm nghĩa lí cho thấu được chốn tinh vi, thâm nhập đến thần diệu, tức sở dĩ suy ra làm công dụng cho tới nơi vậy. Đã lợi tiện ở nơi công dụng, lại càng an định tâm thân mình để khiến cho đức nghiệp càng cao lớn vậy, vì có tinh nghĩa nhập thần mà được trí dụng ứng cho, lại vì có lợi dụng yên thân mà được sùng đức ứng cho. Khi đã trí dụng sùng đức rồi thời từ đó mà tiến lên mãi mãi, rất mực thần diệu, vô thể vô phương, không thể lấy mắt người thường mà trắc lường được. Sách Mạnh Tử có câu: Thánh nhi bất khả tri chi, chi vị thần dã 聖而不可知 之, 之謂神也, chính là tới địa vị ấy.
Sở dĩ "vị chi hoặc tri", bởi vì khi sau đã trí dụng sùng đức cùng cực thần diệu rồi, biết hết lẽ biến hóa rồi là thánh đức quá chừng thịnh đó vậy.
PHỤ CHÚ: Hệ tử thích Hào từ quẻ Hàm mà suy rộng đến nhật nguyệt hàn thử là đạo lí rất lớn.
Xét lại đến xích quặc, long xà là sự vật rất nhỏ. Kìa con sâu đo, nó co lại, lại ngay ra, nó ngay ra, lại co lại, chúng ta chẳng mấy người để ý đến nó, thánh nhân nhân nó mà suy biết đạo lí cảm ứng khuất thân, mới biết rằng lẽ trong thiên hạ, không giống gì nhỏ mà không đạo lí.
Phật Tổ có câu: "Xương khô cây hủ, tất thảy có tính Phật". Trang Tử cùng có câu: "Giống khô hủ cũng hóa ra được thần kì", thảy là lẽ ấy. Làm một người tu thân thiệp thế chỉ cần có hai chữ: "tri", "hành". Tinh nghĩa nhập thần là thuộc về phần tri, vì tri được tinh mới hành được đáo, tức là trí dụng. Lợi dụng yên thân là thuộc về phần hành. Vì hành được tới nơi thời tri càng tăng tiến, tức là sùng đức.
Thầy Vương Dương Minh chủ trương thuyết tri hành hợp nhất, nghĩa là tri với hành hợp nhau làm một việc. Hễ tri đã đến nơi tất nhiên hành được đến nơi, vả đã tri tất phải hành. Nếu bảo rằng tri được mà không hành được thời cái tri đó không phải là chân tri, nên thánh nhân dạy cho ta hai chữ tinh nghĩa. Trong thiên hạ, hễ có việc gì, tất có nghĩa của việc ấy, ta trước phải tinh thấu cho đến nghĩa của việc ấy, khi tinh thấu được nghĩa của việc ấy, tất nhiên làm được hoàn toàn công dụng của việc ấy. Đó lại là lấy tri mà vun đắp cái nền tảng cho hành. Khi đã tri dụng rồi là hành đã có thành hiệu rồi thời nhờ đó mà thêm phần cao đức mình. Đó lại là nhân hành mà mở rộng thêm phạm vi cho tri. Ví như biết được đường chắc chắn, tất nhiên đi đến nơi mà lại trải qua một lần đi càng thêm biết được đường.
Nghĩa tri hành hợp nhất của thầy Vương dương Minh rất đúng với nghĩa câu tinh nghĩa nhập thần của Khổng Tử.
Nước Nhật Bản trước hồi Duy Tân rất sùng trọng Vương học, bao nhiêu chí sĩ gây nên sự nghiệp Duy Tân thảy con nhà Vương học.
Tượng viết: Trinh cát, hối vong, vị cảm hại dã, đồng đồng vãng lai, vị quang đại dã.
象曰: 貞吉, 悔亡, 未感害也, 憧憧往來, 未光大也.
Trinh thời được cát mà lại hối vong. Vì sơ cảm được đại công mà không mắc hại bằng tư cảm vậy. Đồng đồng vãng lai thời chỉ bằng tòng nhị ti mà thôi, không lấy gì quang đại vậy (Chữ vị ở đây như nghĩa chữ phi).
5. Cửu Ngũ: hàm kì muội, vô hối.
九五: 咸其腾, 无悔.
Muội là đám thịt ở trên lưng, ở trên bụng mà lại trái với bụng, lấy tượng toàn quẻ mà thủ nghĩa bằng thản người thời Cửu Ngũ chính xử vào vị muội; muội là không thấy được tâm nên thánh nhân thủ tượng bằng muội mà răn cho Ngũ rằng: Ngũ muốn cảm được người thiên hạ, tất phải dùng đạo chí thành tự nhiên, không thấy được tư tâm, như thế thời hợp được đạo chính mà không đến nỗi hối.
Tượng viết: Hàm kì muội, chí mạt dã.
象曰: 咸其腾, 志末也.
Hào từ sở dĩ phải răn hàm kì muội bởi vì Ngũ dây dướng với Nhị lại duyệt với Thượng. Thánh nhân ghét nó tâm chí đê mạt mà răn cho như vậy (Mạt: đê hèn).
6. Thượng Lục: Hàm kì phụ, giáp, thiệt.
上六: 咸其辅, 頰, 舌.
Thượng Lục bản chất âm nhu mà ở vào thể Đoài làm chủ cho thể duyệt lại ở cuối cùng quẻ Hàm là cảm chi cực, muốn cảm người quá mà vẫn không chí thành, chỉ uốn nắn ở nơi miệng lưỡi, toan dùng cách ngôn ngữ động nhân, in thói thường tiểu nhân, nữ tử nên Hào từ nói rằng: Hàm kì phụ, giáp, thiệt (Phụ: mép, giáp: má, thiệt: lưỡi; tất thảy là giống để mà nói, chỉ dùng cách nịnh hót mà cảm động người nên tượng như thế).
Tượng viết: Hàm kì phụ, giáp, thiệt, đằng khẩu thuyết dã.
象曰: 咸其辅頰舌, 縢口說也.
Lẽ trong thiên hạ, duy chí thành mới cảm được lòng người, kia chỉ múa miệng uốn môi, cảm gì được ai (Đằng có ý như múa men, hào này, ở trên hết quẻ nên thủ tượng bằng miệng lưỡi).
32. QUẺ LÔI PHONG HẰNG
Chấn trên; Tốn dưới
Quẻ này là quẻ Lôi Phong Hằng. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Lôi Phong Hằng.
TỰ QUÁI
Tự quái: Phu phụ chi đạo, bất khả dĩ bất cửu dã, cố thụ chi dĩ Hằng.
序卦: 夫婦之道不可以不久也, 故受之以恆.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ, sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là vì cớ sao?
Trước kia quẻ Hàm là nam nữ cảm nhau mới thành được phu phụ. Khi đã thành phu phụ rồi tất phải tính cách lâu dài, lâu dài mà không đổi, ấy là phu phụ chi đạo. Vậy nên sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng. (Hằng, nghĩa là lâu dài).
Quẻ Hàm thời thiếu nam hạ ở thiếu nữ là hai người trai gái còn đương trẻ tuổi mà cảm duyệt với nhau. Đã cảm duyệt nhau, tất thành được phu phụ. Khi đã thành phu phụ rồi thời hai người trai gái kia đã tới kì khôn lớn mà thành trưởng nam, trưởng nữ; trưởng nam là chồng, trưởng nữ là vợ. Chồng chù trương việc ngoài, vợ chủ trương việc trong, nam cương ở trên, nữ nhu ở dưới. Đó là lẽ thường của phu phụ. Quẻ này Chấn trưởng nam ở quẻ ngoài quẻ trên, Tốn trưởng nữ ở quẻ trong quẻ dưới, rất hợp với đạo phu phụ lâu dài, nên đặt tên bằng quẻ Hằng.
SOÁN TỪ
Hằng, hanh, vô cựu, lị trinh, lị hữu du vãng.
恆亨, 無咎, 利貞, 利有攸往.
Chữ Hằng nguyên có hai nghĩa: Một là không thay đổi, tức là bất dịch; một là không thôi nghỉ, tức là bất dạ.
Hễ người ta làm việc gì, tất có đạo lí việc ấy. Xét đã đúng với đạo lí rồi, tất phải giữ cho được lâu dài và lại hữu thường mà không thay đổi, như thế thời được hanh thông mà không tội lỗi.
Tuy nhiên, đạo lí có mặt chính có mặt phản. Theo về mặt đạo lí chính thời hằng cửu là hay, theo về mặt đạo lí phản thời hằng cửu là dở, nên Hào từ lại răn cho rằng: Lị trinh, nghĩa là nên hằng cửu với việc chính, chớ hằng cửu với việc tà. Nếu hay hằng cửu với việc chính là hằng cửu bằng cách quân tử, thời có tiến hành việc gì chắc có thành công.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Hằng, cửu dã. Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, tốn nhi động, cương, nhu giai ứng, Hằng. Hằng hanh, lị trinh, vô cựu, cửu ư kì đạo dã, Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ dã, Lị hữu du vãng, chung tắc hữu thỉ dã. Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, tứ thì biến hóa nhi năng cửu thành. Thánh nhân cửu ư kì đạo nhi thiên hạ hóa thành. Quan kì sở hằng nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
彖曰: 恒, 久也. 剛上而柔下, 雷風相與, 巽而動, 剛柔皆應, 恆. 恆亨, 利貞, 無咎, 久於其道也.
天地之道, 恆久而不已也. 利有攸往, 終則有始也. 日月得天而能久照, 四時變化而能久成, 聖 人久於其道而天下化成, 觀其所恆 而天地萬物之情可見矣.
Soán viết: Hằng cửu dã.
Hằng, nghĩa là trường cửu. Theo mặt chữ của chữ Hằng, bên tả là chữ tâm, bên hữu chữ nhất và chữ nhật, ý nghĩa là lập tâm thường mãi mãi như một ngày.
Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, tốn nhi động, cương, nhu giai ứng, Hằng.
Nguyên hào Sơ cương quẻ Càn đổi cho Khôn mà lên ở hào Tứ. Nguyên hào Sơ nhu của Khôn thay cho Càn mà xuống ở hào Sơ. Đó là cương thượng nhi nhu hạ. Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong. Chấn, Tốn hợp nhau thành một quẻ, tượng là sấm gió giúp thế lực cho nhau. Đó lại là lôi phong tương dữ. Tốn có tính thuận, Chấn có tính động, trước Tốn mà sau Chấn. Thế là thuận với đạo lí mà động. Vì thuận mà động nên thường trường cửu được.
Lại theo như thể quẻ, ba hào cương, ba hào nhu, thảy ứng với nhau. Đó là cương, nhu tương ứng. Góp cả bốn câu như trên đây, tất thảy có đạo lí mà hàng cửu được nên đặt tên quẻ bằng Hằng.
Hằng, hanh, lị trinh, vô cựu, cửu ư kì đạo dã.
Quái từ nói rằng: Hằng hanh, vô cựu, lị trinh là lâu dài ở đạo chính vậy. (Chữ kì đây là đại danh từ, thay chữ trinh; kì đạo là đạo trinh chính).
Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ dã.
Tiếp lấy chữ đạo trên mà nói rộng ra, chẳng những nhân sự mà thôi đâu, dầu đến rất to lớn như đạo trời đất cũng chỉ vì có đạo chính mới hay hằng cửu mà không thôi. Tỉ như mùa hạ thường nóng, mùa đông thường lạnh, núi thường cao, sông thường sâu, đó là chính lí của trời đất cứ thường thường hoài. Dầu có khi gió dữ mưa cuồng, sóng sôi núi lở, chỉ là lẽ biến hóa trời đất, đã biến hóa tức là bất trinh, đã bất trinh tất không thường được nên nói rằng: Trời đất cũng phải trinh thời mới hằng được.
Lị hữu du vãng, chung tắc hữu thỉ dã.
Đây lại nói thâm nghĩa chữ Hằng cho đủ cả lẽ thường, lẽ biến. Hằng vẫn là lâu dài, nhưng sở dĩ lâu dài tất phải có thể có dụng. Thể vẫn thường mà dụng thời có biến. Ở trong một thì gian lâu dài, cái lẽ tuần hoàn thiên chuyển, không một phút nào dừng, biến động đã đến lúc cuối cùng thời lại xoay lại như lúc bắt đầu. Mỗi một lần chung thời lại có một lần thỉ. Theo như Dịch lí cùng thời biến, biến thời thông, thông thời lâu dài, như thế mới hằng được.
Hằng chẳng phải là chết trơ một bề đâu. Tỉ như: Việc nhà làm ruộng, hạ mộng là thỉ, trung gian cày bừa cấy gặt, tới khi gặt tức là chung. Gặt xong rồi thời lại có lúa mà hạ mộng. Vì có được lúa mới có mộng mà hạ lại. Đó là chung tắc hữu thỉ.
Vì chung thỉ tuần hoàn mãi mãi, mới nên được Hằng. Một việc như thế, muốn việc cũng như thế. Thể vẫn thường mà dụng thời biến luôn luôn.
Trên kia đã nói cửu ở kì đạo, đây lại nói: Chung tắc hữu thỉ, động tĩnh tương sinh, nhân quả tương tục, có như thế, mới là Dịch lí.
Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, tứ thì biến hóa nhi năng cửu thành, thánh nhân cửu ư kì đạo nhi thiên hạ hóa thành. Quan kì sở hằng nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
Đây lại nói cho đến cùng cực đạo Hằng, mặt trời mặt trăng cứ thuận theo đường lối thiên nhiên mà hay soi dọi không bao giờ cùng. Bốn mùa hay biến hóa luôn luôn, đông thay sang xuân, xuân thay sang hạ, hạ thay sang thu, thu thay sang đông; rét nắng, ấm lạnh, khí hậu trao đổi cho nhau, mới hay nên được công việc hàng năm mà không bao giờ cùng. Đó là theo về phần thiên đạo.
Thánh nhân cũng in như nhật nguyệt tứ thì mà làm đạo hằng cửu, tác dụng vẫn tùy thì biến đổi mà bản thể vẫn không bao giờ trái lầm, thiên hạ nhờ đó mà làm nên văn hóa tốt.
Xem ở nhật nguyệt tứ thì sở dĩ thường, đạo thánh nhân sở dĩ lâu mà chân tình của thiên địa vạn vật có thể thấy được.
PHỤ CHÚ: Chữ Dịch với chữ Hằng có nghĩa tương đối. Nếu tuyệt đối Dịch thì không làm sao ra Hằng, nếu tuyệt đối Hằng, cũng không làm sao ra Dịch được. Vũ trụ cổ kim không một giống gì là tuyệt đối. Tỉ như ban ngày sáng, tất nhiên có ban đêm tối; nếu tuyệt đối sáng hay tuyệt đối tốt, tất không thành được thiên tượng ở không gian. Mùa hạ nóng, tất nhiên có mùa đông lạnh; nếu tuyệt đối nóng hay tuyệt đối lạnh, tất không thành được tuế công ở thì gian.
Nhỏ từ thân một người, khi ngủ có khi thức, khi sống có khi chết; lớn hơn đến xã hội, thế giới, loạn lâu ngày phải trị, thịnh lâu ngày phải suy, cũng chỉ là tương đối thay đổi nhau, không thấy một giống gì là tuyệt đối. Vậy nên trong đạo Dịch, vì Hằng mà phải có Dịch, cũng nhân Dịch mới làm nên Hằng. Thánh nhân sợ người ta câu nệ ở chữ Hằng mà quên mất diệu lí ở chữ Dịch.
Vậy nên, Soán Truyện phải lấy tứ thì biến hóa mà thuyết minh đạo Hằng. Học giả thể nhận cho ra đạo lí ấy thời biết Dịch với Hằng là tương thành mà không phải tương phản.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Lôi phong Hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương.
象曰: 雷風恆, 君子以立不易方.
Theo ở tượng quẻ, Chấn là Lôi, Tốn là Phong, sấm gió đồng thì phát hiện, thành ra quẻ Hằng. Quân tử xem tượng ấy thời biết rằng: Công việc trời đất tuy có lúc biến động mà đạo trời đất thời vạn cổ y nhiên. Quân tử bắt chước thế thời cuộc đời bể đâu, tình người nóng lạnh, có thay đổi mặc dầu mà đạo tự lập của quân tử thời không bao giờ thay đổi.
Lập bất dịch phương, ấy tức là Hằng của quân tử.
PHỤ CHÚ: Mạnh Tử có nói rằng: Khổng Tử thánh chi thì giả dã 孔子, 聖之時者, nghĩa là: Thì nên ra mà ra, thì nên ẩn mà ẩn, thì nên lâu mà lâu, thì nên chóng mà chóng. Theo như nghĩa chữ thì đó, so với câu "lập bất dịch phương" chẳng mâu thuẫn hay sao? Không phải đâu, "thánh chi thì" với "lập bất dịch phương" chỉ là một gốc mà không phải hai rễ. Thánh chi thì là về phần tác dụng, lập bất dịch phương là về phần nguyên tắc.
Tỉ như: Tấm gương sáng treo ở một chốn, cái bản thể quang minh không bao giờ thay đổi, chẳng phải là lập bất dịch phương hay sao?
Đến gặp lấy sự vật gì soi dọi vào, mới hiện ra tác dụng của mặt gương, tùy tròn mà hiện ra tròn, tùy vuông mà hiện ra vuông, tùy đẹp mà hiện ra đẹp, tùy xấu mà hiện ra xấu, chẳng phải là thì nghĩa hay sao?
Chúng ta đọc Dịch cần nhất là phải biết biến hóa.Ông Tô Đông Pha có câu rằng: Cứ xem ở giữa chốn biến, thời tuy trời đất e cũng không được một giây phút, nhưng xem ở chốn bất biến, thời người với ta thảy không bao giờ hết.
Tự kì biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn; tự kì bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận hĩ.
自其變者而觀之則天地曾不能以一瞬,自其不變者而觀之則物與我無盡矣.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Tuấn hằng, trinh hung, vô du lị
初六: 浚恆, 貞凶, 无攸利.
Sơ Lục ở dưới hết quẻ Hằng mà làm chính ứng với hào Tứ, đó là lẽ thường, nhưng người ta ở đời tất phải biết thường mà lại biết biến. Địa vị Sơ quá thấp mà địa vị Tứ quá cao. Huống gì Tứ là dương cương, chỉ trông lên mà không ngó xuống, trung gian lại bị hào Nhị, hào Tam gián cách. Sơ đương lúc bởi mới, lại phận thấp hèn mà toan yêu cầu với Tứ bằng một cách quá thân mật. Thế là nệ cách thường quá chừng sâu nên nói rằng: Tuấn hằng. Tuấn nghĩa là sâu; tuấn hằng nghĩa là quá sâu ư nệ thường, nệ thường mà không biết biến, té ra thành một người ngu. Nếu cứ kiên cố giữ một cách ấy, tất mắc lấy hung nên nói rằng: Trinh hung. Chữ trinh ở đây, chỉ có nghĩa trinh là bền chặt, không phải nghĩa trinh là chính. Bền chặt bằng một cách tuấn hằng thời chẳng những một lúc xấu mà thôi mà lại không làm gì được thuận lợi cả. Người xưa có câu rằng: Giao thiển nhi ngôn thâm, nhục chi đạo dã 交浅淺而言深辱之道也, nghĩa là giao tình còn đương cạn mà cầu thỉnh quá chừng sâu, chỉ là cái đường lốì đi tới nhục vậy. Câu này cũng tương tự như hào Sơ này.
Tượng viết: Tuấn hằng nhi hung, thỉ cầu thâm dã.
象曰: 浚恆之凶, 始求深也.
Có hung họa vì tuấn hằng mà nảy ra, bởi vì lúc đầu mới giao mà cầu vọng đã quá thâm thời thế nào cũng thất bại vậy.
PHỤ CHÚ: Đời Hán như Giả Nghị mới bước chân lên triều mà toan đuổi các công thần như Giáng Quán; đời Đường như ông Lưu Bồn mới đỗ Tiến sĩ mà vội xin với vua Đường toan đánh đổ Phiên trấn, chính là đúng với câu: Tuấn hằng chi hung, thỉ cầu thâm dã.
2. Cửu Nhị: Hối
vong. 九二: 悔亡.
Hào Cửu ở vị Nhị là dương cương ở âm vị, trái mất lẽ thường. Theo như nghĩa Hằng vẫn nên hữu hối, nhưng vì Nhị có đức trung ứng với Ngũ, mà Ngũ cũng có đức trung. Lấy đức trung mà ứng với đức trung, thế là hay hằng cửu ở đạo trung thời tất không việc gì phải ăn năn, nên Hào từ chỉ nói rằng: Hối vong.
Tượng viết: Cửu Nhị, hối vong, năng cửu trung dã.
象曰: 九二悔亡, 能久中也.
Cửu Nhị sở dĩ được hối vong, bởi vì hay hằng cửu ở đạo trung mà thôi.
PHỤ CHÚ: Dịch lí rất chú trọng chữ trung mà Hằng là rất quý trọng chữ trung lắm. Bởi vì Hằng là thường lâu, nếu bất trung thời không thường lâu được.
Vô luận làm việc gì, nếu thái quá hoặc bất cập, tất không được lâu dài, duy có đắc trung mới được lâu dài, nên Tượng Truyện lấy ba chữ "Năng cửu trung" để xuất ở Cửu Nhị, thời biết rằng những hào bất trung, tất thảy là bất cửu.
3. Cửu Tam: Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu, trinh, lẫn.
九三: 不恆其德, 或承之羞, 貞吝.
Dương hào ở vào dương vị vẫn là đắc chính, nếu thường giữ lấy đức chính của mình thời không gì đến nỗi xấu.
Nhưng Tam này thời trái hẳn, quá cương bất trung mà lại toan len lỏi vào đòi với Thượng Lục, đó là bỏ đức cương chính của mình mà theo đòi với bạn âm nhu của người, nên hằng mà không biết hằng, tự thủ vẫn đã không xong mà e có lẽ người khinh bỉ tới nơi, nên nói rằng: Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu.
Tu, nghĩa là xấu hổ; thừa, nghĩa là bưng đưa tới; hoặc là nghi từ, có ý là thờ ơ. Hoặc thừa chi tu nghĩa là e có người dâng đưa việc xấu hổ cho Tam.
Tư cách một người như Cửu Tam thời dầu có chính chăng nữa, cũng đáng xấu hổ mà thôi. Bởi vì chính mà bất hằng thế là bỏ mất chính, nên nói rằng Trinh lẫn.
Trinh có bao giờ lẫn đâu, vì trinh mà bất hằng mỗi lẫn.
Tượng viết: Bất hằng kì đức, vô sở dung dã.
象曰: 不恆其德, 無所容也.
Người đã bất hằng kì đức, rày trắng mai đen, sớm nóng, tối lạnh, hạng người ấy còn chốn nào dụng thân được nữa rư?
PHỤ CHÚ: Lời hào này nên tham khảo với lời Đức Khổng trong Luận Ngữ: Nhân nhi vô hằng, bất khả dĩ tác vu y 人而無恆, 不可以作巫醫. Nghĩa là: Người mà đã không đức thường thời đầu làm một nghề thầy đồng bóng, thầy thuốc, cũng không thể làm mà nuôi thân được, đó thiệt là vô sở dung.
4. Cửu Tứ: Điền
vô cầm. 九四: 田無禽.
Hào dương ở vị âm là xử trái mất bản vị của mình mà còn toan lân ở chốn đó, dầu có lân chăng nữa chắc cũng chẳng nên việc gì, tượng như người đi săn mà không được cầm thú, chỉ hao tổn tâm lực mà không thành công.
Tượng viết: Cửu phi kì vị, yên đắc cầm dã.
象曰: 久非其位, 安得禽也.
Hễ người ở đời, tất phải xử cho đúng bản vị của mình, dương cương mà ở vị âm nhu Thế là cửu phi kì vị đó rồi làm sao mà còn được cầm nữa rư? Chữ yên cũng như nghĩa chữ hà yên đắc, nghĩa là thế nào được. Chữ cầm chỉ thí dụ bằng có thành công.
PHỤ CHÚ: Cửu Nhị với Cửu Tứ cùng là xử phi kì vị cả, nhưng Nhị đắc trung thời được tốt, Tứ bất trung thời kết quả xấu; mới biết trung thời mới hằng được.
5. Lục Ngũ: Hằng kì đức, trinh, phụ nhân, cát, phu tử, hung.
六五: 恆其德, 貞, 婦人吉, 夫子凶.
Lục Ngũ ứng với Cửu Nhị, bản thân là âm nhu cư trung mà ứng với Cửu Nhị dương cương cũng cư trung, nên cử một mực thuận tòng từ đầu đến cuối. Thế là có đức lâu dài mà được trinh chính. Tuy nhiên, trong đạo làm người, tất cốt trước có đức dương cương mà âm nhu chỉ là phụ trợ mà thôi. Nếu một mực âm nhu mà chỉ thuận tòng với dương cương, theo về lối thường ví dầu đàn bà như thế thời cũng được cát. Nhược bằng trượng phu mà chỉ âm nhu thuận tòng, hằng cửu bằng một cách phụ nhân thời là xấu lắm.
Hào này ở về quẻ khác thời không lấy gì làm xấu hổ, nhưng ở về thời đại Hằng, hằng nhu thời kém về phần chấn tác, hằng thuận thời không phải là tài hữu vi. Vì vậy, Hào từ đã nói hằng kì đức, trinh mà lại nói phu tử hung. Đó lại là một nghĩa tùy Thì trong Dịch.
Tượng viết: Phụ nhân trinh cát, tòng nhất nhi chung dã, phu tử chế nghĩa, tòng phụ hung dã.
象曰: 婦人吉, 從一而终也, 夫子制義, 從婦凶也.
Hễ đạo người dàn bà thời chỉ theo một người chồng cho đến cuối cùng nên lấy chữ trinh làm cát. Còn như người đàn ông thời tự mình chế ra nghĩa, nghĩa nên theo thời theo, nghĩa không nên theo thời bỏ. Nếu cứ thuận tòng như phụ nhân thời hung.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện ở đây phát minh thêm hai chữ chế nghĩa rất có ý vị.
Phụ nhân thời bảo cho phải tòng nhất chi chung, bởi vì những hạng người phụ nữ, phần nhiều là tri thức non, nghị lực kém, không thể nào chế ra được nghĩa, thời âu là tòng nhất nhi chung cũng đã là người tốt rồi. Nếu tự mình đã là trượng phu thời nên phải tri thức cho cao, biến thông cho hoạt, tùy thì mà chế nên nghĩa. Tỉ như: Nghĩa nên quân chủ thời ta thờ vua, nghĩa nên dân chủ thời ta thờ dân, nghĩa nên thờ quốc gia thời ta thờ quốc gia, nghĩa nên thờ xã hội thời ta thờ xã hội.
Chế ra nghĩa cho hợp với thì, há phải tòng nhất nhi chung mà thôi đâu. Đức Khổng Tử có câu: Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ 君子之於天下也, 無適也, 無 莫也, 義之與比. Quân tử chí ở việc trong thiên hạ, không cái gì là nhất định phải mà theo hoài, không cái gì là nhất định trái mà cự hoài, chỉ duy cho đúng với thì nghĩa thời ta làm theo.
Mạnh Tử cũng có câu rằng: Đại nhân giả, ngôn bất tất tín, hạnh bất tất quả; duy nghĩa sở tại 大人者, 言不必信, 行不必果, 惟義所在. Hễ những người có tài đức lớn mà gọi bằng đại nhân, chẳng phải nói điều gì cũng nhất định phải tin, chẳng phải làm việc gì cũng nhất định quả quyết, chỉ duy cân nhắc ở nơi nghĩa, nghĩa ở chốn nào thời ta theo đó mà nói, mà làm.
Mấy câu nói ấy, rất hợp với lối chế nghĩa; nghĩa chữ chế đây có ý như nghĩa chế tạo, chế tác; tục ta thường nói chế canh hay rượu, v.v. cũng có ý như thế.
Nhưng mà hạng người chế nghĩa, tất phải tri thức cho cao, học vấn cho giàu, lịch duyệt cho sâu; nếu không phải bậc thánh nhân chưa chắc đã chế được nghĩa. Vậy nên học giả nhận cho kĩ.
6. Thượng Lục:
Chấn hằng, hung. 上九: 掁恆, 凶.
Chấn, nghĩa là động rất mau, có ý là láu táu, lau chau.
Thượng Lục ở cuối cùng thể Chấn là động chi cực, lại ở cuối cùng thì Hầng là đã đến buổi bất thường; ở vào buổi bất thường mà lại sẵn có tính động cực, chỉ dùng bằng cách lắc xắc, lau chau, Thượng Cửu như thế mà không chịu yên. Lẽ trong thiên hạ khi nên động mà động, khi nên tĩnh mà tĩnh, có lẽ gì Thượng Cửu bằng một cách táo động mà khỏi tai họa được rư.
Tượng viết: Chấn hằng tại thượng, đại vô công dã.
象曰: 振恆在上, 大無功也.
Ở trên hết quẻ, chính là hạng người ở trên, đã ở trên người mà chỉ thường táo động, tất đến nỗi thất bại hung vậy.
Hễ việc trong thiên hạ, thuận thì, tòng lí mà làm thời việc gì cũng xong. Trái lại, nghịch thì, bội lí mà làm bướng, động càn thời chỉ là làm tai họa cho thiên hạ.
Thiên hạ bản vô sự, dung nhân tự nhiễu chi 天下本無事庸人自擾之 chính là lẽ ấy
33. THIÊN SƠN ĐỘN
Kiền trên; Cấn dưới
Quẻ này là quẻ Thiên Sơn Độn. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Càn thiên, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Sơn Độn.
TỰ QUÁI
Tự quái: Hằng giả cửu dã, vật bất khả dĩ cửu cư kì sở, cố thụ chi dĩ Độn. Độn giả thối dã.
序卦: 恆者久也, 物不可以久居其所, 故受之以遯, 遯者退也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Hằng tiếp lấy quẻ Độn là vì cớ sao?
Hằng, nghĩa là thường lâu. Hễ vật gì không vật gì ở lâu được mãi một chốn. Hễ ở lâu tất phải tránh lui nên sau quẻ Hằng tiếp lấy quẻ Độn.
Độn nghĩa là tránh lui. Theo về tượng quẻ, Càn thượng là thiên, Cấn hạ là sơn. Sơn là giống hữu hình chỉ đứng ở một chốn, thiên là khí dương, cũng là không khí, thường tiến lên hoài.
Bây giờ thiên hạ hữu sơn là có tượng trái nhau mà phải tránh nhau nên lấy nghĩa bằng Độn; vả lại, quẻ này là quẻ thuộc về tháng Sáu, nhị âm sinh ở dưới, toan lùa đuổi tứ dương ở trên, tiểu nhân đạo trưởng, quân tử đạo tiêu nên lúc đó quân tử phải xa lánh. Vì vậy nên đặt tên quẻ bằng Độn.
PHỤ CHÚ: Hằng là cửu, Độn là lui, đã cửu thời phải lui; đêm tới thời mặt trời phải lui; Xuân tới thời Đông phải lui, chính là lẽ ấy. Việc người cũng vậy, quan đến già thời nên hưu, khách ngồi lâu thời phải dậy.
Tục ngữ Tàu có câu: Thiên hạ vô bất tán đích diên tịch 天下無不散的筵席, nghĩa là trong thiên hạ không cỗ tiệc nào nhóm mãi mà không tan; lời nói ấy tuy tầm thường, nhưng hợp với lẽ Hằng rồi thời Độn.
SOÁN TỪ
Độn hanh, tiểu lị
trinh 遯亨, 小利貞.
Quẻ này là quẻ âm trưởng, dương tiêu. Thế lực quân tử không đủ kình địch nổi tiểu nhân nên kiến cơ tảo thối, thân mình tuy là độn mà đạo mình như thế mới là hanh. Tuy nhiên, thì cơ mỗi phút mỗi khác, có khi nên nóng nảy, nhưng cũng có khi nên khoan thai. Quẻ này tuy âm trưởng đã đến hai âm, nhưng bè quân tử hãy còn có bốn dương. Nếu khéo lựa thì lựa cơ, tuy không được đại hữu vi, nhưng mà tiểu tiểu cán hồi, thiện xử với tiểu nhân, dầu không làm được đại trinh nhưng còn lị ở tiểu trinh vậy.
Tiểu lị trinh nghĩa là trinh bằng việc lớn vẫn không lị, mà trinh bằng việc nhỏ cũng còn có lị.
PHỤ CHÚ: Soán từ quẻ Độn nên tham khảo với Soán từ quẻ Bĩ, vì quẻ Bĩ là tam âm tịnh tiến nên Soán từ nói rằng: Bất lị quân tử trinh, thiệt là đau đớn cho quân tử. Độn thời mới có nhị âm nên Soán từ nói rằng: Tiểu lị trinh là còn chút hi vọng cho quân tử.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Độn hanh, độn nhi hanh dã, cương đương vị nhi ứng, dữ thì hành dã, tiểu lị trinh, tẩm nhi trưởng dã, Độn chi thì nghĩa đại hĩ tai.
彖曰: 遯亨, 遯而亨也, 剛當位而應, 與時行也, 小利貞, 浸而長也, 遯之時義大矣哉.
Soán viết: Độn hanh, độn nhi hanh dã.
Quái từ rằng: Độn hanh, nghĩa là thân quân tử tuy thối mà đạo quân tử vẫn hanh vậy.
Cương đương vị nhi ứng, dữ thì hành dã.
Ở đây chỉ lấy một hào Cửu Ngũ thích nghĩa chữ Hanh, Cửu Ngũ dương cương ở vào vị trung chính mà ở dưới có Lục Nhị cũng trung chính mà ứng với nhau. Tuy ở vào thì âm trưởng nhưng có đức dương cương như thế và có vị trung chính như thế mà lại có bạn trung chính như thế, bản thân Ngũ lại là một bậc lãnh tụ trong tứ dương thời nên hết sức hết lòng phù trì thế đạo, chờ ngày nào đáng thối tàng thời sẽ thối tàng. Dữ thì hành dã nghĩa là rình ở thì cơ mà làm công việc mình thời có lẽ hanh.
Tiểu lị trinh, tẩm nhi trưởng dã.
Sở dĩ lị ở tiểu trinh bởi vì âm còn dần dần mà trưởng chưa trưởng gấp liền, nếu quân tử khéo tay, càn toàn, thời nhưng việc tiểu trinh hãy còn làm được.
Độn chi thì nghĩa đại hĩ tai.
Thì nghĩa ở quẻ Độn, thánh nhân sở dĩ tán rằng đại hĩ tai bởi vì quân tử xử vào thì Độn, tiểu nhân tuy tiến mà chưa đến như Bĩ, Bác, quân tử tuy suy mà hãy còn có tứ dương, nghĩa là xử thì Độn, bảo rằng nên lui chưa phải là tuyệt đối nên lui; bảo rằng không nên lui, cũng không phải tuyệt đối không nên lui. Khi ấy, chỉ nên có cặp mắt xem thì cho chắc chắn, thủ đoạn tùy thì cho lanh nhạy, thì quả đã nên lui thời ta lui ngay, thì nếu có thể làm được thời ta tùy cơ chuyển bát, cũng chưa phải vạn bất khả vi. Vậy nên trên kia đã nói dữ thì hành dã, đây lại nói thì nghĩa đại hĩ tai. Nghĩa chữ thì ở đây chỉ nói riêng về thì quẻ Độn. Ở thì Độn mà chỉ một cách thối tàng đó là lẽ đang nhiên không cần phải nói; duy ở thì Độn mà còn tìm một cách toàn chuyển phù trì, thì nghĩa được như thế mới là to lớn.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết:
Thiên hạ hữu sơn, Độn. Quân tử dĩ viễn tiểu nhân, bất ác nhi nghiêm. 象曰: 天下有山, 遯, 君子以遠小人, 不惡而嚴.
Thiên thể vô cùng, sơn cao hữu hạn, chúng ta ở dưới núi thời thấy trên đỉnh núi là trời, đến lên tới đỉnh núi thời trời lại mênh mù ở đâu không thể với tới, thành ra tượng Độn. Quân tử xem tượng ấy mà học làm cách xa tránh đứa tiểu nhân, mình cứ lo giữ mình cho trong sạch, không đem những ác thanh, nộ sắc đối đãi với nó, chỉ khiến nó thấy mình uy nghiêm trang kính mà thôi.
PHỤ CHÚ: Chỉ bốn chữ bất ác nhi nghiêm mà cách đối đãi với tiểu nhân thiệt là hoàn thiện. Bất ác là thuộc về hình thức, nhi nghiêm là thuộc về tinh thần. Đối đãi với tiểu nhân phải có một cách tỏ ra tinh thần bất khả phạm nhưng không nên đem ác thanh, ác sắc mà đối đãi với nó. Khổng Tử đối đãi với Dương Hóa, Mạnh Tử đối đãi với Vương Hoan, chính là nghĩa ấy.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Độn vĩ, lệ, vật dụng hữu du vãng.
初六: 遯尾, 厲, 勿用有攸往.
Theo về cách xem quẻ thời hào trên hết là đầu, hào dưới hết là đuôi.
Sơ Lục ở dưới hết quẻ, chính đương vào bộ vị đuôi, đuôi là ở sau hết. Người ta vừa hồi Độn, ai nấy cũng đã độn trước rồi, anh Sơ vì chất Nhu tính ám, không độn theo kịp người mà lại còn rù rờ ở sau. Thế là độn vĩ. Độn mà chậm trễ đến thế, tất nhiên nguy. Người ta xử vào địa vị Sơ Lục chỉ nên tránh nép coi thì, chớ nên tiến hành những việc gì.
Tượng viết: Độn vĩ chi lệ, bất vãng, hà tai dã.
象曰: 遯尾之厲, 不往, 何災也.
Độn ở sau người, vẫn có lẽ nguy, nhưng nếu biết nguy mà nấp nép, không tiến vãng, ở đâu thời cũng không tai họa gì.
2. Lục Nhị: Chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi thắng thoát.
六二: 執之用黄牛之革, 莫之滕說.
Ở vào thì Độn vẫn là nên Độn, nhưng vì Lục Nhị là chính ứng với Cửu Ngũ, có tượng là quân thần tương đắc, hai bên thảy có đức trung chính kết hợp với nhau, khăng khít bền chặt bằng một cách trung chính hòa thuận, tượng như trói buộc nhau bằng da trâu vàng mà không thể nào mở lột được.
Chấp, nghĩa là trói buộc; hoàng là sắc trung; ngưu là giống có tính thuận; cách là dày bằng da. Hoàng ngưu chi cách là thí dụ bằng đức trung thuận của Lục Nhị; mạc chi thắng thoát là nói giao kết rất bền chặt, vì ở địa vị Lục Nhị mà lại chính ứng với Cửu Ngũ, nghĩa không thể bỏ Ngũ mà đi, nên Hào từ không nói chữ Độn.
Tượng viết: Chấp dụng hoàng ngưu, cố chí dã.
象曰: 執用黄牛, 固志也.
Chấp dụng hoàng ngưu là chỉ hào Nhị với hào Ngũ rất kiên cố, vì đạo nghĩa mà không dám độn. Xưa ông Cơ Tử đương hồi âu vong, ông giả cuồng làm nô mà nói rằng: Ngã bất cố hành độn, chính đúng ý Hào từ này.
3. Cửu Tam: Hệ độn, hữu tật lê, súc thần thiếp, cát.
九三: 繫遯有疾, 厲, 畜臣妾, 吉.
Cửu Tam dương cương ở gần hào Nhị là âm nhu, dương hay bìu ríu với âm, Tam ở gần Nhị nên bìu ríu với Nhị.
Quân tử ở thời đại Độn, lẽ nên độn cho chóng và xa. Bây giờ bìu ríu vì tư tình thời không thể độn cho chóng được, chỉ làm hại cho độn mà thôi. Thế là nguy rồi. Hệ nghĩa là bìu ríu bằng tư tình. Tuy nhiên, tư tình bìu ríu đó, không phải là tuyệt đối không chốn hay đâu. Nếu đối đãi với bậc người quân tử hay đối đãi với hạng tiểu nhân thời vẫn không được, nhưng đụng khi nuôi bọn thần thiếp là hạng người mà mình có quyền sai sử thời dầu có tư tình bìu ríu, nhưng mua được lòng vui của nó mà lị được công việc cho mình, cũng có thể tốt lành được.
Tượng viết: Hệ độn
chi lệ, hữu tật bái dã, súc thần thiếp cát, bất khả đại sự dã. 象曰: 繫遯之厲, 有疾憊也, 畜臣妾吉, 不可大事也.
Ở vào thì Độn vẫn nên cao bay xa chạy, bây giờ vì hệ độn mà đến nỗi hữu tật, tất nhiên nguy khốn (Bái nghĩa là khốn, tức là chữ lệ).
Tuy nhiên, Độn đã không được lanh chóng mà cũng không thể làm nên việc gì lớn thời chỉ duy lấy cái lòng tư ái đó, dụng vào việc súc dưỡng thần thiếp là việc rất nhỏ mọn còn có thể cát, còn ngoài ra những việc gì lớn, quyết không đem cách tư tình mà làm được đâu.
PHỤ CHÚ: Hào từ này cũng có nghĩa là: quyền biến trong Kỉnh Dịch. Như ông Thái Tùng Pha lúc đầu nước Trung Hoa lập thành dân quốc, ông đương làm Đô đốc tỉnh Vân Nam, vì Viên Thế Khải muốn phản dân quốc, xưng hoàng đế, biết ông là người đảng cách mệnh nên triệu ông lên Bắc Kinh; nếu ông không lên thời đem quân đánh. Lúc đó, thế lực ông chưa đủ chống Viên nên ông phải nín nhịn mà lên Bắc Kinh.
Viên giữ ông lại ở Kinh, cho ông làm thượng tướng quân, nhưng không cho coi việc binh, Viên lại thường ngày phái mười hai viên trinh thám, chuyên một việc canh lén rình giữ ông. Ông vẫn muốn có cơ hội trốn Viên, chờ hai năm tròn, hết sức kín đáo, hàng ngày, ngoài thì giờ vào diện hầu Viên, còn nữa chỉ lưu liên nơi quán một con hát tên là Phụng Tiên, lính trinh thám rình ở nhà Phụng Tiên mãi mãi, thấy ông tuyệt vô hành động, lâu ngày chồn mỏi, canh giữ có ý sơ sài, nhưng ông biết Viên còn nghi ông lắm, vả thì cơ khởi nghĩa cũng chưa tới nơi nên ông hãy còn ẩn nhẫn, lại càng thân thiết với Phụng Tiên in như vợ chồng. Hàng ngày triều Viên ra thời về ngay ở nhà Phụng Tiên không bao giờ về công quán. Viên lại sai người rình ở công quán, tưởng có mật mưu gì chăng. Ông biết ý Viên, nhân có một ngày ông dắt Phụng Tiên về tại công quán, bà Thái phu nhân nổi ghen, đánh lộn với ông, móng tay bà quào rách mặt, ông tức khắc xin phép Viên li hôn. Bởi vì pháp luật li dị một vị mệnh phụ thượng tướng quân, tất phải xin phép đại tổng thống. Viên thấy thế cho ông là người bậy bạ. Lúc đó Thái phu nhân chia gia tài, mang giấy li hôn về Hồ Nam là quê hương của ông. Ông từ đó ăn ở riết một nhà với Phụng Tiên, bỏ quách công quán, ngày đêm trầm mê trong tửu địa hoa thiên. Lại hơn hai năm nữa, chính vừa năm thứ tư Trung Hoa Dân Quốc, Viên mới thiệt xưng đế, cải nguyên Hồng Hiến, đổi quốc dân làm ra đế quốc.
Tức sáng ngày sau đó, vừa lúc bảy giờ mai, chỉnh đốn quân trang gươm mũ chững chàng, xe ngựa rực rỡ, từ nhà Phụng Tiên ra đi, vào thẳng cửa Thiên Yên, trình với quan thị vệ canh cửa, xin vào diện triều tân hoàng đế. Quan thị vệ bảo rằng: "Chưa đến giờ hoàng đế xuất điện, ông hãy chờ đó, chín giờ sẽ vào". Ông tức khắc thay đổi hết quân trang, để cả xe ngựa bộc tùng ở ngoài cửa Thiên Yên bảo chúng nó rằng: "Bay chờ tao ở đây, sớm mai ta chưa ăn điểm tâm, ta lại hàng ôten chút đỉnh, tới chín giờ ta vào chầu".
Lúc đó ông mang gươm thượng tướng quân, khoát xe tay chạy thẳng về nhà Phụng Tiên, quăng gươm lột áo vứt cả mão seo thượng tướng, ăn mặc một cách đàng điếm, tay nách Phụng Tiên lên thẳng xe lửa đi Thiên Tân, tức khắc đáp tàu thủy Nhật Bản đến Hương Cảng thời đã có thầy ông là ông Lương Khải Siêu, bạn ông là ông An Thừa Hiến, chực sẵn đó rồi. Bắc Kinh đột nhiên mất một vị thượng tướng quân. Viên nổi giận quá, giết mười hai tên cảnh sát và mười hai tên trinh thám luôn. Đến tháng sau thời Vân Nam đầu tiên khởi nghĩa đánh Viên, tứ phương hường ứng, chưa ba tháng mà Hồng Hiến đổ, Viên chết tức. Thái phu nhân cũng vào Tứ Xuyên giúp việc với ông. Đó mới biết cách Độn của tay anh hùng mà sức thần thiếp chẳng phải là việc vô dụng. Khi ông Tùng Pha chết, toàn quốc dân khai hội truy điệu, Phụng Tiên cũng có câu đối điếu ông rằng:
Bất ý Chu Lang cánh đoản mệnh[19]
Tảo tri Lí Tĩnh thị anh hùng[20]
不意周郞竟短命
早知李靖是英雄 (Ai ngờ chàng Chu mà đoản mệnh, vẫn đe Lí Tĩnh là anh hùng).
4. Cửu Tứ: Háo độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ.
九四: 好遯, 君子吉, 小人否.
Cửu Tứ chính ứng với Sơ Lục, Sơ âm, Tứ dương mà ứng với nhau, vẫn sẵn có cảm tình thân thiết, nhưng Sơ là tiểu nhân, Tứ là quân tử, có lẽ đâu dung hòa được. Khi Tứ đã nhận ra được Sơ không phải chân chính đồng chí với mình, tức khắc cắt đoạn tư tình mà tuyệt giao với Sơ, cho nên nói rằng háo độn, nghĩa là theo về tư tình vẫn có háo mà theo về công nghĩa thời tức khắc tránh xa.
Xưa nay, những người cắt được tư tình mà tránh được tiểu nhân, tất duy đấng quân tử, hay đem đạo nghĩa cấm tình dục mới làm được thế mà kết quả mới được tốt lành. Nếu tiểu nhân thời làm gì được thế, kết quả chỉ sụp vào hầm tình dục mà thói. Nên lại nói quân tử cát, tiểu nhân phủ, nghĩa là quân tử có đức cương kiện thời háo độn mà cát, nếu tiểu nhân thời không hay thế.
Tượng viết: Quân tử háo độn, tiểu nhân phủ dã.
象曰: 君子好遯, 小人否也. Quân tử thời tuy có tính háo mà hay làm được nghĩa Độn, tiểu nhân thời há làm được đâu.
5. Cửu Ngũ: Gia
độn, trinh cát. 九五: 嘉遯, 貞吉.
Cửu Ngũ cư trung đắc chính, hạ ứng với Lục Nhị cũng có đức trung chính. Ở vào thì Độn mà trung chính với trung chính dắt nhau tránh tiểu nhân, cách Độn như thế rất là tốt đẹp nên nói rằng gia độn. Độn được như thế có gì là tà đâu, có gì là xấu đâu, trinh chính là cát đó vậy.
Tượng viết: Gia độn trinh cát, dĩ chính chí dã.
象曰: 嘉遯貞吉, 以正志也.
Vì ý chí hào Cửu Ngũ chỉ một mực theo chính, dầu tiểu nhân ưa mình mặc lòng mà mình vẫn cứ tránh xa, như thế là Gia độn trinh cát.
6. Thượng Cửu: Phì độn, vô bất lị.
Ở về thì Độn, chính là hồi quân tử tiêu, tiểu nhân trưởng. Quân tử ở về thời đại ấy, Độn xa được bao nhiêu thời tự do đầy đủ bấy nhiêu.
Hào này là hào dương cương, vẫn là bậc quân tử, lại ở vào địa vị cuối cùng Ngoại Quái mà ở dưới không hệ ứng với ai, thiệt là Độn được rất xa mà tự xử bằng một cách rất thong thả, có khí tượng thái nhiên tự đắc, nên nói rằng phì độn, nghĩa là độn mà có ý tự đắc.
Phì, nguyên nghĩa là béo nhưng ở đây thời phì là khoan khoái. Độn mà được một cách rất khoan khoái thời không gì chẳng lị.
Tượng viết: Phì độn vô bất lị, vô sở nghi dã.
象曰: 肥遯, 無不利, 無所疑也.
Hào Thượng Cửu có đức cương kiện, ở về thì Độn, lại ở địa vị vô vị, chỉ lấy đạo đức làm cao lương, lấy nhân, nghĩa làm màu mỡ, như thế thời Độn mà béo tốt, còn nghi ngại gì nữa.
PHỤ CHÚ: Một bộ sách Dịch bao bọc hết sự lí vạn vật, mỗi một việc tất có thì của việc ấy, mỗi một thì tất có việc của thì ấy.
Người ta ở đời có xuất tất có xử, có tiến tất có thối, chẳng những tiến với xuất là có việc mà thôi, với xử cũng là có việc. Duy vì nhân thì mà phải có việc, mà làm việc tất phải đúng với thì. Dịch vị quân tử mưu nên phải đặt ra quẻ Độn, tức là thì, độn chóng hay chầy, độn xa hay gần, độn khéo hay vụng, độn hay không độn tức là việc.
Hào Sơ độn chậm nên nói "độn vĩ" mà nguy. Hào Tam độn mà còn bìu ríu nên nói "hữu tật". Hào Tứ: có vướng tư tình mà hay quyết nhiên viễn độn nên được cát. Hào Ngũ độn bằng trung chính nên được gia mà cát. Hào Thượng độn bằng một cách rất thái nhiên là tốt nhất trong thì Độn nên được câu "vô bất lị".
Duy hào Lục Nhị có nghĩa đặc biệt trong thì Độn, thân mình là đại thần nghĩa phải dữ quốc tồn vong thời lại lấy bất độn làm việc.
Tổng chi, chung một thời đại Độn mà việc có khác nhau như thế. Chúng ta xem ở thì toàn quẻ lại phải xem ở sáu hào. Tỉ như một ngày là thì chung, hai mươi bốn giờ là thì riêng. Vì thì riêng có khác nhau mà việc cũng có so se với nhau. Chỉ xem ở quẻ Độn thời cũng đã biết được Dịch lí.
34. QUẺ LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG
Chấn trên; Kiền dưới Quẻ này là quẻ Lôi Thiên Đại Tráng.
Càn hạ cũng là Nội Càn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Càn thiên, nên tên quẻ đọc bằng Lôi Thiên Đại Tráng.
TỰ QUÁI
Tự quái: Độn giả thối dã, vật bất khả dĩ chung độn, cố thụ chi dĩ Đại Tráng.
序卦: 遯者退也, 物不可以久遯, 故受之以大壯.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Độn, tiếp lấy quẻ Đại Tráng là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Độn. Độn, nghĩa là lui. Vật lí không giống gì là cứ lui hoài, hết thì vận lui thời tất lên, lên tất lớn mạnh. Vậy nên sau quẻ Độn, tiếp lấy quẻ Đại Tráng.
Theo thông lệ trong Dịch, tiểu là âm, đại là dương, quẻ này dương sinh đã đến bốn nét, âm tiêu chỉ còn hai nét. Thế là dương tráng thịnh lắm rồi nên tên quẻ đặt bằng Đại Tráng.
Đại Tráng nghĩa là dương đã tráng thịnh.
SOÁN TỪ
Đại Tráng, lị trinh. 大壯, 利貞.
Soán từ ở đây chỉ nói tên quẻ mà kiêm cả nghĩa quẻ, Đại Tráng thời dương đã thịnh rồi, quân tử tiến mạnh thời tiểu nhân phải lui, cát hanh không cần phải nói nữa, chỉ e cho bạn quân tử, ỷ mình gặp hồi thịnh mà kiêu căng đắc chí, lỡ có khi chạy vào đường bất chính chăng.
Thánh nhân mừng cho Đại Tráng mà lại răn bằng lị trinh nên nói rằng: Đại Tráng, lị trinh, nghĩa là đại tuy tráng rồi, nhưng cốt phải bền giữ đạo chính.
PHỤ CHÚ: Cổ nhân có câu: Đắc ý thường tư thất ý thì 得意常思失意時, nghĩa là hồi đã đắc ý càng nên phải nghĩ đến khi thất ý.
Tòng lai, tiểu nhân sở dĩ hãm hại quân tử, thường rình ngó ở lúc quân tử đắc chí mà vạch lá tìm ra sâu, ngậm cát phun vào mặt, nên quân tử càng phải khủng cụ tu tỉnh lắm. Quái từ chỉ có bốn chữ: Đại Tráng, lị trinh mà ý nghĩa thiệt đủ. Trinh, nguyên là tạo nhân được Đại, Đại là kết quả của trinh. Đại mà lại hay trinh thời mới bảo tồn được tráng. Đó là ý thánh nhân phù quân tử vậy.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Đại Tráng, đại giả tráng dã, cương dĩ động, cố tráng. Đại Tráng, lị trinh, đại giả chính dã, chính đại nhi thiên địa chi tình khả kiến hĩ.
彖曰: 大壯, 大者壯也, 剛以動, 故壯. 大壯利貞, 大者正也. 正大而天地之情可見矣.
Soán viết: Đại Tráng, đại giả tráng dã, cương dĩ động, cô tráng.
Theo về thể quẻ, dương hai phần, âm một phần, dương tiến vào trong, âm lui ra ở ngoài, thế là phần dương được tráng thịnh nên tên quẻ đặt bằng Đại Tráng. Vả theo như đức quẻ thời Càn cương trong, chấn động ở ngoài, thế là lấy đức dương cương mà động. Vậy nên tráng thịnh.
Đại Tráng, lị trinh, đại giả chính dã, chính đại nhi thiên địa chi tình khả kiến hĩ.
Quái từ nói rằng: Đại Tráng lị trinh, nghĩa là, sở dĩ đại được như thế là vì có chính vậy. Nói trái lại, nếu không chính thời không đại, vì có chính thời mới đại, đã chính thời lại đại thêm, chỉ xem ở nơi chính đại mà suy cho đến thiệt rộng thời chân tình của thiên địa, cũng có thể thấy được rồi.
PHỤ CHÚ: Quẻ Phục nhất dương sinh thời Soán Truyện nói: "Kiến thiên địa chi tâm", quẻ Đại Tráng tứ dương trưởng thời Soán Truyện nói: "Kiến thiên địa chi tình".
Chữ tâm với chữ tình sở dĩ khác nhau là vì cớ sao? Tâm chỉ là ý tứ ngậm chứa ở bề trong. Tình thời có manh múi tỏ rõ ra ở bề ngoài. Tâm, tình nguyên chỉ một gốc mà thể, dụng thời có khác nhau. Nguyên lai, tấm lòng của trời đất chỉ cốt ở sinh vật, nhưng khi sinh cơ còn ẩn nấp thời không thể thấy được thiên địa chi tâm. Đến quẻ Phục mà nhất dương sơ sinh thời sinh cơ đã manh động nên thấy được thiên địa chi tâm. Đến quẻ Đại Tráng dương trưởng đã đến bốn nét thời lòng sinh vật của thiên địa đã có tác dụng tỏ rõ ra bề ngoài thời mới thấy được thiên địa chi tình.
Hai chữ đại nghĩa có khác nhau. Chữ "đại giả" ở trên, đại chuyên chỉ bằng tứ dương; chữ "đại giả” ở dưới thời đại là thuyết lí, chỉ nghĩa là lớn.
Chính mà to lớn, ấy là tình của thiên địa. Thầy Mạnh bàn dưỡng khí mà nói rằng: Cái làm ra khí đó rất lớn, rất mạnh, lấy lí thẳng nuôi nó mà không tổn hại đến nó.
Mấy câu ấy, chính là học Soán Truyện Đại Tráng vậy. Chữ "cương", chữ "đại", chữ "trực" tức là chữ chính đại ở quẻ này.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Lôi tại thiên thượng, Đại Tráng. Quân tử dĩ phi lễ phất lí.
象曰: 雷在天上, 大壯. 君子以非禮弗履.
Quẻ này Càn ở dưới, Chấn ở trên, tượng là sấm vang động trên trời, tiếng kêu được rất lớn, uy vang được rất xa.
Như thế thời Đại mà lại Tráng. Quân tử xem tượng ấy, bắt chước Đại Tráng mà làm cách đại tráng của mình, phấn chấn tinh thần của mình, để đánh đổ giặc tư dục, tự cường bất tức, cố làm cho đến thánh hiền. Hễ việc gì không hợp với thiên lí thời quyết không làm ngay.
Phật Kinh có nói rằng: Nhất thiết giặc ở ngoài, đều có thể đánh đổ được, duy có sáu giặc trong mình, khó đánh mà thôi. Nếu đánh được giặc đó, mới là đại tráng của quân tử. Sách Trung Dung của thầy Tử Lộ hỏi việc cường, Đức Khổng Tử dạy cho rằng: Quân tử hoà với chúng mà không trôi 君子和而不流, khó đánh mà thôi, nếu đánh được giặc đó, mới là đại tráng của quân tử. Sách Trung Dung, thầy Tử Lộ hỏi việc cường, đức nổi theo chúng, đứng bằng cách trung chính mà không nương dựa vào phía nào. Mạnh vậy thay! Rất mạnh, thảy là như nghĩa tượng từ đây.
Xưa nay những cách phùng mang trợn mắt, xông súng đạn, nhảy hầm than, tục thường vẫn khen làm tráng, những võ phu dũng sĩ thường hay làm được; đến như cấm được tư tình, biến hoá được khí chất thời tất phải có nghĩa lí chí dũng được như quân tử mới làm nên, nên nói rằng: Quân tử dĩ phi lễ phất lí (Lễ tức là lẽ trời; lí nghĩa là làm).
HÀO TỪ VÀ TlỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Tráng vu chỉ, chinh hung, hữu phu.
初九: 壯于趾, 征凶, 有孚.
Sơ Cửu dương cương Càn thể mà xử vào địa vị dưới hết quẻ, lấy tượng bằng thân người thời tượng là ngón chân ở dưới mà ham tiến động.
Sơ Cửu vị dương cương mà lại thể kiện, xử Sơ chính là người ở địa vị thấp mà hấp tấp láu táu quá hăng bằng một cách nhuệ tiến, tyhế là tráng vu chỉ. Chỉ nghĩa là ngón chân, hăng lên mà chỉ dùng bằng ngón chân thế nào đi cũng vấp ngã nên nói rằng: Chinh hung, hữu phu, nghĩa là đi lên thời tất nhiên xấu. Nghĩa chữ "hữu phu" ở đây, khác nghĩa chữ "hữu phu" ở mọi nơi: Phu nghĩa là chắc chắn; hung, hữu phu, xấu chắc chắn.
Tượng viết: Tráng vu chỉ, kì phu cùng dã.
象曰: 壯于趾, 其孚窮也.
Ổ vào thời Đại Tráng thời tráng vẫn có lẽ hay, nhưng Sơ là địa vị tối hạ mà toan dùng cách hăng mạnh ra với đời, hạng người ấy tất nhiên cùng khốn vậy.
2. Cửu Nhị:
Trinh cát. 九二: 貞吉.
Cửu Nhị bản chất vẫn dương cương mà ở vào âm nhu lại ở được vị trung, thế là cương, nhu vừa đắc trung, tráng mà không quá chừng tráng, ấy là được trinh chính mà có tốt lành vậy.
PHỤ CHÚ: Theo thường lệ ở quẻ khác thời dương cư âm vị mà bất chính. Nhưng hào này Cửu Nhị là đắc trung rồi, đã đắc trung thời chẳng bao giờ bất chính. Đó lại là biến lệ trong Dịch nên Hào từ dùng chữ "trinh cát".
Tượng viết: Cửu Nhị trinh cát, dĩ trung dã.
象曰: 九二貞吉, 以中也.
Cửu Nhị mà được trinh cát là vì được đạo trung vậy.
3. Cửu Tam: Tiểu nhân dụng tráng quân tử dụng võng, trinh lệ. Đê dương xúc phiên, luy kì giốc.
九三: 小人用壯, 君子用罔, 貞厲. 羝羊觸藩, 羸其角.
Cửu đã dương cương, Tam cũng dương cương, trùng dương mà xử vào thời Đại Tráng lại ở cuối cùng Càn thể, thế tất là người tráng chi cực. Tiểu nhân mà như thế thời dùng cách ấy mà tỏ ra một cách hung mạnh. Nếu ở về người quân tử thời dùng cách ấy mà tỏ rõ ra một cách gan liều. Chữ tráng ở đây nghĩa là hăng mạnh, chữ võng nguyên nghĩa như chữ vô, ở đây thời lại có nghĩa là gan liều. Xem nhất thiết việc như hình không mà không kiêng sợ gì thời gọi bằng võng.
Tiểu nhân quân tử là địa vị khác nhau, dụng tráng dụng võng là thủ đoạn khác, nhưng tổng chi cũng là tráng bướng cả.
Tráng mà tráng bướng thời dầu có chính nữa cũng phải nguy. Tượng như con dê đực ỷ mình có sừng, hễ thấy giậu tường thời húc ngay, giậu tường thời không đổ mà sừng chắc phải gãy (Đê dương nghĩa là con dê đực; phiên, nghĩa là tượng giậu; xúc, nghĩa là húc chận; giốc, nghĩa là sừng; luy, nghĩa là gãy). Đê dương xúc phiên, luy kì giốc là thí dụ bằng cách “thái cương tắc chiết".
Tượng viết: Tiểu nhân dụng tráng, quân tử võng dã.
象曰: 小人用壯, 君子用罔也.
Tiểu nhân mà như Cửu Tam thời là vì tráng mà sát thân, quân tử mà như Cửu Tam thời là vì võng mà mang họa.
Dụng tráng in như
câu Bạo hổ bằng hà, tử nhi hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn 暴虎馮河, 死而有勇而無義為盜.
PHỤ CHÚ: Hễ mỗi hào trong Dịch, bao bọc hết mấy hạng người nên thánh nhân thường đặt ra hai nghĩa: Lục Ngũ quẻ Hằng, phụ nhân cát, phu tử hung, Cửu Tam quẻ Bĩ, tiểu nhân cát, đại nhân bĩ hanh. Cửu Tứ quẻ Độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ, v.v. Như những loài ấy, Cửu Tam này cũng thế. Người vận dụng được hào không phải hào vận dụng được người. Xin học giả chớ nệ văn mà không biết lí.
4. Cửu Tứ: Trinh
cát, hối vong, phiên quyết bất luy, tráng vu đại dư chi phúc. 九四: 貞吉, 悔亡, 藩決不羸, 壯于大輿之輹.
Cửu Tứ qua khỏi Càn mà vào Chấn thể, dương trưởng đã đến lúc cuối cùng là tráng thịnh đã đạt ở cực điểm, vả lại hào Tứ này ở trên hết quần dương, chính là người lãnh tụ trong đám quân tử. Thánh nhân sợ vì quá đầy mà nghiêng, không khéo lại lầm về đường bất chính nên có lời răn rằng: Trinh cát, hối vong, nghĩa là giữ được chính thời lành mà khỏi được những việc phải ăn năn.
Lại theo về thể quẻ: Bước lên trên Tứ là hào Ngũ, hào Thượng, rặt là hào âm, âm đã đến lúc suy, đánh đổ nó có thể dễ, tượng như tường ở trước mặt bây giờ đã đổ trổng, không còn khốn nạn gì, nên nói rằng: Phiên quyết bất luy. Chữ phiên, chữ luy tiếp Cửu Tam mà nói chuyện. Tam còn có phiên, đến Tứ thời phiên quyết, không phải sợ lưu độc. Cửu Tứ đã gặp được cơ hội như thế, suất lệnh cả ba dương ào ào mà lên, nước bước đường đi chắc rất thuận lị, tượng như cưỡi cỗ xe lớn mà cốt bánh xe lại được vững vàng . Thí dụ bằng tượng ấy là mừng cho quân tử đã đến ngày tiến hành thuận lị vậy. (Đại dư nghĩa là cỗ xe lớn; phúc là cốt bánh xe). Xử vào thời đại Tráng mà lại có tài liệu như cỗ xe lớn, cốt cứng thời xe mạnh, thời tiến hành có khó gì đâu.
Tượng viết: Phiên quyết bất luy, thượng vãng dã.
象曰: 藩決不羸, 尚往也.
Cửu Tam sở dĩ không tiến được là vì trước mặt hãy còn giậu tường ngăn trở. Bây giờ đã phiên quyết bất luy rồi thời tiến mãi không thôi là sự thế tất nhiên (Thượng vãng nghĩa là tiến lên hoài).
5. Lục Ngũ: Táng dương vu dị, vô hối.
六五: 喪羊予易, 無悔.
Lục Ngũ ở địa vị chí tôn mà lại vừa thời Đại Tráng, quần dương ở dưới, dương tiến mạnh là thường. Ngũ ở trên họ mà bản chất Ngũ là âm nhu, thiệt không thể lấy thế lực mình áp phục được họ, chỉ duy có một cách, dùng ngón nhu thuận, lấy hoà dị vui vẻ đối đãi với họ. Ngũ đã không có lòng rầy rà với họ thời quần dương kia cùng không biết thả ngón cương cường vào chốn nào, tượng như có bầy dê mà mất hẳn bầy dê bằng một cách dung dị. Nếu thí dụ bằng táng dương vu dị.
Táng dương nghĩa là mất dê, dê hay đi bầy mà tính ham chậm. Dương là ví vào quần tự nhiên dương, lấy một cách chí nhu đối đãi với quần dương mà quần dương tự nhiên mất thủ đoạn cương cường. Thế là mất dê bằng cách dễ dàng vậy. Như thế, chắc không việc gì phải ăn năn.
PHỤ CHÚ: Sách Lão Tử có câu: Lấy đạo chí nhu trong thiên hạ mà lùa đẩy được những món chí cương trong thiên hạ thiên hạ chi chí nhu trì sinh thiên hạ chi chí cương 天下之至柔馳聘天 下之至剛. Ông Quang Vũ đời Hán có nói rằng: Ngô dĩ nhu đạo trì thiên hạ 吾以柔導治天下, cũng tương tự như Hào từ này,
Tượng viết: Táng dương vu dị, vị bất đáng dã.
象曰: 喪羊于易, 位不當也.
Ở về thời Đại Tráng mà cớ sao chỉ dùng bằng một cách nhu hoà? Bởi vì Ngũ là âm nhu mà ở vào tôn vị, bản thân vẫn không tài dương cương, nếu không dùng cách nhu hoà thời làm sao mà ở được vị ấy.
6. Thượng Lục: Đê đương xúc phiên, bất năng thối, bất năng toại, vô du lị, gian tắc cát. 上六: 羝羊觸藩, 不能退, 不能逐, 無攸利, 艱則吉.
Thượng Lục ở cuối cúng quẻ Đại Tráng, lại ở trên hết thể Chấn, thế là Tráng chi chung, động chi cực nên láu táu chạy quàng, tượng như dê đực ỷ thế có sừng mà húc vào tường giậu, muốn lui thời sừng đã mắc vào tường không thể lui, muốn lên thời sức không thể đẩy được tường nên không thể lên được.
Lúc bây giờ tiến thối lưỡng nan, thế là bất năng thối, bất năng toại, còn có gì lị nữa đâu. Bất năng thối là vì táo động quá tay, bất năng toại là vì bản chất quá nhu nhược nên kết quả vô du lị. Tuy nhiên, địa vị hào Thượng là Đại Tráng đã đến lúc cùng, hễ cùng thời biến, may chi Thượng biến được tính chất của mình, bỏ nết táo động mà tự xử bằng một cách gian nan. Thế là chí tĩnh chế động thời có lẽ cát (Toại cũng như nghĩa chữ thành). Trong Luận Ngữ có chữ "toại sự", tức là nghĩa chữ toại ở đây.
Tượng viết: Bất năng thối, bất năng toại, bất tường dã, gian tắc cát, cựu bất trường dã. 象曰: 不能退, 不能逐, 不詳也, 艱則吉, 咎不長也. Muốn thối mà thối cũng không xong, muốn tiến mà tiến cũng không được là vì mình tự xử không được tường thẩm cho nên đến nỗi thế, nhưng còn may, đến lúc Đại Tráng đã cùng rồi, nhân cùng mà biết biến đổi, biết gian nan tự thủ thời tội lỗi cũng không bao nhiêu. Vậy nên nói rằng: Gian tắc cát.
PHỤ CHÚ: Đại Tráng là quẻ dương thịnh âm suy, theo thường lệ quẻ tốt mà Hào từ trong sáu hào, lại không có hào nào là thiệt tốt là bởi vì thời Đại Tráng tuy là một vận hội rất tốt, nhưng hễ phúc thời thường nấp cơ họa, thịnh thời thường nấp cơ suy. Quái từ chỉ nói về thì nên lời quẻ không thấy xấu. Hào từ lại nói riêng từng hạng người trong thời Đại Tráng, thấy phúc phải lo đến họa, thấy thịnh phải lo đến suy, tất phải dùng những lời răn đe ngăn ngừa nên Hào từ không thể nói tốt. Đó chính là lẽ tiêu, tức, dinh, hư, trong Dịch mà thánh nhân phải dặn trước cho người ta, chính như nghĩa Hào từ Cửu Tam quẻ Thái, muốn cho người chớ thấy Đại Tráng mà đắc ý.
35. QUẺ HOẢ ĐỊA TẤN
Ly trên; Khôn dưới
Quẻ này là quẻ Hoả Địa Tấn.
Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Li thưởng cũng là Ngoại Li. Li hoả, Khôn địa, nên tên quẻ đọc bằng Hoả Địa Tấn.
TỰ QUÁI
Tự quái: Vật bất khả dĩ chung tráng, cố thụ chi dĩ Tấn, Tấn giả tiến dã.
序卦: 物不可以久壯, 故受之以晉, 晉者進也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đại Tráng tiếp lấy quẻ Tấn là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Đại Tráng, vật lí không lẽ đến tráng mà thôi. Hễ đã tráng thịnh thời tất nhiên tiến lên nên sau quẻ Đại Tráng, tiếp lấy quẻ Tấn. Tấn, nghĩa là tiến lên.
Theo về tượng quẻ, Li ở trên Khôn, tượng là mặt trời đã mọc lên trên đất. Mặt trời lên khỏi đất, càng lên cao càng thêm sáng, tượng như thế là tấn mạnh lắm nên tên quẻ đặt tên bằng Tấn.
SOÁN TỪ
Tấn, khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
晉, 康侯用锡馬蕃庶, 書日三接.
Tên quẻ này là quẻ Tấn, có nghĩa là tấn thịnh. Theo tượng quẻ thời Li minh ở trên. Khôn thuận ở dưới. Thế là xử ở đời Tấn thịnh. Người trên thời minh, người dưới thời thuận, quân thần tương đắc, như trong nước có một vị khang hầu là một bậc có tài giúp nước an dân nên vị quốc trưởng hết lòng tín nhậm, ân hậu lẽ sùng, trên dưới đồng tâm với nhau, dắt người trong nước lên con đường tấn thịnh nên nói rằng: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
Khang nghĩa là yên; khang hầu, nghĩa là ông hầu có tài an được nước; phồn thứ, nghĩa là đông nhiều; tích, nghĩa là cho; tích mã phồn thứ là ban thưởng cho người vừa đông vừa nhiều là ơn rất hậu đó vậy; trú nhật là thuộc về ban ngày; trú nhật tam tiếp là một ngày mà đến ba lần tiếp rước là lễ đại rất trọng vọng đó vậy. Quái từ ở đây không nói những chữ: hanh, cát, lị là cớ sao? Vì trong chữ Tấn đã ngậm hết ý hanh, cát, lị rồi.
Thời đại đã vào lúc Tấn thịnh, còn phải nói hanh, cát, lị làm gì nữa, chỉ nói hiến tài giúp nước, vua chúa trọng hiển thần thời thấy được cái đạo nhân làm nên Tấn, không cần phải nói kết quả.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Tấn, tiến dã. Minh xuất địa thượng, thuận nhi lệ hồ đại minh, nhu tiến nhi thượng hành, thị dĩ khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp dã.
彖曰: 晉進也, 明出地上, 順而麗乎大明, 柔進而上行, 是以康侯用錫馬蕃庶, 晝日三接也.
Soán viết: Tấn, tiến dã.
Đây là thích nghĩa tên quẻ. Tấn, nghĩa là tiến lên vậy.
Minh xuất địa thượng, thuận nhi lệ hồ đại minh, nhu tiến nhi thượng hành, thị dĩ khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp dã.
Mặt trời mọc ra khỏi đất là đức sáng soi dọi khắp thế giới, cảnh tượng rất vẻ vang. Người ở dưới có đức có thuận mà dựa vào bậc đại minh (Đại minh là một vị quốc trưởng có đức thánh minh).
Kính Thư nói rằng: Nguyên thủ minh tai là thế. Trong quẻ có Lục Ngũ, nguyên hào giữa quẻ Càn biến làm hào nhu quẻ Tấn mà đi lên, ở vào địa vị Ngũ chính là địa vị quốc trưởng. Đủ các tượng ấy thời là có vị hầu yên nước, yên dân mà được vị nguyên thủ hết lòng kính lễ vậy, nên nói rằng: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Minh xuất địa thượng, Tấn. Quân tử dĩ tự chiếu minh đức.
象曰: 明出地上, 晉. 君子以自眧明德.
Chất sáng của mặt trời, tấn không bao giờ tắt, nhưng vì trái địa cầu che mất mặt trời mà buổi đêm không thấy được tia sáng; đức sáng của lòng người vẫn không bao giờ tắt, nhưng vì vật dục che lấp nên không thấy rõ được ánh sáng. Quân tử xem tượng quẻ Tấn mà biết được đức minh vẫn sáng như mặt trời, duy phải ngăn cấm vật dục, khiến cho tự mình làm sáng suốt đức minh, cũng in như minh xuất địa thượng thời đức minh càng ngày càng tấn mãi.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện trong Dịch, duy quẻ Càn, quẻ Tấn có chữ tự, nghĩa là giữa bản thân làm lấy. Bắt chước Càn mà tự cường bất túc là công phu học của quân tử mà thuộc về phần trí tri, phần hành tất phải kiện được như thiên, phần tri tất phải minh được như nhật, hai việc đó tất tịnh tấn với nhau thời năng sự của quân tử mới là viên mãn, nhưng việc đó không phải ỷ lại vào người ngoài mà được đâu nên Tượng Truyện nói chữ tự.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Tấn như, tồi như, trinh cát, võng phu, dũ, vô cựu.
初六: 晉如, 摧如, 貞吉, 罔孚, 裕, 無咎.
Sơ Lục bản chất âm nhu mà địa vị ở dưới hết quẻ Tấn. Kẻ ứng với Sơ là Tứ lại bất trung chính, mình đã hù hạ mà gặp bạn lại không ra gì nên muốn tấn lên mà bị ngăn chẹt. Người mà gặp hoàn cảnh như thế thời nên thế nào? Duy kiên cố giữ lấy đạo chính thời kết quả cũng được tốt lành.
Tuy nhiên, chính hay không chính là quyền tại mình; tin hay không tin là quyền tại người. Nên cũng có khi mình đã chính mà người chưa tin (Võng phu: có người không tin mình).
Nếu tiểu nhân mà gặp lúc đó, nóng nảy chạy vậy để cầu người tin, hoặc đến nỗi đổi lòng biến tiết, tất nhiên có lỗi. Duy quân tử xử hoàn cảnh ấy thời tin hay không tin thây kệ người, mình cứ khoan thai thong thả, ra sức tự tu thân, như thế thời không tội lỗi.
PHỤ CHÚ: Mạnh Tử có nói: Ái nhân bất thân, phản kì nhân; trị nhân bất trị phản kì tri 愛人不 親, 反其仁; 治人不治, 反其智, nghĩa là ta yêu người mà người không thân ta thời ta trở lại trách đức nhân của ta; ta trị người mà người không chịu trị thời ta trở lại trách đức trí của ta.
Đức Khổng Tử có nói rằng: Nhân bất tri nhi bất uẩn, nghĩa là võng phu, dũ.
Tượng viết: Tấn như, tồi như, độc hành chính dã, dũ vô cựu, vị thụ mệnh dã.
象曰: 晉如, 摧如, 獨行正也; 裕无咎, 未受命也.
Người ta ở đời, trong một thời gian đầu, Tấn cũng chẳng lấy gì làm vui, dầu chưa Tấn cũng chẳng lấy gì làm buồn, duy một mình làm đạo chính mới là quân tử. Huống hồ Sơ Lục ở vào vị dưới hết, mệnh lệnh quân thủ của triều đình mình chưa nhận chịu bao giờ thời lại càng thung dụng tự tại lắm.
2. Lục Nhị: Tấn như, sầu như, trinh cát, thụ tư giới phúc vu kì vương mẫu.
六二: 晉如, 愁如, 貞吉, 受兹介福于其王母.
Lục Nhị có đức trung chính, đáng lẽ Tấn được, nhưng vì ở trên không có người ứng viện với mình, chỉ mình tự tấn lấy thời cũng có ý khó khăn, nên lúc tấn mà không khỏi lòng riêng rầu rĩ, nghĩa là muốn tấn mà không lấy gì làm thuận thích.
Tuy nhiên, Nhị sẵn có đức trung chính, chắc chẳng bao lâu danh vị cũng phải đến mình, chỉ duy lo giữ lấy đạo chính thời được cát. Khi cơ hội tốt đến rồi thời bạn đồng đức với Nhị là Lục Ngũ. Ngũ ở địa vị nguyên thủ mà có đức đại minh, tất cần đến người đồng đức là Nhị mà đem vị lộc trao cho. Nhị đến lúc bấy giờ, in như người cháu đích tôn, đội nhờ được phúc lớn ở bà tổ mình vậy. Giới, nghĩa là lớn, vương mẫu, nghĩa là tổ mẫu là người đẻ ra cha mình. Quẻ này thời chỉ vào hào Lục Ngũ.
Tượng viết: Thụ tư giới phúc, dĩ trung chính dã.
象曰: 受兹介福, 以中正也.
Người ta làm điều phải chẳng lo gì không được phúc, nên đã có đức trung chính như Lục Nhị này tất nhiên có ngày thụ tư giới phúc. Tư là đại danh từ, nghĩa là ấy chịu được phúc lớn ấy là vì có đức trung chính đó vậy.
3. Lục Tam: Chúng doãn, hối vong.
六三: 衆允, 悔亡.
Hào Lục ở vị Tam, theo như lệ quẻ khác là bất trung chính. Đã bất chính lại bất trung thời đáng lẽ là hữu hối. Duy ở thì Tấn, Tam âm ở dưới sẵn đồng lòng muốn Tấn mà Lục Tam lại ở trên hết thể Khôn thuận, nhị âm ở dưới đểu đồng chí với Tam, tin nhau dắt nhau mà lên, thuận tòng với một bậc đại minh, ấy là chúng doãn.
Chúng nghĩa là đại đa số nhân; doãn nghĩa là tín cẩn. Đại đa số nhân đã tín cẩn thời có việc hối gì mà không tiêu một nửa đâu. Người đời xưa có nói rằng: Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi, nghĩa là: Mưu việc theo lòng chúng thời hợp lòng trời. Tả Truyện có câu rằng: Dữ chúng đồng dục giả tế, nghĩa là với quần chúng đồng một lòng muốn cả thời việc tất nên. Tế nghĩa là nên, cũng có nghĩa là chúng doãn, hối vong vậy.
Tượng viết: Chúng doãn chi chí, thượng hành dã.
象曰: 衆允之志, 上行也.
Chí ý của Lục Tam mà được chúng doãn là vì ba âm đồng một lòng với nhau thảy muốn tấn lên đó vậy.
4. Cửu Tứ: Tấn như, thạch thử, trinh lệ.
九四: 晉如, 鼦鼠, 貞麗.
Hào Cửu ở vị Tứ, địa vị vẫn đã không đúng mà huống gì ở trên Tam, bầy âm ở dưới mình họ dắt nhau tịnh tấn, thanh thế đáng ghê mà Tứ này bất chính bất trung, dám ngồi ngôi cao trên họ, đã không lòng thối nhượng thời phải sợ tai họa mất ngôi, tham ăn mà lại sợ người, trong đời Tấn mà tấn một cách như con chuột đồng.
Chuột đồng tính tham ăn mà hay sợ người, Tứ cũng in như nó. Nếu Tứ trung đồ biết cải quá tránh ngôi thời đương còn được an ổn. Nhưng Tứ có biết thế đâu, cứ giữ chặt nết hư của mình, chắc nguy tới nơi.
Chữ trinh ở đây chỉ có nghĩa trinh là bền giữ, không phải nghĩa trinh là chính.
Tượng viết: Thạch thử trinh lệ, vị bất đáng dã.
象曰: 鼦鼠貞利, 位不當也.
Cửu Tứ vẫn là người bất chính mà trộm ở vị cao, thiệt là đức bất xứng kì vị. Vị Tứ đã không đáng thời nguy là phải rồi nên Hào từ nói rằng thạch thử trinh lệ.
5. Lục Ngũ: Hối vong thất đắc vật tuất, vãng cát, vô bất lị.
六五: 悔亡, 失得勿恤, 往吉, 無不利.
Lục Ngũ làm chủ cho quẻ Tấn, có đức đại minh mà lại quần âm ở dưới, thảy thuận phụ với, ở thì Tấn mà lại nhiều người đồng đức với mình làm việc gì chắc cũng phải nên, nghĩa là không việc gì phải ăn năn.
Tuy nhiên, Lục Ngũ là âm nhu, ở vào thì Tấn, cảnh ngộ quá chừng sung sướng, e có lòng tham đắc mà hoạn thất.
Hễ thấy đạo lí đã đúng, cơ hội lại thuận thời cứ thẳng tay làm ngay. Thất bại rư? Thành công rư? Chớ quá lo gì. Thất nghĩa là mất lợi; đắc, nghĩa là được công. Thất đắc, vật tuất có ý như ta thường nói may rủi thây kệ, mà sách xưa cũng có chữ thành bại bất kế 成敗不計. Nếu đã có đức đại minh mà lại có lòng định tĩnh như thế thời tấn hành chắc được tốt, không việc gì là chẳng thuận lị.
Tượng viết: Thất đắc vật tuất, vãng hữu khánh dã.
象曰: 失得勿恤, 往有慶也.
Có đức đại minh như Lục Ngũ quần hạ tất thảy thuận tòng. Nếu lại hay quên hết tư tâm mà thất đắc vật tuất thời tấn lên chẳng những đã hối vong mà lại có hạnh phúc nữa kia.
PHỤ CHÚ: Chữ tuất như nghĩa chữ ưu, nhưng vật tuất thời có hai nghĩa: Một là bất tất ưu, Cửu Tam quẻ Thái, Cửu Ngũ quẻ Gia Nhân, Sơ Lục quẻ Tụy, thảy là thuộc về nghĩa ấy, vật tuất nghĩa là bất tất quá lo. Lại một nghĩa nữa là bất đương ưu, Lục Ngũ quẻ Tấn này thuộc về nghĩa ấy, vật tuất chỉ là không nên lo.
6. Thượng Cửu: Tấn kì giốc, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cựu, trinh lẫn.
上九: 晉其角, 維用伐邑, 厲, 吉, 無咎, 貞吝.
Thượng Cửu ở trên quẻ, bản chất đã dương cương mà lại ở cuối cùng quẻ, chính là cương chi cực mà cũng tấn chi cực. Cương cực e không khỏi mắc lỗi bằng hung mạnh, tấn cực e không khỏi mắc vạ bằng đổ bể, ở vào thời đại Tấn mà quá cương, nhuệ tấn như thế có khác gì loài muông mạnh tấn mà chỉ tấn bằng sừng, nên thủ tượng bằng "Tấn kì giốc". Giốc là một giống cứng ở trên đầu. Hào Thượng Cửu ở trên hết quẻ nên thủ tượng bằng giốc, cương cấp quá như hào Thượng thời còn làm được việc gì lớn đâu, chỉ duy lo tự trì lấy phần riêng của mình mà thôi. Tỉ như: Học trò thời chỉ vừa dạy riêng con em của mình làm quan thời chỉ vừa dạy bộ thuộc riêng của mình mà dầu người có quyền trị nước thời cũng chỉ vừa lo trừng trị những ấp riêng của mình.
Như thế thời dầu có nguy nữa nhưng kết quả cũng tốt lành mà không tội lỗi. Bởi vì cách cương cực, tấn cực đem ra trì ngoại thời vẫn không xong, nhưng đem vào trì nội thời lại rất đúng.
Tuy nhiên, ở về thời đại Tấn, chính là thì khả đại hữu vi mà vì tài chất hào Thượng, té ra chỉ vừa làm việc nhỏ mọn mà thôi. Như thế thời tuy đắc chính cũng đáng xấu thẹn.
Tượng viết: Duy dụng phạt ấp, đạo vị quang dã.
象曰: 維用伐邑, 道未光也.
Cảnh tượng thì Tấn chính như mặt trời đương lên mà vì Thượng Cửu thất ở quá cương, cương minh đến lúc cuối cùng, không khỏi soi dọi đến thiên hạ, chỉ dùng vừa phạt ấp mà thôi, tiếc cho đạo Tấn chưa lấy gì làm sáng lớn vậy.
36. QUÉ ĐỊA HÓA MINH DI
Khôn trên; Ly dưới
Quẻ này là quẻ Địa Hỏa Minh Di.
Li hạ cũng là Nội Li, Khôn thượng cũng là Ngoại Khôn. Khôn địa, Li hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Địa Hồa Minh Di.
TỰ QUÁI
Tự quái: Tấn giả tiến dã, tiến tất hữu sở thương, cố thụ chi dĩ Minh Di, Di giả thương dã.
序卦: 晉者進也, 進必有所傷, 故受之以明夷, 夷者傷也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tấn tiếp lấy quẻ Minh Di là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Tấn; Tấn, nghĩa là tấn lên, đã tấn lên tất cũng có chốn thương hại, nên sau quẻ Tấn tiếp lấy quẻ Minh Di. Di nghĩa là đau. Hễ cứ Tấn mãi, tất cũng có bị thương mà đau. Vì thế mà gọi bằng Minh Di.
Theo về thể quẻ, quẻ Tấn đảo ngược lại thành quẻ Minh Di. Mặt trời mọc ở trên đất là Tấn. Bây giờ Khôn ở trên, Li ở dưới thời là mặt trời lặn vào dưới đất. Nguyên trước vẫn minh mà bây giờ minh đã bị thương thời gọi bằng Minh Di.
SOÁN TỪ
Minh Di, lị gian
trinh. 明夷, 利艱貞.
Quẻ Minh Di tượng là thời đại đương ám, quân tử xử thời đại này thiệt là khó khăn, duy bảo thủ lấy đức chính của mình, gặp hoạn nạn đến bao nhiêu mặc dầu mà thái độ mình in như xử cảnh bình thường.
Thì tuy biến mà đạo thời bất biến nên nói rằng lị gian trinh (Gian: buổi khó khăn; trinh: giữ lấy chính). Quân tử được như thế, tất là lị.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Minh nhập địa trung, Minh Di. Nội văn minh, nhi ngoại nhu thuận, dĩ mông đại nạn, Văn Vương dĩ chi. Lị gian trinh, hối kì minh dã, nội nạn nhi năng chính kì chí, Ky Tử dĩ chi.
彖曰: 明入地中, 明夷. 内文明而外柔順, 以蒙大難, 文王以之. 利艱貞, 晦其明也, 内難而能 正其志,
萁子以之.
Soán viết: Minh nhập địa trung, Minh Di.
Nội thể Li, Li vi nhật; Ngoại thể Khôn, Khôn vi địa. Li nhật ở dưới Khôn địa, thế là vừng sáng sụp vào trong đất nên đặt tên quẻ bằng Minh Di. Chữ Di cũng có nghĩa là túi.
Nội văn minh, nhi ngoại nhu thuận, dĩ mông đại nạn, Văn Vương dĩ chi.
Đây là thích nghĩa toàn quái. Nội Li trong có tượng văn minh, Ngoại Khôn ở ngoài có tượng nhu thuận. Đức văn minh chứa trữ trong mà tính nhu thuận che đậy ở ngoài, dùng đạo ấy mà chống chọi với đời hoạn nạn lớn, ngày xưa vua Văn Vương đã từng làm như thế.
Gặp đời vua Trụ là một ông vua rất vô đạo, thấy chư hầu quy phục với Văn Vương, bắt Văn Vương giam ở ngục Dũ Lí, nhưng vì Văn Vương làm một cách rất nhu thuận, Trụ không thể giết được. Văn Vương nhân ở ngục chín năm mà diễn thành Dịch soán, kết quả Trụ phải tha Văn Vương, đến đời con ngài là Võ Vương mới diệt Trụ.
Đó mới thiệt là: Nội văn minh, nhi ngoại nhu thuận, dĩ mông đại nạn. Mông, nghĩa là chịu là đội mà cũng có ý là chống chọi.
PHỤ CHÚ: Nội văn minh, nhi ngoại nhu thuận, sáu chữ ấy, chúng ta nên hết sức thể nhận, văn minh mà ở bề trong là bảo tồn lấy chân tướng của mình, nhu thuận mà ở bề ngoài là để đối phó với uy quyền của giặc.
Trái lại, văn minh mà lòe loẹt ra bề ngoài thời không phải là văn minh thật, nhu thuận mà mềm chín ở bề trong thời còn gì là nhân nhân chí sĩ.
Lại còn có hạng người, nội chưa chắc đã có văn minh mà ngoại lại không chịu làm nhu thuận thời kết quả có hai lỗi xấu: Một là hạng người hiếu dũng tật bần, hai là hạng người bạo hổ bằng hà tử nhi vô hối 暴虎馮河, 死而無悔, thảy là vô dụng cả.
Lị gian trinh, hối kì minh dã, nội nạn nhi năng chính kì chí, Ky Tử dĩ chi.
Ở về thì Minh Di chỉ Lị bằng một cách gian trinh, nghĩa là giấu biệt cái chất sáng của mình, cố ý không cho người ngoài biết mình là minh. Chữ hối là động từ, chữ kì là đại danh từ, chữ minh là danh từ.
Mình vẫn minh triết mà cố công che giấu, thế là hối kì minh, hoàn cảnh đương trong hoạn nạn mà xử một cách rất khôn khéo, đạo chính mình vẫn giữ chặt mà hoàn cảnh không đánh đổ được chí mình, ngày xưa thầy Ky Tử từng làm như thế.
Ky Tử là một vị hoàng thân của Trụ, Trụ quá vô đạo, Ky Tử can ngăn không xong, nước mất nhà tan e chỉ rày mai.
Ky Tử vì đại nghĩa của mình nên dữ quốc câu vong mà lại mong có cơ hội còn ngày tái tạo. Đương lúc đó, ông Tĩ Can chịu chết với Trụ, ông Vi Tử bỏ nước ra đi. Duy ông Ky Tử chết không chết, đi không đi, giả làm một người điên cuồng, hủy thân hoàng thân mà làm con đòi nhà người ta.
Tổi khí Thương mất, Chu lên, Võ Vương quá quý trọng Ky Tử, mời thầy ra, học sách Hồng Phạm với thầy, nhưng thầy cố không chịu làm tôi nhà Chu. Lúc đó, nước Triều Tiên vẫn còn là một hòn cù lao ở giữa biển. Võ Vương mới cho thầy ra ở đó, tự lập làm một nước riêng, trọn đời nhà Chu, Triều Tiên vẫn riêng một nước, hiện nay, nước ấy còn nhận thầy Ky Tử làm quốc tổ. Lịch sử Ky Tử như thế, thiệt là nội nạn nhi năng chính kì chí đó vậy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Minh
nhập địa trung, Minh Di. Quân tử dĩ lị chúng, dụng hối nhi minh. 象曰: 明入地中, 明夷, 君子以蔽泉, 用晦而明.
Mặt trời lặn vào dưới đất là tượng quẻ Minh Di, quân tử thể vào tượng ấy, dùng mà thống ngự quần chúng, độ lượng rất là khoan durg, khí tượng rất là hòa nhã, bỏ ngơ những việc tẳn mẳn, dung nạp những món ti ô, vẫn rất minh sát mà như cách hồ đồ, khiến cho người không kiêng né đức minh của mình mà bao nhiêu vật lí nhân tình tất thảy trình lộ cho mình biết hết, dùng một cách làm lơ, kì thực chốn nào cũng soi xét tới. Thế nghĩa là dụng hối nhi minh.
Dòm thoáng qua thời như hình tối mờ mà kì thực thời minh rất mực. Như thế thời đức minh của mình, có gì phải lo đến bị thương nữa đâu.
PHỤ CHÚ: Minh xuất địa thượng như quẻ Tấn thời quân tử dụng lấy mà tự chiêu minh đức. Bởi vì trì kỉ thì cần cho hết sức sáng. Minh nhập địa trung như quẻ Minh Di thời quân tử dụng lấy mà lị chúng, dụng hối nhi minh. Bởi vì trì người thời không nên quá chừng minh.
Lão Tử có nói rằng: Kì chính sát, tắc kì dân khốn 其政察, 則其民困, nghĩa là chính trị soi xét quá rạch ròi thời nhân dân lúc đó tất phải khốn. Vậy nên dụng hối nhi minh là một cách lị chúng rất hay của quân tử đó vậy.
Câu "hối kì minh" với câu "dụng hối nhi minh" chỉ thay đổi có hai chữ mà có hai thủ đoạn rất hay. Hối kì minh là thủ đoạn của thánh hiền gặp hồi hoạn nạn. Hối nhi minh là thủ đoạn của thánh hiền khi được quyền thống ngự thiên hạ. Hai cách đó rặt là diệu dụng của Dịch.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Minh Di vu phi, thùy kì dực, quân tử vu hành, tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn.
初九: 明夷于飛, 垂其翼, 君子于行, 三日不食, 有攸往, 主人有言.
Ở về thì Minh Di là một thế giới hắc ám, hễ người nào có chất minh, tất nhiên bị thương. Sơ Cửu có đức dương cương, chính là một người có chất minh trong thời đại ấy. Hiền thời bị người ghét; tài thời bị ghen, bảo rằng không bị thương thiệt là khó lắm. Tượng như con chim toan bay mà cánh bị đau phải sa xuống.
Nhưng đó là hạng người không kiến cơ mà đến nỗi thế, chứ như quân tử thời thấy được cơ vi ở lúc chưa rõ, thân chưa bị hại mà gấp lo mang gói xéo ngay. Đương lúc cất gói ra đi e đến nỗi trong túi không xu mà phải nhịn đói đến ba ngày.
Chẳng những thế mà lại bước chân vào đâu thời những người chủ cũ của mình, quay lại bĩu môi mà cười rằng: Anh sao quá nhác như thế? Miệng đời kinh quái, trách vụng chê hèn mà có biết đâu khi đại cuộc rõ ràng, họa cơ hiển hiện thời mới biết đạo minh triết của quân tử. Những người xử vào địa vị Sơ Cửu như ông Mục Công bỏ nước Sở mà khỏi mắc họa như Thân Công, Bạch Công; ông Phạm Lãi bỏ nước Việt rông chơi Ngũ Hồ để tránh vạ lây như Đại phu Chủng, chính như nghĩa hào này. Vu nghĩa như chữ vãng.
Tượng viết: Quân tử vu hành nghĩa bất thực dã.
象曰: 君子于行, 義不食也.
Quân tử thấy sự cơ đáng đi mà đi, cốt cho đúng, nghĩa là hay, dầu chẳng ăn cũng đành vậy.
2. Lục Nhị: Minh Di, di vu tả cổ, dụng chững, mã tráng, cát.
六二: 明夷, 夷于左股, 用拯, 馬狀吉.
Lục Nhị làm chủ cho Nội Li là một bậc người có tài chí minh, vả lại đắc trung, đắc chính, thiệt là một vị quân tử.
Nhưng đau đớn thay! Đời đương hôn ám, chúng túy, độc tỉnh 衆醉獨醒, có thể nào khỏi bị thương ít nhiều, tài liệu để hành động của mình vẫn có bị món tiểu nhân cắt xẻo chút đỉnh. Tượng như thân một người vẫn là mạnh mẽ mà trái vế bên tả có bị thương.
Tuy nhiên, chỉ bị thương ở trái vế bên tả, đã đến nỗi gì không đi được đâu. Hễ đã người quân tử, đức đã thịnh mà tài lại cao, cái thủ đoạn cứu thương miễn họa chắc cũng chóng lành, tượng như con ngựa mạnh bạo, đã cất đến bốn vó thời không ai theo kịp, ở vào thì Minh Di mà kết quả vô tai hại, chẳng phải là tốt lành hay sao.
PHỤ CHÚ: Di vu tả cổ là thí dụ bằng bị thương còn nhẹ; mã tráng là tỉ dụ bằng tránh họa rất mau. Hào Sơ nói "thùy dực" là hãm hại cái tài liệu bay của mình, hào Nhị nói "tả cổ" là hãm hại cái tài liệu đi của mình, nhưng một bên thời vu hành, một bên thời mã tráng là đạo minh triết, bản thân in nhau.
Tượng viết: Lục Nhị chi cát, thuận dĩ tắc dã.
象曰: 六二之吉, 順以則也.
Việc tốt lành của Lục Nhị là bởi vì sẵn có đức trung chính, tuy xử vào nghịch cảnh mà vẫn cư thuận, vả lại có pháp tắc còn sợ gì Minh Di nữa đâu.
3. Cửu Tam: Minh Di, vu Nam thú, đắc kì đại thủ, bất khả tật trinh.
九三: 明夷, 于南狩, 得其大首, 不可疾貞.
Cửu Tam ở trên hết Li là minh chi cực, hào cửu vị Tam lại là cương chi cực, mà ứng với Thượng Lục ở trên hết thể Khôn là ám chi cực.
Lấy một người minh chi cực mà lại ở dưới, đụng phải một bác ám chi cực mà lại ở trên, có thể nào khỏi xung đột được. Huống hồi theo về Dịch lí, hễ cùng tắc biến, ở thì Minh Di thượng đã cùng cao cực tôn mà lại một người hôn ám, chẳng bị thương vì người đánh đổ sao được, nhưng đánh đổ thượng là ai? Tất lại là Cửu Tam. Cửu Tam có tài dương cương, có đức văn minh, lại ở vị trên hết nội thể, Tam cứ ráng sức mà tiên tiến chụp cổ tên tội khôi kia.
Nam nghĩa là mặt đường trước; thú nghĩa là đi săn; Nam thú, tỉ dụ bằng việc khởi binh trừ loạn; đại thủ là tên đầu bầy lớn; Đắc kì đại thủ là bắt sống được tên tội khôi.
Tuy nhiên, anh hùng tạo thời thế, cũng phải rình đủ cơ hội, lựa đủ kế mưu, có cấp cũng phải có hoãn, có cương cũng phải có nhu.
Vì Tam là trùng cương bất trung, e có khi nóng nảy quá tay mà hỏng việc chăng nên thánh nhân lại răn cho rằng: Bất khả tật trinh, ý nói rằng: Công việc Tam làm đó, vẫn là trinh chính. Nhưng không nên quá chừng gấp, phải lựa cơ thế cho đúng mới hay (Tật nghĩa là quá gấp, cũng có nghĩa là quá nóng nảy).
PHỤ CHÚ: Hào từ này in như việc vua Lê Thái Tổ ở nước ta, chém được Liễu Thăng, bắt được Hoàng Thông. Đó là Nam thú đắc kì đại thủ, nhưng công việc trải mười lăm năm mới xong. Đó là bất khả tật trinh.
Người sinh ở đời Minh Di, thiệt trông mong nó như Cửu Tam lắm.
Tượng viết: Nam thú chi chí, nãi đại đắc dã.
象曰: 南狩志之, 乃大得也.
Lấy một người chí minh ở dưới trừ khử được một người chí ám ở trên, chí ý của người ấy, há phải vị nhất thân, nhất gia mà thôi. Vì sinh linh tạo phúc, vì thiên hạ trữ tàng hoài bão lớn biết chừng nào. Bây giờ Nam thú mà chụp được tội khôi, công mình vẫn thành mà thiên hạ đội phúc, như thế mới là đại đắc chí.
Nam thú chi chí nghĩa là chí Tam sở dĩ Nam thú; đại đắc nghĩa là chí không phải nhỏ hẹp đâu.
4. Lục Tứ: Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.
六四: 入于左腹, 獲明夷之心, 于出門庭.
Hào Lục cư Tứ, âm cư âm, vẫn là đắc chính. Nhưng vì bản chất âm nhu, mà lại xử vào thời đại Minh Di, địa vị Tứ lại bán Thượng lạc Hạ nên bị người ta phỉnh lừa mà sụp vào một đám tối tăm. Vượt Li mà sang Khôn tượng là bước chân vào chốn hôn ám nên có tượng là nhập vu tả phúc. Tả phúc là bụng về phía tay trái là một chốn u ám ở trong thân thể người; vào ở bụng phía trái là tỉ như sụp vào chốn kín tối. Hoàn cảnh Tứ như thế, thiệt là khốn nạn.
Nhưng may thay! Tứ vẫn là chính nhân mà lại mới bắt đầu bước vào cảnh ám thời rút chân ra khỏi cảnh ấy cũng còn có thể tự do được. Cái tấm lòng ở đời Minh Di chỉ có bỏ quách nhà mà ra đi là thích ý lắm. Vu xuất môn đình là ý phải tránh cho xa, từ môn đình trở vào, thôi thây kệ nó.
Hoạch minh di chi tâm nghĩa là thỏa thích lòng mình ở đời Minh Di.
Hào từ này đúng được cảnh của ông Chu Thuấn Thủy, bỏ nước Tàu mà đi sang Nhật Bản, ông Mạc Ngọc Luyến, bỏ nước ta mà sang Long Châu, cũng là ý ấy.
Tượng viết: Nhập vu tả phúc, hoạch tâm ý dã.
象曰: 入于左腹, 獲心意也.
Tứ tuy khi trước nhập vu tả phúc, nhưng sau vu xuất môn đình, kết quả tránh được chốn tối mà tìm được lối sáng, cũng là hoạch tâm ý vậy.
5. Lục Ngũ: Ky Tử chi Minh Di, lị trinh.
六五: 箕子之明夷, 利貞.
Theo như thông lệ, trong mỗi quẻ thời hào Ngũ là vị chí tôn, nhưng nghĩa Dịch tùy thì biến đổi. Ở vào quẻ Minh Di thời hào Thượng Lục ở trên hết thể Khôn mà lại cao tột nhất ở đời Minh Di nên Thượng Lục mới là Minh Di chi chủ.
Ngũ thiết cận với Thượng cũng in như Ky Tử thiết cận với Trụ Vương, lấy một người có đức Trung mà ở gần với quân trưởng của mình là một người chí ám, tâm trung thành mà xử vào nghịch cảnh.
Nhưng Ky Tử lấy lòng đau nước thương nhà, dương cuồng vi nô. Đã không bị Trụ Vương giết mà lại thỉ chung không chịu làm tôi với nhà Chu. Một phương diện thời giữ được tấm thân trong sạch, một phương diện thời bảo tồn được nòi giống cho nhà Thương.
Cách Minh Di của thầy Ky Tử vẫn trinh chính mà cũng không phải là bất lị, ai xử địa vị Lục Ngũ này thảy nên như thế.
Tượng viết: Ky Tử chi trinh, minh bất khả tức dã.
象曰: 箕子之員, 明不可息也.
Có được đạo trinh chính như ông Ky Tử thời đức minh mới không thể tắc được vậy. Ky Tử phía ngoài tuy giả cuồng mà tinh thần phía trong vẫn định tĩnh, có bao giờ tắt được đức sáng đâu (Tức nghĩa là tắt).
PHỤ CHÚ: Xưa nay bầu tâm sự của ông Ky Tử chỉ duy Đức Khổng Tử mới khen bằng người nhân mà ngài chưa phát minh cho thấu triệt.
Đến bài Ky Tử Miếu Bi Văn của ông Liễu Tông Nguyên mới nói được rõ ràng minh bạch, tiện dịch ra đây, cho bổ túc nghĩa hào tượng.
"Ông Ky Tử vì cớ sao không đi mà cũng không chết? Vi Tử bỏ đi vẫn là người trí, Tỉ Can tử tiết vẫn là người trung. Duy Ky Tử giả người cuồng mà sống trơ ngồi đó, chẳng phải tham sinh quý tử hay sao?
Không! không! Tâm sự của thánh hiền há phải óc phường lưu tục mà phán đoán ra được đâu. Xin thử nghĩ: Lúc bây giờ vận mệnh nhà Thương còn chưa hết, công nghiệp nhà Chu còn chưa thành. Văn Vương còn giữ đạo làm tôi, âu dân còn nhiều người luyến chúa mà trung thần như Tỉ Can thời đã chết quách, thân thần như Vi Tử thời đã bỏ đi. Nếu một mai lòng trời tránh họa, tổ tiên nhà Thương còn có anh linh, xui khiến lão Trụ kia vô cố chết trước, con Trụ là Võ Canh tất nhiên nối ngôi, hậu chúa biết cán việc cổ cho cha, duy thần duy dân của nhà Thương, trông mong có người chỉnh đốn. Nếu một người quốc thân hiền thánh như Ky Tử mà cũng theo gót Tỉ Can, Vi Tử thời ngọn lửa tàn còn hoi hóp đó, toan cậy vào ai mà thổi nhen bây giờ.
Thầy Ky Tử sở dĩ nhẫn nhục dương cuồng, mong hãy tồn thân, sẽ có ngày khôi phục nước cũ, chẳng phải là đại trung đại trí đại dùng đại nhân hay sao?
Quẻ Minh Di hai lần nhắc đến Ky Tử, thiệt không phải tùy tiện mà viết ra đâu.
6. Thượng Lục: Bất minh hối, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.
上六: 不明, 晦, 初登于天, 後入于地.
Thượng Lục ở cuối cùng thì Minh Di mà lại chính là làm chủ cho đời Minh Di, vả lại ở cuối cùng thể Khôn, chính là hôn ám chi cực, minh bị thương đã đến thế, còn gì là minh nữa đâu, thiệt là chẳng thấy sáng chỉ thấy tối mà thôi.
Theo về thể hào, Thượng là cao tốt mực; theo về đức hào, Thượng lại là tối tột mực, tượng như lúc đầu vẫn lên cao tột trời mà sau thời sụp xuống đất.
PHỤ CHÚ: Hào từ này in như vua Đinh Tiên Hoàng ở nước ta, lúc đầu đánh được thập nhị tướng quân lên làm vua một nước, chẳng phải là sở đăng vu thiên hay sao? Đến lúc sau hung bạo, hoang dâm, tín dụng gian thần, lập năm hoàng hậu, chẳng bao lâu Đinh vong, chẳng phải là hậu nhập vu địa hay sao?
Tượng viết: Sơ đăng vu thiên, chiếu tứ quốc dã, hậu nhập vu địa thất tắc dã.
象曰: 初登于天, 照四國也, 後入于地, 失則也.
Sơ đăng vu thiên, nghĩa là theo như vị hào Thượng thời ở vị chí cao đáng lẽ là sáng dọi khắp nước bốn phương. Hậu nhập vu địa là nói tính chất của hào Thượng hôn ám chi cực, bỏ mất hết nguyên tắc đức minh. (Chữ tắc ở đây, cũng nghĩa như chữ đạo).
PHỤ CHÚ: Lời năm hào trước, thảy có chữ Minh Di, duy đến hào Thượng thời không có chữ Minh Di, bởì vì chất Minh của năm hào trước thảy vì Thượng Lục làm cho bị thương nên thảy có chữ Minh Di. Đến hào Thượng Lục thời nó đã làm hại hết chất Minh Di của người, cuối cùng nó lại tự hại chất Minh của nó luôn, còn đâu là Minh mà phải nói Di nữa. Đó cũng là một nghĩa đặc biệt trong quẻ này.
37. QUẺ PHONG HỎA GIA NHÂN
Tốn trên; Ly dưới
Quẻ này là quẻ Phong Hỏa Gia Nhân.
Li hạ cũng là Nội Li, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn phong, Li hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Phong Hỏa Gia Nhân.
TỰ QUÁI
Tự quái: Di giả thương dã, thương ư ngoại giả tất phản ư gia, cố thụ chi dĩ Gia Nhân.
序卦: 夷者傷也, 夷於外者必反於家, 故受之以家人.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Minh Di tiếp lấy quẻ Gia Nhân là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Minh Di, nghĩa là bị thương ở ngoài; đã bị thương, tất nhiên quay lại trở về nhà. Vậy nên sau quẻ Minh Di tiếp lấy quẻ Gia Nhân.
Gia Nhân là người trong một nhà. Đạo trong nhà tất có tinh thần thuộc về cha con, nghĩa chính thuộc về vợ chồng, thứ tự thuộc về tôn ti, trưởng ấu, chính được luân lí, tròn vẹn được ân với nghĩa đó là đạo Gia Nhân; muốn xử cho đúng đạo ấy, tất phải có đức sáng ở bể trong mà hòa thuận ở bề ngoài.
Quẻ này Nội Li tượng là minh, Ngoại Tốn tượng là thuận, trong đã sáng thời xử trí không đến nỗi hồ đồ, ngoại đã thuận thời con em không ai ngỗ nghịch. Như thế thời đạo tề gia đã hoàn toàn, tề được gia rồi thời suy ra trị được quốc, bình được thiên hạ, cũng chỉ trong đạo tề gia mà mở rộng phạm vi ra nữa mà thôi nên nhân ở Nội Li, Ngoại Tốn mà đặt tên quẻ bằng Gia Nhân.
PHỤ CHÚ: Đặt tên quẻ bằng Gia Nhân, theo trên mặt chữ vẫn chỉ việc trong một nhà mà thôi. Nhưng Dịch lí bao hàm rất rộng, biến thông rất nhiều. Người ở trong một nhà thời nhà là nhà, người trong một nước thời nước là nhà; nếu kể đến cả loài người thế giới thời thiên hạ lại là nhà. Lễ Kí có câu: Thánh nhân hay lấy thiên hạ làm một nhà. Theo nghĩa đó mà suy ra thời một nước chỉ là một người trong nhà thế giới nên lại có câu rằng: Lấy cả một nước làm một người. Bàn thông cho đến lẽ ấy thời mới hợp với Dịch lí.
Nói chật lại thời một quẻ chỉ có mỗi thì, mỗi việc. Nói rộng ra thời một quẻ mà đủ cả mỗi thì mỗi việc.
Tỉ như: Quẻ Gia Nhân mà chỉ hạn định bằng việc người một nhà mà thôi, thế thời sáu mươi tư quẻ, chỉ có sáu mươi tư việc là hết chuyện, có phải lẽ biến hóa vô cùng trong Dịch đạo đâu.
SOÁN TỪ
Gia Nhân, lị nữ
trinh. 家人, 利女貞.
Gia Nhân, nghĩa là nhất gia chi nhân, đạo lí trong nhất gia, cần thứ nhất là chữ trinh mà người trong một nhà lại cần nhất là phụ nữ cho được trinh chính.
Quẻ này Li là trung nữ, Tốn là trưởng nữ, nhị nữ ở chung trong một nhà mà hào Lục Nhị làm chủ cho Nội Li, hào Lục Tứ làm chủ cho Ngoại Tốn, thảy được chính cả, hai vị nữ chủ mà thảy được chính thời chắc người trong một nhà không còn ai là bất chính nữa. Thế là đạo trì gia tốt lắm rồi, nên Quái từ nói rằng: Gia Nhân, lị nữ trinh.
PHỤ CHÚ: Nghĩa hai chữ Gia Nhân là bao bọc cả gái và trai, cả già cả trẻ mà có sao lại chỉ nói riêng về nữ trinh? Thế thời nữ trinh, nam bất trinh cũng được hay sao? Ôi! Đọc Dịch mà như thế thời không nên đọc Dịch, vì chi nói nữ trinh mà thôi, mới biết Dịch lí là rất hay.
Tòng lai, trong thiên hạ, khó chính nhất là người trong một nhà mà người trong một nhà lại khó chính nhất là phụ nữ. Muốn cho phụ nữ được chính, tất nhiên bọn con trai phải chính trước. Bây giờ bọn phụ nữ đã chính thời há lẽ bọn con trai mà bất chính được rư!
Quái từ sở dĩ chỉ nói lị nữ trinh là cốt để cho chúng ta đọc Dịch lấy ý mà suy nữa vậy.
Mà thiệt có thế. Ở trong nhà, nữ đã bất trinh thời dầu nam trinh đến bao nhiêu, cũng không thể thành gia được.
Muốn xem việc nước, trước phải xem ở việc nhà, muốn xem việc nhà, trước phải xem ở bọn phụ nữ, nghĩa ba chư lị nữ trinh thiệt là hay tuyệt.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Gia Nhân, nữ chính vị hồ nội, nam chính vi hồ ngoại, nam nữ chính, thiên địa chi đại nghĩa dã. Gia Nhân hữu nghiêm quân yên, phụ mẫu chi vị dã. Phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính, chính gia nhi thiên hạ định hĩ.
彖曰: 家人, 女正位乎内, 男正位乎外, 男女正, 天地之大義也. 家人有嚴君焉, 父母之謂也. 父父,
子子, 兄兄, 弟弟, 夫夫, 婦婦, 而家道正, 正家而天下定矣.
Soán viết: Gia Nhân, nữ chính vị hồ nội, nam chính vị hồ ngoại, nam nữ chính, thiên địa chỉ đại nghĩa dã.
Soán Truyện ở đây, lại phát minh nghĩa Quái từ cho đầy đủ hết ý tứ, người trong một nhà, tất có cả nam, cả nữ, có cả việc trong việc ngoài. Theo như thể quẻ, quẻ này hào dương ở vị Ngũ là tại ngoại, hào âm ở vị nhị là tại nội.
Lục Nhị âm cư âm vị là nữ chính vị hồ nội, Cửu Ngũ dương cư dương vị là nam chính vị hồ ngoại, nam nữ thảy giữ được đạo chính. Nam lấy việc chính mà xử trí việc ngoài, nữ lấy đạo chính mà xử trí việc trong, như thế chính là hợp với nghĩa lớn của trời đất.
Nguyên lai, có đạo Càn mới thành ra nam, có đạo Khôn mới thành ra nữ, nam nữ vẫn là đạo chung của trời đất, nhưng công trời, đất khác nhau là một bên sinh, một bên thành.
Chất nam nữ khác nhau là một bên âm, một bên dương, chỉ duy trời đất chung nhau bằng một chữ chính mới thành ra trời đất, nên Quái từ quẻ Càn, quẻ Khôn thảy có chữ trinh.
Nam nữ tất cũng phải chung nhau bằng một chữ chính mới sánh với thiên địa mà làm nên tam tài, nên Quái từ Gia Nhân chỉ cốt nhất là chữ trinh.
Trinh chỉ có nghĩa là chính mà thôi. Nam nữ mà chính cả, thế thời nam tức thiên, nữ tức địa. Tất thảy nam nữ trong đời mà được chính cả thời người tức là thiên địa mà thiên địa cũng chỉ là người.
Vậy nên nói rằng nam nữ chính, thiên địa chi đại nghĩa dã.
Gia Nhân hữu nghiêm quân yên, phụ mẫu chi vị dã.
Trên đây đã nói chung cả người một nhà, nhưng thánh nhân còn sợ người ta nhận lầm, chỉ đọc qua ba chữ nam nữ chính mà không nghĩ phương pháp làm sao mà chính, nên thánh nhân phải nói cho kĩ rằng: Tuy nói chung bằng Gia Nhân, nhưng há lẽ không trật tự hay sao? Không phép kỉ hay sao? Nếu như thế thời làm sao mà Gia Nhân chính được. Vậy nên có người tôn nghiêm để làm chủ tể cho. Người đó là ai? Chính là người làm cha mẹ trong nhà.
Thường tục người ta, thường xưng cha bằng nghiêm phụ, mẹ là từ mẫu mà chữ quân chỉ giải nghĩa là vua. Vậy thời quốc có quân mà gia không quân hay sao?
Bây giờ, đọc câu Gia Nhân hữu nghiêm quân yên, mới biết ý thánh nhân rất hay mà hậu học nếu nhận lầm thì rất dở.
Thử hỏi làm mẹ trong một nhà, nếu không nghiêm có đặng không, mẹ không nghiêm tất nhiên cưng con cái mà con cái hư, lờn thầy tớ mà thầy tớ hoại, chỉ trách vào một người làm cha có lẽ được không. Người xưa có nói mẫu chi bất nghiêm, gia chi đố dã 母之不嚴, 家之蠹也, nghĩa là làm mẹ bất nghiêm là sâu mọt cho trong nhà vậy.
Ý nghĩa chữ nghiêm chung cả phụ mẫu là hay tuyệt như thế.
Còn như chữ quân nguyên nghĩa là chủ, cùng nghĩa như chữ trưởng mà thôi, chứ cổ thánh không bao giờ đặt riêng chữ quân cho vua đâu.
Vua Thuấn, khi còn cày ở Lịch Sơn mà người ta đã gọi bằng Đô Quân. Đông Phương Sóc gọi vợ bằng tế quân thời biết rằng quân chỉ có nghĩa là chủ, người làm chủ trong một nhà thời gọi bằng gia quân. Gia quân là ai? Tức là cha mẹ. Đã làm gia quân tất phải tôn nghiêm mới được, đó là lẽ tự nhiên mà cũng là lẽ đương nhiên, nên Soán Truyện lấy hai chữ "nghiêm quân" nói chung cho cả phụ mẫu. Muốn cho những ngươi làm cha mẹ biết chức phận mình nghĩa vụ mình phải làm sao cho xứng đáng hai chữ nghiêm quân.
Công việc lớn lao không khác gì một nước, một thiên hạ, suy cho rộng há phải chỉ một nhà thôi đâu.
Phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính; chính gia, nhi thiên hạ định hĩ.
Trên kia đã nói riêng về phần phụ mẫu mà trao trách nhiệm riêng cho hai người.
Nhưng đạo lí trong một nhà, há chỉ hai người mà đủ được rư? Nên đây lại nói chung khắp thảy người trong một nhà, người trong một nhà có bao nhiêu vẫn không hạn định. Nhưng nói tóm lại, chỉ có sáu hạng người, phụ là cha, tử là con, huynh là anh, đệ là em, phu là chồng, phụ là vợ, chi cử sáu hạng người đã bao quát tất cả người trong một nhà.
Cha phải làm sao cho đúng đạo làm cha, cha đúng đạo làm cha tức là phụ phụ; con phải làm sao cho đúng đạo làm con, con đúng đạo làm con tức là tử tử; anh phải làm sao cho đúng đạo làm anh, anh đúng đạo làm anh, tức là huynh huynh; em phải làm sao cho đúng đạo làm em, em đúng đạo làm em, tức là đệ đệ; chồng phải làm sao cho đúng đạo làm chồng, chồng đúng đạo làm chồng, tức là phu phu; vợ phải làm sao cho đúng đạo làm vợ, vợ đúng đạo làm vợ, tức là phụ phụ.
Nói tắt lại, cha hết nghĩa vụ làm cha, con hết nghĩa vụ làm con, anh hết nghĩa vụ làm anh, em hết nghĩa vụ làm em, chồng hết nghĩa vụ làm chồng, vợ hết nghĩa vụ làm vợ.
Người trong một nhà, ai nấy cũng làm trọn nghĩa vụ người ấy thời đạo chính rồi; chính được một nhà xong, suy rộng cho khắp cả thiên hạ, cũng có thể bình định được hết thảy.
Chữ huynh đệ theo nghĩa thường người đời học thời chỉ học nghĩa là anh em, nhưng theo về nghĩa nguyên văn của người xưa thời gọi chị bằng nữ huynh, em gái bằng nữ đệ. Thế là hai chữ huynh đệ đã kiêm cả tỉ muội rồi, nên Quái từ đã nói lị nữ trinh, lại nói nam nữ chính, xem thế thời đủ chứng thánh nhân có bỏ sót chị em đâu.
PHỤ CHÚ: Độc giả đọc đi đọc lại lời Soán Truyện quẻ Gia Nhân mà phát sinh ra ba món tâm lí: Một là, nói việc tề gia mà nói rộng đến thiên địa chi đại nghĩa, mà đại nghĩa đó lại chỉ ở nơi nam nữ chính, chúng ta bây giờ đọc làu bốn chữ nam nữ bình quyền cơ hồ như miếng trầu, điếu thuốc mà chẳng thấy ai nhắc đến nam nữ chính, thử hỏi nam bất chính mà cố trách nữ chính, có phải là nam áp chế nữ hay không? Trái lại nữ vẫn bất chính mà cố trách nam chính không phải là nữ áp chế nam hay sao?
Anh em, chị em ta, nếu muốn nam nữ bình quyền thời xin trước bảo với nhau làm sao cho nam nữ chính, hễ đã đến khi nam nữ chính rồi thời nam nữ bình quyền dễ như chơi, không cần chúng ta phải kêu rên cho mệt.
Nếu nam chính mà nữ bất chính, hoặc giả nữ chính mà nam bất chính, hay là nam nữ thảy đều bất chính thời chẳng bao giờ nam nữ bình quyền được.
Hai là: Thánh nhân chỉ nói có mười hai chữ: phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ mà xét ra đạo lí rất công bình, ý nghĩa rất viên mãn, chẳng thiên trọng về phía nào mà cũng chẳng thiên khinh về phía nào; chẳng quá trách về phía nào mà cũng chẳng bỏ ngơ một phía nào. Giải thích cho thiệt kĩ, phụ có nên phụ thời tử mới nên tử, huynh có nên huynh thời đệ mới nên đệ, phu có nên phu thời phụ mới nên phụ, đó là một nghĩa.
Lại một nghĩa nữa; phụ phải cho nên phụ, tử phải cho nên tử, huynh phải cho nên huynh, đệ phải cho nên đệ, phu phải cho nên phu, phụ phải cho nên phụ. Theo như nghĩa ấy rất bình đẳng, ai nấy cũng gánh nổi nghĩa vụ của người ấy, ai nấy cũng được hưởng hạnh phúc của người ấy, trong một nhà tất thảy được như thế, sướng biết chừng nào.
Hai nghĩa trên kia thuộc về mặt chính. Còn một nghĩa nữa là thuộc về mặt phản. Nếu cha không nên cha là phụ bất phụ, thời trách con sao được; con không nên con, thời tử bất tử, thời trách phụ sao được; anh không nên anh là huynh bất huynh, thời trách em sao được; em không nên em là đệ bất đệ, thời trách anh sao được; chồng không nên chồng là phu bất phu, thời trách phụ sao được; vợ không nên vợ là phụ bất phụ, thời trách chồng sao được. Quả như thế tức là gia bất chính, gia đạo là trách nhiệm chung của tất thảy người trong nhà, nên thánh nhân chỉ nói có mười hai chữ mà rất công bình viên mãn như thế.
Há phải như câu đời sau nói, phụ vi tử cương, phu vi thê cương, đâu, chúng ta đọc đến câu chính gia nhi thiên hạ định, mới đọc qua nghe như hình viễn vông mà cũng tựa hồ vu khoát, chỉ vừa chính gia mà thôi, cớ gì nói luôn đến thiên hạ định.
Xin nghĩ thiệt kĩ thời mới biết câu nói ấy là rất đúng mà đạo lí trong loài người thiệt có như thế, gia với thiên hạ phạm vi tuy có rộng hẹp khác nhau, nhưng đạo lí thời chỉ có một gốc.
Tỉ như: Bức gương chiếu ảnh khi đầu mới chiếu vào gương nhỏ, chẳng qua nhỏ bằng một phân một tấc, khi đem phóng đại ra thời có thể lớn đến một tầm một trượng. Vì nguyên hình tuy rất nhỏ mà phóng đại thời quang ảnh lại rất to, nhà với thiên hạ cũng chỉ đạo lí ấy.
Bao nhiêu loài người trong thế giới, hễ người già tức là phụ, người trẻ tức là tử, người lớn tuổi tức là huynh, người nhỏ tuổi tức là đệ, người thuộc về phe trai ai cũng có phận làm phu, người thuộc về phe gái ai cũng có phận làm phụ. Nếu loài người toàn thế giới, ai nấy cũng phụ nên phụ, tử nên tử, huynh nên huynh, đệ nên đệ, phu nên phu, phụ nên phụ, theo ở gương gia đạo chính mà phóng đại cho đến toàn loài người thời thiên hạ khó gì mà chẳng bình định được đâu.
Lời thánh nhân nói tuy gần mà ý tứ rất xa, như thế mà ai dám bảo câu: Gia chính nhi thiên hạ định là vu khoát viễn vông rư?
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Phong tự hỏa xuất, Gia Nhân. quân tử dĩ ngôn hữu vật, nhi hạnh hữu hằng.
象曰: 風自火出, 家人, 君子以言有物, 而行有恆.
Quẻ này Nội Li là hỏa, Ngoại Tốn là phong, hỏa trong, phong ở ngoài, tượng là gió trong lửa thổi mà ra. Lửa phun ra hơi, hơi phì ra gió, ấy là tượng quẻ Gia Nhân.
Quân tử xem ở tượng gió tự lửa thổi ra biết được lẽ trong thiên hạ, bao nhiêu việc ở ngoài, gốc tự trong mà nảy ra, nên muốn trì nước trước phải trì gia, muốn tề gia trước phải tu thân.
Tu thân thời nên thế nào?
Tóm hết công việc trong một thân thời chỉ ngôn với hạnh.
Ngôn nghĩa là nói, hoặc tự mình diễn giải ra, hoặc lời ứng đáp với mọi người, tất thảy gọi bằng ngôn, chẳng ngôn thời chớ, đã ngôn thời phải hữu vật. Hữu vật, nghĩa là phải có thực lí thực sự. Hoặc một chủ nghĩa gì, đã nói ra, tất phải có căn cứ chứng thực, phải nhận chân thực hành chứ không phải nói suông, như thế là hữu vật.
Những điều mà thân mình làm ra, nhỏ từ ứng phó với một người, lớn đến gánh một trách nhiệm, thảy gọi bằng hạnh, hễ đã hạnh, tất phải hữu hằng. Hữu hằng, nghĩa là thái độ phải cho thường, nghị lực phải cho bền dai, trước làm sao sau làm vậy. Trong bụng thế nào thời hiện ra ngoài cũng thế.
Thờ một chủ nghĩa gì tốt tất phải tự thỉ chí chung làm một việc gì hay tất phải triệt thủ triệt vĩ, như thế là hạnh hữu hằng.
Ngôn đã hữu vật, hạnh đã hữu hằng, thế là thân tu rồi. Đem mô phạm trong một thân mình suy ra mà rèn đúc một nhà, lại suy ra rèn đúc một nước, một thiên hạ, in như cái tượng gió tự trong lửa phun ra.
Thầy Trương Hoành Cừ nói rằng: Lửa là mẹ đẻ ra gió. Các nhà khoa học Tây nhất thiết cơ khí vận chuyển thảy nhân hỏa hay điện phát sinh ra gió mà điện cũng là hỏa khí tác dụng. Thế là đủ chứng cái câu phong tự hỏa xuất không phải là câu lí tưởng suông mà thôi đâu.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Nhàn hữu gia, hối vong,
初九: 閑有家, 悔亡.
Sơ Cửu có đức dương cương, ở vào địa vị đầu hết quẻ Gia Nhân, chính là lúc đầu mới có nhà. Hễ trong đạo trì gia, tất phải cẩn thận từ lúc đầu, ở lúc đầu mà biết lấy lễ phép ngăn ngừa khiến cho người nhà khỏi gây ra những múi lười biếng kiêu xỉ, như thế là nhàn hữu gia (nhàn: ngăn đón).
Có nhà mà biết lo ngăn đón từ lúc đầu thời việc gì đáng ăn năn sẽ tiêu diệt hết cả.
Tượng viết: Nhàn hữu gia, chí vị biến dã.
象曰: 間有家, 志未變也.
Gia Nhân đương lúc mới bắt đầu, chính là lúc chí ý của mỗi người chưa kịp biến động; nguồn nước đương trong, mầm măng mới lú, lúc đó mà gấp lo phòng nhàn, chính là một phương pháp tề gia rất hay.
Tục ngữ có câu: “Dạy con dạy thuở đương thơ, dạy vợ dạy thuở mới đưa vợ về” (giáo nhi anh hài, giáo phụ sơ lai - 教兒嬰孩, 教婦初來) chính là nghĩa ấy.
PHỤ CHÚ: Thầy Chu Liêm Khê nói rằng: Nhà khó mà thiên hạ dễ, vì nhà thân mà thiên hạ sơ đó vậy.
Tòng lai, ở với người thiên hạ thời chỉ có một chữ nghĩa mà thôi, còn như ở với người nhà, đã chữ nghĩa lại kiêm cả chữ ân. Nghĩa quá nặng thời hại mất ân, ân quá nhiều thời hại mất nghĩa, muốn cho ân nghĩa lưỡng toàn tất tự lúc đầu phải cẩn thận cho hết sức. Vẫn là ân mà không đến nỗi mạc tri kì tử chi ác 莫知其子之惡, vẫn là nghĩa mà không đến nỗi trách thiện tắc li 責善則 離. Thánh nhân ở hào Sơ quẻ Gia Nhân mà dạy cho ta ba chữ "nhàn hữu gia" làm khuôn mẫu cho những người tề gia, thiệt nên như thế.
2. Lục Nhị: Vô du tụy, tại trung quỵ, trinh, cát.
六 二 : 無攸逐 , 在中饋 , 貞 吉 .
Lục Nhị nhu cư âm, tượng là một người quá ở nhu nhược, xử vào địa vị gia chủ, nếu chỉ dùng bằng cách nhu hòa mà thôi thời chỉ e thái nhu tắc phế, nhưng chỉ làm một người dâu, hay con gái thời có lẽ tốt.
Bởi vì dâu và con gái không cần có tài cương, việc lớn ở trong nhà đã có gia chủ, mình chỉ thừa thuận là xong, không việc gì mình phải chuyên phụ trách nhậm cả. Tụy nghĩa là thành; vô du tụy nghĩa là không việc gì tự mình chuyên lấy thành công.
Theo bổn phận người làm dâu và người con gái, chỉ chăm nom việc trong quỵ cho hoàn toàn chu đáo là xong, mà cần phải cho trinh chính thời được tốt lành.
Tại trung nghĩa là xem xét những việc trong nhà; quỵ nghĩa là những việc bàn soạn nấu nướng trong nhà.
Nhà nữ học hiệu ở ngoại quốc có đặt ra khoa "gia chính", "phanh nhậm", "tài phùng" chính là vì những người như hào Lục Nhị.
PHỤ CHÚ: Quẻ Gia Nhân rất quý trọng tài dương cương nên hào Tam, hào Sơ, hào Ngũ, hào Thượng và hào Tứ nhận làm người trì gia. Duy hào Lục Nhị dĩ âm cư âm, vả lại ở về thể Hạ Quái, vì bản chất quá nhu nhược, không thể gánh nổi việc trì gia nên bảo cho vô du tụy, tại trung quỵ.
Nếu những người có tài dương cương thời công việc chẳng phải ngần ấy mà thôi đâu. Học giả xem lại lời các dương hào sẽ rõ.
Tượng viết: Lục Nhị chi cát, thuận dĩ tốn dã. 象曰: 六二之吉, 順以巽也. Hào Lục Nhị sở dĩ được cát là vì hay thuận tòng với hào Cửu Ngũ mà tự xử bằng một cách ti hạ vậy. Hễ những kẻ âm nhu lại bất tài, vả còn xử ở địa vị thấp thảy nên như thế.
3. Cửu Tam: Gia nhân hác hác, hối lệ, cát, phụ tử hi hi, chung lẫn.
九三: 家人 嗃嗃, 悔, 厲, 吉, 婦子嘻嘻, 終吝.
Cửu Tam dương cư dương vị là trùng cương bất trung, ấy là bản chất quá ở cương, lấy tư cách ấy đem làm trì gia, đối với người nhà tất ở quá ở nghiêm khắc, e có việc hại đến ân tình mà phải hối lệ nên nói rằng: Gia Nhân hác hác hối lệ.
Hác hác, nghĩa là quá nghiêm khắc.
Tuy nhiên, đạo gia chủ mà quá trọng về phần nghiêm, lúc đầu tuy có chút thương ân mà kết quả trong nhà giữ được trật tự nghiêm chính, ấy là đạo tốt cho trong nhà vậy.
Nếu trái lại, phản đối với cách quá nghiêm mà dụng cách quá khoan thời đến nỗi trật tự không chỉnh tề, gia đình không nghiêm túc, dâu con tối ngày hớn hở chơi bời.
Hi hi là có ý buông tuồng, như thế thời kết quả phải mắc điều xấu hổ.
PHỤ CHÚ: Chữ hác hác với chữ hi hi phản đối với nhau. Hác hác thời quá ư nghiêm. Hi hi thời quá ư khoan, tổng chi thảy chưa được trung đạo. Nhưng trong đạo trì gia thà là quá ư nghiêm, chẳng thể quá ư khoan, nên một bên thời cát, một bên thời lẫn.
Cửu Tam ở đoạn chính giữa quẻ, hai hào dưới trông lên, tượng như một vị gia chủ, nên thánh nhân dạy cho đủ cả hai phương diện.
Tượng viết: Gia Nhân hác hác, vị thất dã; phụ tử hi hi, thất gia tiết dã.
象曰: 家人嗃嗃, 未失也; 婦子嘻嘻, 失家節也.
Gia Nhân hác hác, tuy vẫn quá nghiêm, nhưng theo về đạo trì gia thời chẳng gì là hỏng vậy. Nếu phụ tử hi hi thời lễ tiết trong nhà nên nỗi hỏng ráo.
4. Lục Tứ: Phú
gia, đại cát. 六四: 富家, 大吉.
Chữ phú này không phải phản đối với chữ bần mà chính như chữ phú thịnh. Phú gia là làm cho gia đạo được hưng thịnh, cũng như nghĩa chữ gia phì.
Sách Lễ Kí có câu: Cha con thường dày ân tình với nhau, anh em thường thỏa thuận với nhau, vợ chồng thường hòa hợp với nhau, ấy là nhà béo tốt vậy (Chữ gia phì ở đây tức là nghĩa phú gia).
Lục Tứ âm nhu thể Tốn, ở vào vị Tứ, lại là đốc chính; đã nhu tốn, đắc chính lại ở về Thượng Quái là ở vị tôn, tượng là bà mẹ trong nhà, gánh trách nhiệm làm gia mẫu mà làm nên được phú thịnh cho gia đạo mình thời tốt lành có gì lớn hơn nữa.
Phụ chú: Xem chữ gia phì ở Lễ Kí càng thêm hiểu được nghĩa chữ phú gia ở đây.
Phụ tử chung nhau bằng chữ đốc, không cần nói hiếu từ; huynh đệ chung nhau bằng chủ mục, không cần nói hữu, cung; Phu phụ chung nhau bằng chữ hòa, không cần nói xướng tùy; người nào cũng hết nghĩa vụ của người ấy, mỗi người chung đồng hạnh phúc với mỗi người, trong nhà mà được như thế, thiệt chẳng gì phúc hơn.
Thánh nhân nói đạo lí viên mãn như thế, há phải như hậu nho xuyên tạc đâu.
Tượng viết: Phú gia đại cát, thuận tại vị dã.
象曰: 富家大吉, 順在位也.
Lục Tứ có đức tốn thuận mà lại ở vị tôn làm mẹ trong một nhà nên Hào từ nói rằng phú gia đại cát. Chữ phú đây chẳng phải phú bằng sản nghiệp mà cốt phú bằng đức, đức đã phú thời sản nghiệp không cần phải nói.
Trên Soán Truyện đã nói: Phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ như thế chính là đạo phú gia, mà sở dĩ được đại cát cũng vì thế.
Phụ chú: Xem Hào từ của bổn hào rất có thứ tự. Hào Sơ là bắt đầu trì gia, cần nhất là gia giáo nên nói chữ nhàn, nghĩa là trong nhà cần phải có khuôn kho. Đến hào Nhị là khi đã có gia giáo rồi tất cần phải đầy đủ việc ăn nên chú trọng bằng trung quỵ. Tiến đến hào Tam thời đủ giáo dưỡng rồi, đã có kẻ thầy, người tớ, thế là người nhà đã đông đúc rồi, tất phải có kỷ cương trật tự nên phải hác hác mới được cát. Tiến lên đến Lục Tứ ở vào vị cao, chính là gia chủ, duy lo trì gia, khuôn thước thế nào cho gia đạo hưng thịnh, tóm góp hết những quy mô trên kia mà làm nên phú gia, sắp đặt trong một nhà mà phải trước, sau, hoãn, cấp, thứ tự như thế.
Chúng ta muốn làm nên phú gia, tất phải đủ ngần ấy việc, ngần ấy người.
5. Cửu Ngũ: Vương cách hữu gia, vật tuất, cát.
九五: 王假有家, 勿恤, 吉.
Cửu Ngũ ở vào vị chí tôn, tượng như người nguyên thủ trong một nước nên gọi bằng vương. Nhưng cớ sao không nói hữu quốc mà chỉ nói hữu gia? Vương mà chỉ hữu gia chẳng hẹp hòi lắm hay sao?
Chúng ta phải biết, quốc, gia chỉ là một gốc: Quốc tức là gia lớn, gia tức là quốc nhỏ; nói hữu gia là vì ở quẻ Gia Nhân nên không cần nói chữ quốc, mà trong ý thánh nhân vẫn xem quốc tức gia, gia tức quốc. Đứng vào địa vị quân trưởng như hào Cửu Ngũ, có đức dương cương, trung chính, ở dưới lại có bậc trung chính như hào Lục Nhị làm chính ứng với mình, mình thời chính vị hồ ngoại mà Nhị thời chính vị hồ nội, hữu gia mà được như thế, thiệt là tận thiện, tận mỹ đạt ở cực điểm nên nói rằng vương cách hữu gia.
Chữ cách như nghĩa chữ chí, có ý là rất tốt. Vương mà đã rất tốt ở việc hữu gia thời gia đã tề mà quốc cũng trị, suy rộng ra, thiên hạ cũng bình, đến lúc đó bất tất phải lo lắng gì mà cũng được tốt.
PHỤ CHÚ: Sơ Cửu nhàn hữu gia là gia đạo chi thỉ, Cửu Ngũ cách hữu gia là gia đạo chi thành. Gia đạo đã đến lúc thành nên gọi rằng vật tuất, cát.
Còn như Cửu Tam là gia đạo chính đương lúc bán thượng, lạc hạ thời phải trải qua hối lệ, mới đến cát. Lục Tứ là vị gia mẫu thời làm cho được phú gia mới được cát. Cửu Ngũ là vị gia phụ thời làm cho được cách hữu gia mới được cát, chữ cách là có ý đạt ở cực điểm.
Trong năm hào, có chương trình thứ tự. Sơ là tạo nhân mà Ngũ là kết quả, một gia nhỏ như vậy, dầu đến một gia lớn như quốc, như thiên hạ cũng như vậy. Đó là thâm ý của Thánh nhân, chớ nhận lầm chữ gia là nhà mà thôi. Xem chữ gia đặt ở dưới chữ vương thời đủ hiểu.
Tượng viết: Vương cách hữu gia, giao tương ái dã.
象曰: 王假有家, 交相愛也.
Vương sở dĩ cách hữu gia là cốt khiến cho người trong một nhà, nào trai nào gái, nào trẻ nào già, nào lớn nào bé, giao yêu mến nhau, chẳng một người nào thương ân hại nghĩa, như thế mới được cách hữu gia.
PHỤ CHÚ: Chữ ái ở đây không phải tình ái và tư ái đâu. Xem địa vị Nhị, Ngũ thảy là trung chính, ái bằng cách trung chính thời ái đó bằng cách thiên lí mà không phải ái bằng nhân dục, ái bằng đại công mà không phải ái bằng cách thiên tư. Vì trung chính như Nhị Ngũ nên cảm cách được người nhà mà hiện ra thực sự giao tương ái, nhận kĩ hai chữ giao tương thời biết được chữ ái không phải là thiên ái.
6. Thượng Cửu: Hữu phu, uy như, chung cát. 上九: 有孚威如, 終吉. Thượng Cửu ở về cuối quẻ, chính là lúc gia đạo đã đến lúc hoàn thành, tới lúc bây giờ chỉ lo thủ thành vĩnh viễn mà đạo thủ thành trong gia nhân thời chỉ có hai lối: Một là giữa bàn thân phải có đức thành tín chứa chất ở bên trong, mình đã chí thành bất tức thời cảm cách được lâu dài nên nói rằng hữu phu. Có đức thành tín thời người vẫn tin mình, nhưng trong phép trì gia, nếu thiên vào tình sợ không nghiêm, thiên vào ân thì dễ lờn. Cho nên chỉ một mặt thành tín mà thôi thời việc thủ thành chưa chắc đã hoàn toàn, tất phải thêm bằng cách uy nghiêm nữa mới được nên nói uy như.
Kẻ lớn, người bé khiến cho có trật tự, kẻ thầy, người tớ khiến cho có pháp kỉ, lấy nghĩa mà giúp đỡ cho ân, lấy cương mà giúp đỡ cho nhu, như thế mới là hoàn toàn cách hữu gia. Chữ uy ở đây không phải như nghĩa uy hình mà như nghĩa nghiêm trang.
Luận Ngữ có câu: Quân tử bất trọng, tắc bất uy 君子不重則不威, nghĩa là quân tử nếu không trọng hậu thời không uy nghiêm, chính là nghĩa chữ uy ở đây. Như thế thời được chung cát.
Nói tóm lại, đã thành tín, lại uy nghiêm thời gia đạo được lâu dài tốt đẹp vậy nên nói rằng chung cát.
Tượng viết: Uy như chi cát, phản thân chi vị dã.
象曰: 威如之吉, 反身之謂也.
Cách cát vì uy như mà được đó, không phải bảo cậy uy hình mà trừng trị người đâu, chỉ bảo cho người gia chủ cốt tôn nghiêm lấy giữa mình, xét lại giữa mình mà thiệt được thân tu thời chính là uy như đó vậy. Thế thời còn lo gì gia bất tề đâu.
Chữ "phản thân" ở đây, cũng in như chữ "tự phản" trong sách Mạnh Tử. Muốn cho người nhà được kính phục tất phải giữ bản thân tôn nghiêm, chính là uy như chi cát.
PHỤ CHÚ: Đọc hết sáu hào ở quẻ Gia Nhân, không hào nào có lời xấu, nhưng ba hào ở Nội Quái thời hào nào cũng có lời răn đe.
Hào Sơ thời có chữ "Nhàn", hào Nhị thời có chữ "Trinh", hào Tam thời có chữ "Lệ".
Chúng ta mới biết đạo tề gia quan trọng thứ nhất ở nửa đoạn đầu, nửa đoạn đầu mà đã hay thời nửa đoạn cuối chỉ là vun cao đắp lớn, thêm tốt, nối dài nữa là xong, nên Hào từ Tứ, Ngũ rặt là vui vẻ thong thả. Cái hạnh phúc của đoạn sau là kết quả gian nan của đoạn trước, nhưng đến hào Thượng Cửu thánh nhân lại dạy rằng hữu phu, uy như mà kết thúc lấy hai chữ "phản thân".
Than ôi! Quốc chi bản tại gia, gia chi bản tại thân. Nếu bản thán mà đã tính nết chẳng trau dồi, đức nghiệp chẳng tu tấn, tài học chẳng vun trồng, chơi bời cho qua tháng ngày, giả dối để lừa chúng bạn, thân đã như thế thời bảo thân đã không nổi còn nói gì đến quốc gia xã hội nữa đâu.
Thầy Mạnh có nói rằng: Thân mình không làm hợp với đạo lí thời chẳng lấy gì dạy được vợ con. Ý nghĩa quẻ Gia Nhân thiệt là hữu thỉ hữu chung, xin học giả nhận cho kỹ, chẳng những gia mà thôi, đến quốc, đến thiên hạ cũng chỉ ngần ấy. Xem toàn bộ Dịch, lời soán của Văn Vương, lời hào của Chu Công, lời truyện của Khổng Tử, từ đầu chí cuối, nhất dĩ quán chi, chỉ có quẻ ấy.
38. QUẺ HỎA TRẠCH KHUÊ
Ly trên; Đoái dưới
Quẻ này là quẻ Hỏa Trạch Khuê.
Đoài hạ cũng là Nội Đoài, Li thượng cũng là Ngoại Li. Li hỏa, Đoài trạch, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Trạch Khuê.
TỰ QUÁI
Tự quái: Gia đạo cùng tất quai, cố thụ chi dĩ Khuê, Khuê giả quai dã.
序卦: 家導則窮乖, 故受之以睽, 睽者乖也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Gia Nhân tiếp lấy quẻ Khuê là vì cớ sao?
Gia đạo đã đến lúc cùng tất đến nỗi ngang chia lìa, vậy nên quẻ Gia Nhân tiếp lấy quẻ Khuê. Khuê, nghĩa là chống nhau, ý nghĩa, sở dĩ đặt tên quẻ bằng Khuê. Soán Truyện đã thích kĩ rồi, đây không cần phải giải thích nữa.
SOÁN TỪ
Khuê, tiểu sự,
cát. 睽, 小事吉.
Người ở thời đại Khuê, tâm chí không đồng nhau, đường lối không chung nhau, nếu làm những việc lớn như quốc gia xã hội, thật không thể làm được. Duy theo ở thể quẻ, chỉ có hào Lục Ngũ âm nhu đắc trung ứng với Cửu Nhị dương cương đắc trung, ở về thời đại Khuê quai mà còn có người cương, nhu tương tế như thế.
Chúng Khuê mà bọn mình không Khuê thời làm những việc nhỏ thuộc về cá nhân, hay là một tiểu đoàn thể còn có thể tốt lành được, nên nói rằng: Tiểu sự, cát, nghĩa là chỉ làm việc nhỏ thời họa may được cát mà thôi.
PHỤ CHÚ: Đạo Dịch rất hay là biến Dịch. Càn thượng, Khôn hạ là Bĩ, đảo ngược lại Khôn thượng, Càn hạ thời là Thái.
Quẻ này Đoài hạ, Li thượng. Đoài là trạch, Li là hỏa, tính trạch thời ngầm xuống, tính hỏa thời bùng lên, trên chẳng tiếp với dưới, dưới chẳng thông lên trên, tính hai bên trái nhau thời tình hai bên cũng trái nhau nên thành ra quẻ Khuê, Khuê là xấu quá, xấu nhất trong Kinh Dịch, nhưng đảo trái lại, Li ở dưới, Đoài ở trên, Hỏa viêm thượng mà tiếp với Trạch, Trạch thủy ngậm xuống mà thông với Hỏa, tính tình liên lạc với nhau, công việc giúp đỡ cho nhau thời thành ra quẻ Cách.
Cách là một quẻ có công việc rất to trong Kinh Dịch, chúng ta xem lại hai quẻ ấy thời biết rằng: Còn Khuê thời không bao giờ làm nên Cách, mà đã muốn Cách thời trước phải chữa cái bệnh Khuê, nên Quái từ quẻ Khuê chỉ nói bằng tiểu sự cát mà Soán từ quẻ Cách lại nói rằng Thang, Võ cách mệnh.
Than ôi! Đời còn Khuê quai li tán, dầu thánh nhân như Thang, Võ cũng làm gì nên cách mệnh đâu!
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Khuê, hỏa động nhi thượng, trạch động nhi hạ, nhị nữ đồng cư, kì chí bất đồng hành. Duyệt nhi lệ hồ minh, nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương, thị dĩ tiểu sự cát. Thiên địa khuê nhi kì sự đồng dã, nam nữ khuê nhi kì chí thông dã, vạn vật khuê nhi kì sự loại dã. Khuê chi thì dụng đại hĩ tai.
彖曰: 睽, 火動而上, 澤動而下, 二女同居, 其志不同行. 說而麗乎明, 柔進而上行, 得中而應 乎剛,
是以小事吉. 天地睽而其事同也, 男女睽而其志通也, 萬物睽而其事類也. 睽之碑用大 矣哉.
Soán viết: Khuê, hỏa động nhi thượng, trạch động nhi hạ, nhị nữ đồng cư, kì chí bất đồng hành.
Đây là lấy tượng quẻ thích nghĩa tên quẻ để hình dung tính cách Khuê, chữ khuê phản đối với chữ đồng; tính khác nhau, chí khác nhau, ở chung với nhau một chốn, tất cũng không xong làm chung một việc với nhau, tất cũng chẳng nên nên gọi bằng Khuê.
Theo về tượng quẻ thời Li là hỏa, tính hỏa khi đã phát động, tất bùng lên trên. Đoài là trạch, tính Trạch khi đã phát động, tất chảy xuống dưới; một bên đã động nhi thượng, thì không dính dấp gì đến dưới, một bên đã động nhi hạ, thì không dính dấp gì đến trên, đó là vì tính trái nhau mà thành ra Khuê.
Lại lấy bằng một tượng nữa, Đoài là thiếu nữ, Li là trung nữ, hợp Đoài, Li lại làm một quẻ, tượng là hai chị em ở chung trong một nhà, nhưng chí thú hai người vẫn khác nhau, chị gái út thời xu hướng về cha mẹ, chị gái giữa thời xu hướng về nhà chồng, hình thức bề ngoài vẫn là còn ở chung với nhau mà tinh thần bề trong thời hai người đi hai ngả, vì chí hướng khác nhau mà thành ra Khuê.
Tính đã khác nhau, chí đã khác nhau, dầu có đồng cũng là tạm thời, mà kết quả tất là li dị. Vậy nên đặt tên quẻ bằng Khuê.
Duyệt nhi lệ hồ minh, nhu tiến nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương, thị dĩ tiểu sự cát.
Bây giờ lại lấy quái đức, quái thể thích Quái từ. Theo về đức quẻ thời Đoài có đức duyệt, Li có đức minh, hòa duyệt mà nương tựa vào đức minh (Lệ: nương tựa).
Theo như thể quẻ trong quẻ có hào Lục Ngũ chất tuy âm nhu nhưng tấn lên mà ở ngồi trên, Lục Ngũ lại đắc trung mà thuận ứng với hào Cửu Nhị là hào dương cương.
Theo tượng quẻ, thể quẻ thì đủ những đức tốt ấy. Nếu làm việc lớn, chưa đến nỗi tuyệt đối không làm được, nhưng khốn nạn thay, ở thời đại mà thiên hạ đương còn Khuê quai, nhân tâm đương hoán tán, lấy gì làm nên việc lớn đâu, chỉ vì có đức tốt đã nói như trên, may vừa tiểu sự cát, cũng vừa đủ năng sự rồi.
Thánh nhân nói đến đây là muốn cho học giả phải tri thì, thì đã đến hồi Khuê quai thời thành tựu cũng chỉ ngần ấy mà thôi.
Thiên địa khuê, nhi kì sự đồng dã, nam nữ khuê nhi kì chí thông dã, vạn vật khuê nhi kì sự loại dã. Khuê chi thì dụng đại hĩ tai.
Như trên kia nói thời thời đại Khuê, vẫn là xấu thiệt, nhưng Dịch đạo quý hay biến hóa. Nếu thấy thời đại Khuê mà chỉ cho thời đại xấu thời thánh nhân còn tác Dịch làm gì.
Vậy nay lại suy rộng cho hết lẽ hợp Khuê. Hợp Khuê, nghĩa là: Ở trong chốn khác nhau mà tìm cho ra lẽ sở dĩ hợp nhau, vật chất vẫn khác nhau mà vật lí lại hợp nhau, ở giữa Khuê mà xét cho ra lí đồng thời hiện ra được công dụng ở thời đại Khuê.
Thử xem ở thiên địa, trời bao giờ cũng thấy cao, đất bao giờ cũng thấy thấp, chẳng phải là thể khuê hay sao?
Nhưng mà dương khí thường hạ giáng mà giao với đất, âm khí thường thượng thăng mà giao với trời, trời đất hợp nhau mà nên công che chở. Thế là thể tuy khuê mà việc hóa dục vẫn đồng.
Lại xem bằng nam nữ, trai thuộc về hình dương, gái thuộc về hình âm, chẳng phải là chất khuê hay sao? Nhưng mà trai tất cầu hợp với gái, gái tất cầu hợp với trai, trai gái hợp với nhau mà thành công sanh dục, thế là chất tuy khuê mà chí tương cầu vẫn thông. Bây giờ lại xem ở vạn vật phi, tiềm, động, thực, muôn sắc nghìn hình, chẳng phải chủng khuê hay sao? Nhưng bao nhiêu giống bay, in nhau một cách bay, bao nhiêu giống ngầm, in nhau một cách ngầm, bao nhiêu động vật, in nhau một cách đội sừng mang lông, bao nhiêu giống thực vật, in nhau một cách khai hoa kết quả. Thế là chủng tuy khuê mà việc sinh hóa vẫn theo loài với nhau.
Xem các lẽ ấy thời biết rằng: Ở trong phạm vi khác nhau, tất cũng ngầm có một tâm lí đồng nhau.
Tìm cho ra cái đồng nhau mà giằng buộc liên kết hết thảy cái khác nhau, hợp ngàn vạn cái dị lại làm thành một cái đồng. Như thế, mới thấy được cái diệu dụng ở thì Khuê rất lớn lao rồi vậy, chẳng phải thánh nhân thời ai làm nên được.
PHỤ CHÚ: Soán Truyện ở mọi quẻ chỉ tán một chữ "thì" hoặc chữ "thì nghĩa" mà ở đây lại tán chữ "dụng" là vì cớ sao?
Bởi vì thì Khuê mà làm cho ra chẳng Khuê, mới là công việc lớn, xem ở câu "Khuê chi thì dụng đại hỉ tai" thời mới biết được thánh nhân trong thiên hạ, không thì nào là bất khả vi, biến hóa chuyển di chỉ cốt ở nơi chữ "dụng". Chữ dụng là phương pháp "cứu thì" của thánh nhân mà cũng là thủ đoạn "tạo thì" của anh hùng.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Thượng hỏa hạ trạch, Khuê. Quân tử dĩ đồng nhi dị.
象曰: 上火下澤, 睽. 君子以同而異.
Trên Soán Truyện đã nói một cách dị mà đồng, bây giờ Tượng Truyện lại nói một cách đồng mà dị (Đồng nghĩa là chung đồng; dị nghĩa là khác riêng).
Quân tử xem ở tượng quẻ Khuê thấy được Li, Đoài chung nhau đồng một quẻ, nhưng mà Li hỏa thời tính viêm thượng, Đoài trạch thời tính tựu hạ, hai tính trái nhau, quân tử mới biết rằng: Lẽ trong thiên hạ, hễ trong lúc đại đồng mà vẫn có chốn nên độc dị. Xưa nay thánh hiền xử thế, theo về việc nhân sinh nhật dụng, vẫn đại đồng với thế tục, nhưng đến nhưng việc thế tục đã sai lầm thời thánh nhân không bao giờ đồng lưu hợp ô.
Cũng có việc thế tục không chịu làm mà một mình làm, cũng có việc thế tục thảy làm cả mà duy một mình không chịu làm, ấy là trong chốn đại đồng mà có chốn độc dị. Nghĩa ba chữ "đồng nhi dị", thoáng xem qua như hình mâu thuẫn mà xem cho kĩ thời chân chinh đạo lí vẫn như thế. Có việc nên đồng mà đồng, có việc nên dị mà dị, hễ những việc đúng với thiên lí, thuận với nhân tình, thời dầu thánh nhân cũng như chúng nhân. Nếu không thế thời thành ra một hạng bất cận nhân tình, loạn thời trái lí, dầu có liêm như Trần Trọng Tử, tín như Vị Sinh mà có gì là hợp đạo lí đâu.
Còn đến khi dư luận hỗn hào, tục lưu ô trọc: Phàm những việc mà thế tục đồng xu đó, chính là những việc trái với thiên lí, nhân tâm. Thánh nhân ở chốn đó, tất phải nhất ý cô hành, một mình đi riêng một lối, dầu miệng thế chê cười cũng không kể.
Tức như thời Chiến Quốc, thiên hạ thảy xu phụ với Tần mà một mình ông Lỗ Trọng Liên nghĩa bất đế Tần, đành gieo thân bể Đông mà chết, đó chính là nghĩa độc dị.
Vì có độc dị, mới là thánh hiền. Nếu chẳng thế thời thành ra một hạng người xu thì trục tục, hùa với đời mà kiếm ăn, lấy gì làm quân tử nữa đâu.
Nên nói rằng: Quân tử dĩ đồng nhi dị.
Ba chữ "đồng nhi dị" khó giải thích cho hết nghĩa, trong một quốc gia, một xã hội, một nhân quần vẫn có lúc phải đồng nhi dị mà chính giữa bản thân một người cũng có lúc phải đồng nhi dị, tỉ như giữa một thân ông Y Doãn mà khi tựu Thang tựu Kiệt khác nhau; giữa một thân Đức Khổng Tử mà khi khứ Tề, khi khứ Lỗ khác nhau; ý nghĩa ba chữ "đồng nhi dị", bao hàm rộng lớn như thế, duy người ta phải xét đạo lí cho tinh thấu, nhận kĩ nghĩa vụ cho rành rõi, cái nên đồng thời đồng mà không phải xu thì trục lị, cái nên dị thời dị mà không phải mua tiếng làm cao, như thế mới hợp đạo quân tử.
PHỤ CHÚ: Quẻ Khuê với quẻ Đồng Nhân là phản đối nhau. Thiên, hỏa hai tính hợp nhau thời thành quẻ Đồng Nhân. Tượng Truyện nói rằng loại tộc biện vật, nghĩa là phải tìm cho ra cái dị mới sắp đặt được nên cái đồng.
Hỏa, trạch, hai tính trái nhau thời thành ra Khuê. Tượng Truyện nói rằng đồng nhi dị, nghĩa là: Lựa chọn trong lúc đồng mà làm một cách dị. Thế mới biết rằng: đồng mà không đồng không phải là hỗn tạp; dị mà dị không phải là cuồng bạo.
Thánh nhân giảng đạo lí, bao giờ cũng giảng đạo lí sống, chẳng bao giờ giảng đạo lí chết; biết như thế thời học được Dịch.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu; Hối vong, táng mã, vật trục, tự phục, kiến ác nhân, vô cựu.
初九: 晦亡, 喪馬, 勿逐, 自復, 見惡人, 無咎.
Sơ Cửu ở về đầu quẻ là bắt đầu ở về thời đại Khuê quai, Cửu lại sẵn có tính cương, ở vào địa vị dưới mà muốn hành động, tất nhiên hữu hối, nhưng may ở trên có hào Tứ là đồng đức mà ứng với mình, chính giữa hồi quai Khuê mà gặp được bạn đồng chí thời cái hối đó tất nhiên cũng vong được.
Tuy nhiên, tính cương là vẫn muốn đi lên mà khổ vì đường đời khấp khểnh, chúng bạn hiếm hoi, muốn đi mà không thể nào đi đặng, khác gì người đi đường mà mất quách ngựa đâu, chờ khi Cửu Tứ liên hợp với mình mà dắt dìu nhau đi, in như ngựa đã mất, không phải tìm đuổi mà tự nhiên ngựa trở về.
Táng mã là một mình Sơ thời khó đi; vật trục tự phục là lại gặp Tứ thời kết quả cũng đi được. Nhưng khốn nạn thay! Ở thì Khuê, người đồng chí với mình chẳng bao lăm mà kẻ dị tâm với mình thời quá nhiều; tính dương cương là vẫn muốn đi lên, nếu cự tuyệt hết những món ác nhân thời người thù với mình càng thêm nhiều mà hung họa e không tránh khỏi. Bây giờ nghĩ một cách toàn thân viện họa thời đối với những bọn ác nhân vẫn không bầy bạn với họ, nhưng cũng nên giả cách hẳn hiên với họ ở trước mặt. Thế thời không tội lỗi.
Hào từ đã nói hối vong, lại phải kiến ác nhân vô cựu, chính là khổ tâm của quân tử ở thì Khuê, mà theo về thì nghĩa cũng phải như thế, tức như Đức Khổng Tử mà không tránh Dương Hóa, Mạnh Tử không cự Vương Hoan, thảy là đúng nghĩa ấy.
Tượng viết: Kiến ác nhân, dĩ tị cựu dã.
象曰: 見惡人, 以辟咎也. Ác nhân vẫn không đáng kiến, nhưng ở vào thì Khuê thời cũng phải kiến ác nhân là cốt tránh cho nó khỏi thù oán mình mà thôi (Kiến nghĩa là phải tiếp mặt).
2. Cửu Nhị: Ngộ chủ vu hạng, vô cựu.
九二: 遇主于巷, 無咎.
Hào Cửu Nhị dương cương đắc trung, ứng với Lục Ngũ là âm nhu đắc trung. Nếu ở vào thì Thái thời có thua gì Cửu Nhị, Lục Ngũ quẻ Thái đâu, nhưng ở về thì Khuê thời nhân vật tuy đồng mà hoàn cảnh trái hẳn.
Ở về thì khác thời âm dương vẫn ưa nhau, nhưng ở về thì Khuê thời cương, nhu lại có ý kiêng né nhau. Ngũ tuy là một hạng người trung chính, nhưng thấy Nhị cương cường e trái với tính mình, vì Ngũ là âm nhu nên không dám thân cận với Nhị.
Tuy nhiên, đương sự thế bây giờ mà Nhị, Ngũ còn đương Khuê cách thời công việc cứu Khuê chẳng hỏng hết hay sao?
Thánh nhân mới vẽ cho Cửu Nhị một cách ủy khúc cầu hợp nên nói rằng: Ngộ chủ vu hạng; hạng nghĩa là ngõ hẹp, cũng có nghĩa là đường tắt.
Cầu cho gặp ông chủ mà không vào cửa chính, rình mò len lỏi nhè nhịp gặp nhau ở chốn ngõ hẹp mà kết hợp với nhau, thiệt là khổ tâm ủy khúc mà cầu cho nên việc cứu Khuê.
Hào Ngũ đương vị nguyên thủ nên gọi bằng chủ. Ngộ là có ý tình cờ gặp nhau. Vu hạng là thí dụ bằng một cách khôn khéo, uốn nán, lựa nhịp rình cơ, cầu cho được hai bên tương đắc, chung nhau gánh việc thiên hạ.
Theo về chính lí thường đạo thời vẫn có ủy khúc ít nhiều, nhưng theo về thì nghĩa biến thông phải nên như thế, không có gì là tội lỗi.
PHỤ CHÚ: Đạo lí trong thiên hạ, chỉ có lẽ phải mà thôi mà lẽ phải lại thường phải tùy thì mà thay đổi.
Ồng Y Doãn chờ vua Thang tam sính mới chịu ra; Đức Khổng Minh chờ Lưu Tiên Chúa tam cố mới chịu ra, nhưng Bách Lí Hề thời làm nghề chăn trâu mà cầu tiến thân với Tần Mục Công. NInh Thích giả cách đi hát giữa chợ để cầu cảm động được Tề Hoàn Công, cũng chỉ chung một đạo lí mà cơ quyền thủ đoạn có khác nhau, cho nên trong Dịch xử vào thì Khảm, dạy cho "nạp ước tự dũ", xử vào thì Khuê, dạy cho "ngộ chủ vu hạng", chính là việc đạt tiết của Thánh hiển, nhưng những hạng cố chấp thời bao giờ biết được nghĩa ấy (Đạt tiết: cầu cho đạt được khí tiết của mình).
Tả Truyện có câu rằng: Thái thượng đạt tiết, kì thứ thủ tiết 太上達節, 其次守節, nghĩa là bậc người tột cao mới đạt được tiết, còn thứ nữa, chỉ nên thủ tiết mình là được.
Tượng viết: Ngộ chủ vu hạng, vị thất đạo dã.
象曰: 遇主于巷, 未失道也.
Ngộ chủ mà làm bằng một cách ủy khúc, nhưng cầu cho gặp được người chính ứng với mình, cũng là nghĩa lí đương nhiên, chẳng phải là thất đạo vậy.
3. Lục Tam: Kiến dư duệ, kì ngưu xiết, kì nhân thiên thả tỉ, vô sơ hữu chung.
六三: 見輿曳, 其牛掣, 其人 天且劓, 无初有終.
Hào Lục ở vị Tam, bản thân đã bất chính, chính ứng với Thượng Cửu, Thượng vẫn cũng là bất chính, vì hai người là bạn chính ứng với nhau nên hết sức cầu hợp với nhau.
Nhưng khốn nạn thay! Ở vào thì Khuê Li mà Lục Tam lại ở xen vào giữa hai dương, muốn tiến lên theo hào Thượng mà mặt trước bị Tứ ngăn đón, mặt sau bị Nhị kéo dắt, công việc đi tới thiệt là khó ngăn éo le.
Lục Tam đương ở lúc bây giờ, còn kinh nghi sợ hãi, thấy những kẻ đón trước, người kéo sau mà chính giữa bản thân thời cố ráng cho lên được, xâu xé hồi lâu nên cũng bị giập đầu đổ máu; tượng như: Kiến dư duệ, kì ngưu xiết, kì phân thiên, thả tỉ.
Dư: cỗ xe; duệ: kéo lui lại, người kéo xe mình lui lại là chỉ vào hào Nhị; ngưu: con trâu kéo xe; xiết: cản không cho lên, người cản trâu lại không cho lên là chỉ vào hào Tứ; thiên: người bị hình chạm giữa mặt; tỉ: bị hình cắt mũi; kì nhân thiên thả tỉ: bản thân Tam bị thương.
Tam với Thượng, dầu bị Nhị, Tứ cách trở mà không hợp với nhau được, nhưng Nhị, Tứ là bọn tà tâm, tà bất thắng chỉnh, thời kết quả Tam với Thượng cũng được hòa hợp với nhau.
Tổng chi, ở vào thì Khuê dầu có chính ứng mà hòa hợp, cũng gay go như thế.
Tượng viết: Kiến dư duệ, vị bất đáng dã, vô sơ hữu chung, ngộ cương dã.
象曰: 見輿曳, 位不當也, 無初有終, 遇剛也.
Hào Lục ở vị Tam: lại chen vào giữa hai dương nên hoàn cảnh khó khăn, đến nỗi thấy xe mình đi bị người khác kéo lại, bởi vì địa vị mình bất đáng đó vậy.
Vô sở hữu chung là lúc đầu tuy gay go, nhưng đến lúc cuối cùng cũng được gặp Thượng Cửu (Cương là chỉ vào Thượng Cửu).
4. Cửu Tứ: Khuê cô, ngộ nguyên phu, giao phu lệ, vô cựu.
九四: 睽孤, 遇元夫, 交孚, 厲, 無咎.
Hào Cửu ở vị Tứ, vị ở đã sai, đương giữa thì Khuê lại càng khó khăn, dưới không chính ứng mà lại chét vào giữa khoảng hai âm là người một mình đứng giữa thì Khuê.
Cô nghĩa là độc lập, ở thì Khuê mà lại độc lập, tất phải kiếm người đồng thanh đồng chí để cầu giúp đỡ với mình.
Người đó là ai? Chính là Sơ Cửu, Cửu với Cửu là đồng đức, Sơ với Tứ tương ứng, tất phải đem chí thành kết hợp với nhau thời hoàn cảnh dầu có nguy chăng, nhưng kết quả chắc không tội lỗi gì. Nguyên phu là chỉ vào hào Sơ. Nguyên nghĩa là lành lớn; phu: một người trai.
Sơ Cửu dương cương đắc chính là nguyên phu. Tứ ngộ hợp với Sơ là ngộ nguyên phu, chỉ duy chí thành kết hợp với nhau là giao phu, thời dầu tuy nguy mà kết quả cũng vô cựu.
Tượng viết: Giao phu, vô cựu, chí hành dã.
象曰: 交孚無咎, 志行也.
Hai hào dương cương kết hợp với nhau bằng một cách chí thành, ở thì Khuê mà có bạn quân tử như thế thời chẳng những vô cựu mà có lẽ lại phát triển được chí cứu thì của mình. Tượng Truyện ở đây là bổ túc ý nghĩa Hào từ, Hào từ chỉ nói vô cựu mà thôi.
5. Lục Ngũ: Hối vong quyết tông phệ phu, vãng hà cựu.
六五: 晦亡, 厥宗噬膚, 往何咎.
Lục Ngũ âm cư dương vị, ở vào thì Khuê lẽ nên hữu hối, nhưng vì Ngũ có đức trung mà ở dưới lại có hào Cửu Nhị dương cương trung ứng với mình nên được hối vong.
Sở dĩ được hối vong, không phải tài âm nhu như Ngũ mà làm được nên. Vì có tài dương cương như Cửu Nhị chịu làm một phe với mình, gắn chặt vào sâu giúp đỡ cho Ngũ. Vậy nên Ngũ tấn hành những việc gì thảy nhờ Nhị mà được hoàn thiện, còn có tội lỗi gì nữa. Chữ quyết như nghĩa chữ kì tông là phe đảng; quyết tông là chỉ vào hào Cửu Nhị; phệ nghĩa là cắn; phu nghĩa là thịt trong da; phệ phu nghĩa là cắn mà vào được sâu, thí dụ như: Nhị thâm nhập vào Ngũ, tình ý hai bên hợp đã dễ mà vào lại sâu nên nói rằng: Quyết tông phệ phu.
Tượng viết: Quyết tông phệ phu, vãng hữu khánh dã.
象曰: 厥宗噬膚, 往有慶也.
Tượng Truyện đây lại nói thêm nghĩa Hào từ cho rộng, trên kia chỉ nói vãng hà cựu, đức Thánh lại nói rằng may cho ở thì Khuê mà được lưỡng hiền tương tín. Nên nói thêm rằng: Nhị chịu kết hợp với Ngũ lại thâm nhập được một cách như phệ phu thời công việc tấn hành lại đươc phúc khánh nữa vậy.
PHỤ CHÚ: Ở vào thì Khuê quai, dầu quân tử với quân tử mà kết hợp với nhau cũng tất phải vừa ủy khúc, vừa khôn khéo, như Nhị, Ngũ thảy có đức trung vả lại chính ứng cùng nhau, nếu ở thì khác thời hai người ấy kết hợp với nhau là việc rất dung dị. Song thì Khuê quai đành phải tùy cơ làm ứng, cho nên Cửu Nhị nói "ngộ chủ vu hạng" đến Lục Ngũ có chữ "phệ phu". Vu hạng tức là không phải đi thẳng vào ngay; phệ phu tức là có cách lựa cơ rình thế, mới biết rằng: Ở về thì Khuê thiệt không thể phân bì được như đời thái bình vậy.
6. Thượng Cửu: Khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tái quỷ nhất xa, tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ, phỉ khấu hôn cấu, vãng ngộ vũ tắc cát.
上九: 睽孤. 見豕負涂, 載鬼一車, 先張之弧, 后說之弧, 匪寇婚媾, 往遇雨則吉.
Đọc Hào từ này, chẳng những đạo lí rất thần tình mà vân tự cũng li kì biến hóa, nếu Dịch ra cho hết lời hết ý, e làm nên một bộ đoản thiên tiểu thuyết.
Xin độc giả chịu khó nhận cho kĩ thời đã bổ ích về con đường xử thế, lại bổ ích về lối làm văn. Đây trước xin thích nghĩa chữ một.
Thỉ, con heo; phụ, đội; đồ, bùn; tải, chở; quỉ, ma quỉ; trương, giương lên; hồ, cái cung; thoát, cởí ra; khấu, thằng giặc; hôn cấu làm thông gia; vãng, từ đây sắp qua; ngộ vũ, đụng lấy mưa.
Bây giờ thích ý nghĩa toàn văn: Ở về thì Khuê là chính lúc nhân tình nghi kị nhau, dầu đến cha con, anh em cũng khó khỏi li tâm, li đức, huống gì những bầu bạn, phe phái với nhau.
Thượng Cửu này ở cuối cùng quẻ Khuê là Khuê chi cực, Khuê đã đến cực điểm thời chuyện nghi nhau, ghét nhau là rất tầm thường, huống gì xử vào hoàn cảnh Thượng Cửu này, thiệt là khốn khó muôn phần. Lấy một mình dương cương mà ở vào địa vị tối cao, ngó xuống bề dưới thời chắc không người nào tin mình cả, thiệt là Khuê quai mà lại cô độc, nhưng may thay, Thượng Cửu ở về thể Li, vẫn có tính minh sát. Vì tính minh sát thái quá nên đụng đâu nghi đó, tuy một người chính ứng là Lục Tam vẫn chẳng đáng nghi kị gì, nhưng khổ vì Lục Tam ở vào giữa nhị dương nên khiến cho Thượng Cửu nghi nhị dương mà nghi luôn đến Lục Tam.
Đầu thời nghi nhị dương dỗ mất Lục Tam, đoạn rồi sợ Lục Tam theo nhị dương mà làm hại mình; nghi tâm sinh quỷ, nhận trắng làm đen, trong mắt Thượng Cửu ở lúc bây giờ thấy Tam kia in như hình con heo đội một cục bùn, nào có biết đâu người ta vẫn trong sạch mà mình nhận lầm làm dơ bẩn.
Chẳng những thế mà thôi, vì nghi sinh ghét, vì ghét mà lại càng thêm nghi, thậm chí giữa bạch nhật thanh thiên mà chụp bóng bắt hơi, lấy không làm có, hễ thốt nghĩ đến Tam thời xem như chở ma quỷ đầy một xe để làm ma trùng bắt mình. Ôi thôi! Lẽ trong thiên hạ thị hay phi, không hay có, đến lúc cùng tắc biến, sẽ có một ngày nước rặc đó trôi, phương chi Thượng là người vẫn sẵn tính cương minh mà tạm lại một người nhu thuận.
Một cặp bạn chính ứng ấy tất có một ngày mù nghi tan sạch, lẽ chính rõ ràng, tuy vì hoàn cảnh bùng bịt mà ghét giận nhau trong tạm thời, đến khi chủ nghĩa của hai bên đã rõ ràng, tâm lí hiểu thấu nhau, sắc giận sẽ hóa sắc vui.
Tượng như trước thời Thượng toan giương cung bắn Tam, sau lại cởi dây cung mà tạ lỗi cùng Tam rằng: Ủa ủa, chị Tam ơi! Chị thiệt không bao giờ có lòng làm hại tôi mà tôi quyết không phải là một người làm hại chị, chẳng qua tôi với chị cầu làm vợ chồng mà thôi.
Từ đó sắp đi, ý nghi kị đã hết sạch sành sanh, âm dương hòa hợp, kề vai chung cật mà cùng nhau gánh công việc cứu thì Khuê. Khuê cực mà hòa hợp với nhau, cái cảnh tượng vui vầy, cái tình ý đằm thắm, in như nắng lâu ngày gặp được trận mưa ngọt, tốt lành còn gì hơn.
PHỤ CHÚ: Đọc Hào từ này phải chia làm ba đoạn, ba câu trên là thuộc về đoạn trước hai bên đương nghi kị nhau, thần hôn mê loạn, lấy không làm có nên nỗi không phải heo mà thấy là heo; không phải quỷ mà thấy là quỷ, chính là lúc Khuê chi cực. Từ câu tiên trương chi hồ sắp xuổng ba câu là thuộc về đoạn giữa, lúc đó sắp đi, hết tương nghi mà bước vào tương tín, nên trước thời dương cung mà sau thời lột dây cung, biết ác cảm là sự huyền không mà ái tình mới là sự thực, đó là Khuê chung mà đã sắp sửa hợp. Vãng, ngộ vũ tác cát là thuộc về đoạn cuối, lòng Khuê nghi đã hết sạch mà tình hòa hợp càng đàm thắm, chính là cùng tắc biến, biến tắc thông, suốt cả bộ Dịch thảy đều có ý như thế.
Chẳng những cá nhân với cá nhân, dầu đến quốc gia, xã hội, hễ gặp thì Khuê quai thời tất có tình hình như Thượng Cửu với Lục Tam; chỉ cần thứ nhất là hai bên thảy đều đắc chính cả, phi bất Dịch thị chính tất thắng tà, tất nhiên cũng tiền hung hậu hỉ, người ta xử thế xin cố' công tìm bạn chính ứng mà chơi, hoàn cảnh thì Khuê, chúng ta không phải sợ.
Tượng viết: Ngộ vũ chi cát, quần nghi vong dã.
象曰: 遇雨之吉, 群疑亡也. Âm dương hòa với nhau mà nên mưa, cương, nhu hợp với nhau mà được cát, Hào từ nói rằng: "Vãng ngộ vũ tắc cát", nghĩa là, những tình trạng hồ nghi huyền hoặc như trước kia thảy tiêu mất ráo.
PHỤ CHÚ: Quẻ Khuê là một quẻ rất xấu trong Kinh Dịch, nhưng đến Hào từ, Tượng Truyện thời tuy có cay co lúng túng, nhưng đến kết quả thời không có gì xấu. Hào Sơ thời hối vong mà vô cựu; hào Nhị, hào Tứ thời thảy được vô cựu; hào Tam thời được hữu chung; hào Ngũ thời được hối vong. Tượng Truyện lại có câu: Vãng hữu khánh; hào Thượng Cửu thời được chữ cát mà Tượng Truyện lại thúc kết bằng câu: Quần nghi vong dã. Đó mới biết, duyên hợp sinh ở giữa lúc li, cơ phúc nấp ở giữa hồi họa.
Chúng ta chỉ lo không người tạo thời thế, chứ đừng lo không thời thế tạo mình, có lẽ đâu Khuê hoài, Khuê mãi mà không có một ngày thông thái rư ?
39. QUẺ THỦY SƠN KIỂN
Khảm trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Thủy Sơn Kiển.
Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Thủy Sơn Kiển.
TỰ QUÁI
Tự quái: Khuê giả quai dã, quai tất hữu nạn, cố thụ chi dĩ Kiển, Kiển giả nạn dã.
序卦: 睽者乖也, 乖必有難,故受之以蹇, 蹇者難也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khuê tiếp lấy quẻ Kiển là vi cớ sao?
Vì rằng: Hễ đương lúc Khuê quai, tất nhiên có Kiển nạn nên sau quẻ Khuê, tiếp lấy quẻ Kiển. Kiển, nghĩa là gay go hiểm trở. Theo như thể quẻ, Khảm ở trên, Cấn ở dưới, trên hiểm mà dưới phải chỉ. Trước mặt bị sông đón, sau lưng bị núi ngăn, đi đứng thiệt là khốn nạn nên đặt tên quẻ bằng Kiển.
SOÁN TỪ
Kiển, lị Tây Nam, bất lị Đông Bắc, lị kiến đại nhân, trinh, cát.
蹇利西南, 不利柬北, 利見大人, 貞吉.
Kiển là nguy hiểm rồi, người ở vào thì ấy mà lại cứ nhè vào đường lối hiểm trở mà đi, thế thời hiểm lại thêm hiểm; dầu hành động việc gì tất cũng không lợi.
Vậy chỉ nên tìm phương nào thản dị mà đi, không nên đi vào đường hiểm nên nói rằng: Lị Tây Nam, bất lị Đông Bắc. Tây Nam là phương hướng Khôn là đường lối thản dị, Đông Bắc là phương hướng Cấn là đường lối hiểm trở; lị đi vào đường lối thản dị, không lị đi vào đường lối hiểm trở là thì nghĩa ở thì Kiển.
Hễ trong thiên hạ đã tới thì Kiển nạn, người trong đời ấy ai cũng trông cho thoát khỏi vòng hiểm nạn, nhưng công việc cứu Kiển thoát nạn, há phải những hạng người tầm thường mà làm nên rư?
Cửu được Kiển, thoát được nạn, tất phải nhờ người phi thường, mà người phi thường đó là ai? Chính là bậc đại nhân nên nói rằng: Lị kiến đại nhân. Đại nhân, tức là thánh hiền có đại tài đại đức, chứ không phải đại nhân như tục ta thường gọi đâu! Đó lại là một thì nghĩa ở đời Kiển.
Lại một nghĩa nữa, hễ thường nhân gặp phải thì Kiển, hoặc kẻ thời bị hoàn cảnh xấu bắt buộc, hoặc kẻ thời bị làn sóng dữ xô đẩy đến nỗi biến tâm, dịch tính, bỏ chính theo tà, kết quả chỉ là tiểu nhân mà thân danh đến nỗi hỏng cả. Quân tử biết như thế nên bèn giữ một cách trinh chính, dầu hoàn cảnh xấu, cũng chẳng lay chuyển được mình, dầu phong trào dữ, cũng chẳng xô đẩy được mình, như thế thời kết quả được tốt lành.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Kiển nạn dã, hiểm tại tiền dã, Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai. Kiển lị Tây Nam, vãng đắc trung dã, bất lị Đông Bắc, kì đạo cùng dã. Lị kiến đại nhân, vãng hữu công dã, đang vị trinh cát, dĩ chính bang dã. Kiển chi thì dụng đại hĩ tai.
彖曰: 蹇, 難也, 險在前也. 見險而能止, 知矣哉. 蹇利西南, 往得中也, 不利東北, 其道窮也. 利見大人,
往有功也, 當位貞吉, 以正邦也. 蹇之時用大矣哉.
Soán viết: Kiển nạn dã, hiểm tại tiền dã. Kiển, nghĩa là nạn, vì Khảm hiểm ở trước mặt mà không tiến được vậy.
PHỤ CHÚ: Nghĩa tên quẻ có ba quẻ in nhau; Kiển, Truân, Khốn, thảy thích nghĩa bằng nạn, nhưng ý tứ thời có khác nhau. Truân thời bắt đầu vào nạn; Khốn thời khi nạn đã đến lúc cùng; Kiển thời chính giữa lúc nạn, muốn tiến lên mà bị Khảm thủy đón ở mặt trước, muốn thối lui thời bị Cấn sơn ngăn ở mặt sau, tượng như đại tướng ra trận mà sụp vào giữa trùng vi nên đặt tèn bằng Kiển.
Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hỉ tai.
Đây lại không nói bằng tượng quẻ mà chỉ nói bằng đức quẻ. Thượng Khảm là có tính hiểm, hạ Cấn là có tính chỉ, thấy cơ hiểm mà hay chỉ, thiệt là người rất khôn đó rư.
Chữ trí ở đây là hay kiến hiểm nhi năng chỉ, việc thiên hạ không chốn nào không thấy có hiểm, mà hiểm thứ nhất là nhân tâm; khi hiểm đã hình hiện rồi thời dầu thường nhân cũng dòm thấy được, duy hiểm đương ẩn nấp ở chốn vô hình thời tất duy thánh triết mới thấy được trước. Chữ kiến ở đây là cốt thấy ở khi cơ tiên kìa vậy.
Kiến hiểm nhi năng chỉ với kiến cơ nhi tác cũng chỉ là một cặp nhãn quang nên gọi bằng trí.
Kiển lị Tây Nam, vãng đắc trung dã, bất lị Đông Bắc, kì đạo cùng dã.
Tây Nam là dựa theo lối bình thản mà đi thời giữ được đạo trung vậy. Nếu nhè vào đường lối hiểm mà đi thời tất nhiên đường lối đi phải cùng vậy. Tây Nam là đường lối bình dị, Đông Bắc là đường lối hiểm trở, nên nói lị Tây Nam, bất lị Đông Bắc; chữ Tây Nam, chữ Đông Bắc là mượn danh từ đã thiết để tỏ chỉ cho người đời một phương hướng rằng: Nên đi đường bình dị, không nên đi đường hiểm trở, chứ không phải nhất định có phương Tây Nam, phương Đông Bắc như các nhà thuật số nói đâu.
Lị kiến đại nhân, vãng hữu công dã, đang vị trinh cát, dĩ chính bang dã.
Hễ đến thì Kiển nạn thời những công việc duy trì thế đạo, khuông cứu thì gian, tất phải chờ đến tay đại tài đại đức nên phải lị kiến đại nhân.
Lị kiến đại nhân thời tấn hành mới được hữu công, lại phải ở được vị trung chính làm được đạo đại chính, mới chính được bang quốc mà qua khỏi được thì Kiển nạn nên nói rằng trinh cát. Kiên chi thì dụng đại hĩ tai. Ở vào thì Kiển, có đạo tế Kiển; có công dụng tế Kiển, tất phải có cặp mắt xem thì, có trí khôn ứng biến, có thủ đoạn đại hữu vi. Nếu không phải thánh hiền mà kiêm cả anh hùng thời chẳng làm nên, cái công dụng đó thiệt là to lớn nên lại tán rằng: Công dụng ở về thì Kiển thiệt lớn vậy thay!
PHỤ CHÚ: Quẻ Khảm, quẻ Kiển, quẻ Khuê, ở những thì ấy thảy là nghịch cảnh, nhưng hay lị dụng được thì ấy sẽ chuyển di được nghịch cảnh làm ra thuận cảnh thời công nghiệp mới lớn vậy, nên thánh nhân ở ba quẻ ấy, thảy nói chữ thì mà kiêm cả chữ dụng. Vì rằng: Những bậc người hay dụng được thì ấy thời trong thiên hạ không ngày nào mà không hữu vi được. Như thế thời biết đươc nghĩa chữ thì bao bọc được rất lớn. Nếu chỉ chờ đến thì thái bình thản thuận mà sau mới hữu vi được thời còn gì là nghĩa chữ thì, nên thánh nhân ở ba quẻ ấy, thảy tán rằng: Thì dụng đại hĩ tai.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Sơn thượng hữu thủy, Kỉển. Quân tử dĩ phản thân tu đức.
象曰: 山上有水, 蹇. 君子以反身修德.
Cấn sơn vẫn đã hiểm trở mà ở trên lại có Khảm thủy là thêm một tàng hiểm trở nữa. Thế là tượng Kìển nạn, quân tử gặp phải thì Kiển nạn thời nên dường nào?
Chỉ nên trở lại xét trong mình mà tu thêm đức. Đức nhân mình tới nơi, tất được nhiều người yêu mến; đức trí mình tới nơi thời dầu nhân tâm hiểm cũng chẳng sợ; đức dũng mình tới nơi thời dầu đường đời hiểm, mình cũng chả lui, đó là đạo tế Kiển vậy. Chữ đức ở đây, chính là chữ tam đạt đức ở sách Trung Dung, tức là "trí", "nhân", "dũng". Ở vào thì Kiển mà xét lại trong tâm thân, tu được ba đức ấy, có lo gì Kiển nạn nữa đâu.
PHỤ CHÚ: Quẻ Khốn với quẻ Kiển cảnh ngộ có hơi giống nhau, nhưng Tượng Truyện quẻ Khốn thời nói rằng "trí mệnh toại chí"; Tượng Truyện quẻ Kiển thời nói rằng "phản thân tu đúc"; hai việc đó có khác nhau, nhưng há phải trái nhau đâu. Kiển với Khốn thì có khác nhau nên quân tử tùy thì tùng đạo cũng có khác nhau. Kiển là nạn đương ở trung gian, chẳng qua khó khăn gay go mà thôi nên quân tử phải phản thân tu đức, lánh thân thoát nạn; còn như thì Khốn thì nạn đã đạt ở cực điểm, quân tử gặp thì ấy, chỉ có một cách trí mệnh toại chí, nghĩa là vứt cái sinh mệnh để hoàn toàn chí tiết của mình, việc tuy khác nhau, nhưng cũng chung một đạo tùy thì của quân tử.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Vãng
kiển, lai dự. 初六: 往蹇, 來譽.
Ở vào thì Kiển là thì Kiển nạn. Sơ Lục bản chất âm nhu, vẫn không tài tế Kiển, may mới bắt đầu vào thì Kiển, nếu không kiến cơ tri thì mà toan muốn thượng tiến, tất phải sụp vào giữa Kiển, như thế thời vãng là Kiển.
Nếu Sơ kiến cơ tri thì, ngồi im yên phận thời tất nhiên kết quả được tiếng khôn ngoan, thế là lai thời có danh dự.
Nghĩa chữ "lai" phản đối với chữ "vãng". Tiến lên là "vãng"; không tiến lên mà chỉ là "lai". Lai dự cũng như lời Lão Tử nói: Biết chỉ lại thời không bao giờ nguy.
Tượng viết: Vãng kìển lai dự, nghi đãi dã.
象曰: 往蹇來譽, 宜待也.
Vừa đầu thì Kiển, tiến lên thời Kiển thêm, chỉ duy nên ngồi lặng mà chờ thì. Vì vậy nên nói rằng: Lai dự.
2. Lục Nhị: Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố.
六二: 王臣蹇蹇, 匪躬之故.
Lục Nhị có đức nhu thuận trung chính mà ở trên có hào Cửu Ngũ là một vị quốc trưởng, lấy đức dương cương, trung chính mà đồng đức với Nhị, phó thác cho Nhị gánh lấy việc tế Kiển. Thế thời Nhị chính là một bậc vương thần, gặp thì vận Kiển, được quốc trưởng tín nhậm mình, không lẽ trút gánh tế Kiển cho ai được, chỉ hữu mang thân Kiển nạn mà chống chọi với đời Kiển gian nan không quản, nguy hiểm không từ, đó thiệt là vương thần kiển kiển.
Nhưng sở dĩ kiển kiển là cốt theo tấm lòng Cửu Ngũ, trên vì nước, dưới vì dân, há vì cớ thân riêng rư? (Cung: thân mình; phỉ: chẳng phải; cố: cớ).
PHỤ CHÚ: Tận trung kiệt tiết như Lục Nhị, nhưng Hào từ chỉ nói kiển kiển phỉ cung mà không thấy nói tới công hiệu.
Than ôi! Phù nguy cứu hiểm cần phải có bậc đại tài, Nhị bản chất âm nhu, có tài gì cứu được đại Kiển, nhưng tâm sự Nhị thời thiệt đáng khen.
Bài Xuất Sư Biểu của ông Khổng Minh có câu: "Tôi chỉ biết gò mình hết mệt, đến chết mà sau mới thôi, đến như thành hay bại, lị hay độn thời không phải sức mình của tôi mà thấy trước được" (thần duy cúc cung tận tụy tử nhi hậu kỷ; chí ư thành bại lợi độn, phi thần chi minh sở năng nghịch đổ dã - 臣惟鞫躬盡瘁死而後己, 至於成敗利鈍, 非臣之明所能逆睹也), thiệt đúng như nghĩa hào này.
Sử nước ta như ông Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị ở đời Trần cũng bậc người ấy.
Tượng viết: Vương thần kiển kiển, chung vô cựu dã.
象曰: 王臣蹇蹇, 終無咎也.
Một bậc vương thần liều thân mà trung với nước, tuy kiển qua kiển lại chẳng thành công mặc dầu, nhưng tâm sự vẫn lỗi lạc, nghĩa vụ cũng hoàn toàn, kết quả thiệt không điều gì đáng chê trách.
3. Cửu Tam: Vãng kiển, lai phản.
九三: 往蹇來反.
Cửu Tam này dương cương đắc chính ở trên hết hạ thể nhưng cũng vẫn còn ở hạ thể, chính ứng với Tam là Thượng Lục thời âm nhu vô vị không lấy gì giúp đỡ được mình mà ngó xuống hai hào âm là Sơ với Nhị, âm nhu tất phải dựa vào dương cương, cứ theo như hoàn cảnh Cửu Tam qua lên mà cầu Thượng Lục cũng không ích gì, đã không ích gì thời có phần thiệt hại.
Vậy nên vãng thời kiển, âu là quay lại mà liên kết với bạn nhị âm, bởi vì họ đã quy phụ với mình mà mình lại phản với họ thời vây cánh có thể vững vàng mà may ra khỏi được sự Kiển nạn chăng? Nên Hào từ nói rằng: Lai phản (Phản: trở về, chẳng vãng tức là phản; lai phản nghĩa là bảo nên trở lại với nhị âm, không nên tiến lên tìm Thượng Lục).
Tượng viết: Vãng kiển, lai phản, nội hỉ chi dã.
象曰: 往蹇來反, 内喜之也.
Không nên vãng kiển, chỉ nên lai phản là vì hai âm ở Nội Quái thảy sẵn lòng hoan nghênh Cửu Tam đó vậy (Nội là chỉ vào hai hào âm ở dưới).
PHỤ CHÚ: Ở vào thì Kiển nạn, cần thứ nhất là người có tài, đã có tài lại cần phải có bạn. Sơ với Nhị vì âm nhu mà không tài nên phải ỷ lại vào Cửu Tam. Cửu Tam tuy có tài dương cương, nhưng lại khổ nỗi không bạn đồng đức nên phải ríu rít với hai âm, liên quần còn hơn cô lập, không dại gì một mình chạy quàng mắc lấy Kiển thêm, đó là ý thánh nhân dạy cho ta liệu thì mà xử thế đó vậy.
4. Lục Tứ: Vãng kiển, lai liên.
六四: 往蹇來連.
Lục Tứ đã thoát khỏi hạ thể mà bắt đầu bước vào thượng thể Khảm hiểm, hiểm còn chưa sâu, còn có thể thoát được. Nêu Tứ không đạt thì lưỡng lực làm một cách lên bướng chạy liều thời lên chừng nào, càng hiểm thêm sâu chừng ấy. Thế là Vãng Kiển.
Bây giờ nghĩ cho Tứ một phương pháp ở thì Kiển, kề tận mình có Cửu Tam, Tam lại có thế lực dắt được nhị âm, thiệt là một người sừng sỏi trong thì Kiển. Nếu Tứ biết thối lại mà liên lạc với Tam: Tam lại dắt dìu Nhị âm mà làm một bè với mình, phương pháp của Tứ ở thì Kiển như thế là rất hay nên Hào từ lại nói rằng: Lai liên.
Lai nghĩa là lai với Cửu Tam; liên nghĩa là liên hợp với ba hào Nội Quái. Tứ liên với Tam, Tam lại liên với Nhị âm, có thể thành được một đảng lớn, đó là một cách rất hay ở đạo tế Kiển.
Tượng viết: Vãng Kiển lai liên, đương vị thực dã.
象曰: 往蹇來連, 當位實也.
Tứ sở dĩ lai với Tam: mà liên hợp cả nhị âm, vì bốn hào ấy thảy ở vào địa vị thì Kiển mà đem một tấm lòng thành thực cứu nhau ở giữa đời hoạn nạn, còn gì tốt hơn.
5. Cửu Ngũ: Đại
kiển, bằng lai. 九五: 大蹇朋來.
Cửu Ngũ ở chính giữa Ngoại Khảm, đã ở thì Kìển nạn mà lại đứng giữa Khảm hiểm, thiệt là đã Kiển phi thường, huống gì thân mình lại ở vị chí tôn, trăm đâu đổ cả đầu tằm, thì Kiển nạn lại càng to lớn nên nói rằng: Đại kiển.
Kiển đã to lớn như thế, một cột đá ở giữa dòng nước chảy, một cây côi ở giữa trận gió thu, dầu Ngũ có tài dương cương đến thế nào cũng khó mong cho thoát khỏi Kiển nạn, nhưng may thay, ở dưới có hào chính ứng với mình là Lục Nhị là một bậc quân tử có đức trung chính. Nhị đã sẵn lòng giúp Ngũ tất dắt bầy kéo bạn đến giúp Ngũ khá đông. Bản thân đã dương cương lại có bạn trung chính giùm giúp cho mình, đó là việc đáng mừng cho Cửu Ngũ.
PHỤ CHÚ: Bằng lai mà không thấy nói cát hanh, thế thời công việc tế Kìển, chẳng hèn mọn lắm hay sao?
Phải, thiệt như thế.
Xưa nay, đời có phi thường chi biến, tất phải cậy có phi thường chi tài, mà có phi thường chi tài, mới nên được phi thường chi công. Bây giờ Ngũ tuy dương cương mà những người giúp công với Ngũ chỉ một Cửu Tam là dương cương, còn Lục Tứ, Lục Nhị, Sơ Lục thảy là bạn âm nhu. Nguyên thủ tuy có cương cường mà tay chân là đồ nhu nhược, ở vào thì Kiển mà chỉ có một mình Ngũ trổi hơn hết, lấy gì làm nên được công nghiệp phi thường được rư.
Vậy nên Hào từ không có chữ cát, hanh. Còn như các hào có nói chữ vãng lai mà Nhị, Ngũ thảy chỉ nói chữ Kiển là vì sao?
Bởi vì, Ngũ là bậc nguyên thủ, Nhị là bậc đại thần, trách nhậm quá chừng nặng nên nghĩa vụ không thể chối từ, chẳng lẽ gì mà thương lượng được vãng hay lai nữa. Vậy nên các hào thời lo cho vãng kiển. Duy Nhị, Ngũ thời dầu Kiển cũng phải vãng, mà nói lai cũng chằng biết lai vào đâu. Đó lại là ý thánh nhân, hi vọng cho những người có trách nhiệm ở về thì Kiển vậy.
Tượng viết: Đại kiển, bằng lai, dĩ trung tiết dã.
象曰: 大蹇朋來, 以中節也.
Đặt thân vào giữa Khảm hiểm, thiệt là nạn kiển hung lắm mà may được bằng lai là vì Ngũ này có đức trung chính vậy (Chữ tiết là thay cho chữ đức).
PHỤ CHÚ: Chữ trung ở về thì Kiển có đạo lí rất hay mà cũng thủ đoạn rất cao, cuộc đời đến khi điên đảo, việc đời đến hội rối ren, nếu nóng nảy quá một phân thời không trúng với đạo lí. Nếu trì trệ quá một phân thời hụt mất cơ hội nên cần nhất là chữ trung, xử trí đắc nghi, cương, nhu vừa phải, mới mong cứu được đại nạn mà thành được đại công, như thế là tác dụng của chữ trung mà cũng có thể gọi bằng chữ trung, trung thời trúng, trúng thời chẳng bao giờ trật.
Vậy nên, Tượng Truyện Cửu Ngũ kết thúc lấy chữ trung.
6. Thượng Lục: Vãng kiển, lai thạc, cát, lị kiến đại nhân.
上六: 往蹇來碩, 吉, 利見大人.
Đạo lí trong Dịch, quý trọng nhất là chữ thì, mỗi một hào có thì của hào ấy, ở thì Kiển mà đến hào Thượng Lục này là một dịp đáng mừng lắm.
Vì hào này ở cuối cùng quẻ, chính là thì Kiển đã đến lúc cuối cùng, Kiển đã cực rồi, tất nhiên phải thông, duy cốt bản thân hào Thượng, biết lựa thì mà xử trí thời chắc được tốt lành, nên Hào từ lại dạy cho rằng: Mình đã ở thì Kiển cực, mình nên tự xét địa vị của mình, tự liệu tài mình là âm nhu. Không thể một mình mạo hiểm mà đi được. Nếu mình không lượng lực mà cứ đi càn thời Kiển chỉ hoàn Kiển, chi bằng mình cứ ngồi im mà lo tìm bạn dương cương, kề bên mình có hào Cửu Ngũ là bậc dương cương, trung chính, rất đủ tài lực mà giúp đỡ cho minh nên nói rằng lai thạc cát, nghĩa là, mình hãy quày lại mà tìm người phụ bật thời có lẽ làm nên được việc lớn mà được tốt lành.
Thạc là to lớn, cũng như nghĩa chữ thạc ở quẻ Bác là chỉ vào hào dương cương, nhưng mà chỉ nói "lai thạc", thánh nhân còn sợ chúng mình không hiểu nên lại nói thêm rằng: Lị kiến đại nhân. Đại nhân là chỉ vào hào Cửu Ngũ, toàn quẻ duy Cửu Ngũ dương cương đắc trung mà lại ở tôn vị, chính là bậc đại nhân hữu tài hữu đức mà Thượng Lục nên lị kiến người ấy đó vậy.
PHỤ CHÚ: Thượng Lục kể tài không bằng Cửu Tam, kể vị với đức thời không bằng Cửu Ngũ, kể tính âm nhu có khác gì Sơ, Nhị, Tứ đâu, nhưng cớ sao các hào kia không được chữ cát mà một mình Thượng lại được cát? May phúc cho Thượng vì Thượng đã ở vào thì Kiển cực, vật cùng tác phản, cùng cực tắc thông, đó là lẽ tự nhiên. Nếu Thượng không biết lai thạc, không biết lị kiến đại nhân thời làm gì được cát rư?
Mới biết rằng: Nhân sự với khí số thường giúp nhau mà nên, cũng thường tranh nhau mà thắng. Xem như hào cuối cùng quẻ Kiển có chữ cát mà năm hào trước kia thảy không hung, hối, lẫn. Đó mới biết thánh nhân bàn đạo lí có bao giờ đổ tại khí số đâu mà chỉ cốt ở hai chữ "thì trung".
Nếu nhân sự mà đúng được thì trung thời dầu khí số xấu thế nào, chúng ta cũng thây kệ.
Tượng viết: Vãng kiển, laì thạc, chí tại nội dã, lị kiến đại nhân, dĩ tòng quý dã.
象曰: 往蹇來硬, 志在内也, 利見大人, 以從貴也.
Thượng Lục ứng với Tam, thân với Ngũ, sẵn lòng cầu trợ với bạn dương cương trong mà lại biết phục tòng với hào quý là hào Cửu Ngũ mà chúng đã tín ngưõng bằng đại nhân nên Hào từ nói: Lai thạc, cát (Chữ quý là chỉ vào Cửu Ngũ).
40. QUẺ LÔI THỦY GIẢI
Chấn trên; Khảm dưới
Quẻ này là quẻ Lôi Thủy Giải. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Khảm thủy, nên tên quẻ gọi bằng Lôi Thủy Giải.
TỰ QUÁI
Tự quái: Kiển giả nạn giả, vật bất khả dĩ chung nạn, cố thụ chi dĩ Giải, Giải giả hoãn dã.
序卦: 蹇者難也, 物不可以久難, 故受之以解, 解者緩也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải là vì cớ sao?
Trên kia là Kiển, Kiển nghĩa là nạn, vật không lẽ cứ nạn hoài, nạn cực rồi, tất có lúc tan, nên sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải.
Giải nghĩa là tan, bao nhiêu việc khốn nạn đến bây giờ đều giải tán cả. In như tượng quẻ, Chấn là lôi, Khảm là vũ, âm dương giao cảm hòa xướng mà đồng thì mưa sấm lung tung, bao nhiêu khí u uất đến lúc bây giờ giải tán hết ráo, ấy là chữ Giải. Nên đặt tên quẻ bằng Giải.
SOÁN TỪ
Giải, lị Tây Nam, vô sở vãng, kì lai phục, cát, hữu, du vãng, túc cát.
解利西南, 無所往, 其來復, 吉, 有攸往, 夙吉.
Thời đại vừa đến lúc Giải, Kíển nạn vừa qua, nhân tâm yếm loạn, ai nấy chỉ trông được an cư lạc nghiệp là hay. Hễ những người có quyền chính trị ở lúc bây giờ, chỉ làm một cách khoan đại giản dị, chớ nên làm những cách phiền hà rối ren, vậy nên Quái từ nói: Giải, lị Tây Nam (Tây Nam là đường lối khoan đại bình dị, chinh thể theo cách khoan giải, thí dụ như đi về Tây Nam).
Đến khi thiệt đã bình an vô sự rồi, như đã đi đường lối Tây Nam là chốn nhất định lâu dài, lúc bấy giờ chỉ nên sửa sang lại những tích tệ, giữ gìn lấy trật tự cũ. Không cần phải sinh sự nhiễu dân làm gì nữa, ấy là vô sở vãng, kì lai phục.
Vô sở vãng, nghĩa là chớ có làm gì đa sự; kì lai phục (chữ kì đây là phát ngữ từ) nghĩa là bao nhiêu trật tự cũ thời khôi phục lại cho y nhiên, bao nhiêu nhân dân cũ thời hồi phục lại cho an lặng, bao nhiêu nền tảng cũ thời xây đắp lại cho hoàn toàn, ấy là nghĩa chữ lai phục, lúc đã giải rồi, chỉ có thế là được cát.
Tuy nhiên, khi loạn đã trừ rồi, tất phải đồ trị, bảo chỉ một mực vô vi mà thôi thời sợ mắc lấy bệnh nhân tuần cô tức, nên những việc bảo chướng trị an, phế trừ tích tệ, mong cho nền tảng trị bình được lâu dài, tất phải có việc đáng làm.
Những việc đáng làm đó, tất phải làm gấp ngay thời chẳng những việc loạn cũ không mầm tái sinh mà sự nghiệp thái bình lại có cơ nảy nở nên lại nói rằng: Hữu du vãng, túc cát (Hữu du vãng nghĩa là có việc phải làm; túc nghĩa là làm cho lanh chóng). Tỉ như: Họa loạn đã bình rồi, phải gấp lo phát chính thi nhân; ác đảng đã tan rồi, phải gấp lo tiến hiền cử năng, thảy là nghĩa "hữu du vãng túc cát" đó vậy.
Thích tóm lại, lị Tây Nam là cốt theo đường giản dị; vô sở vãng là không nên thêm chuyện làm rầy; kì lai phục là làm cho hồi phục lại như khi chưa loạn; hữu du vãng là tính một cách làm trị an được lâu dài; túc là gặp dịp phải làm mau.
PHỤ CHÚ: Đọc sử Tàu, trải qua loạn Tần Sở, thiên hạ khôn khổ suốt ba mươi năm, đến lúc Hán hưng, Tào Tham bắt đầu làm tướng, nhất thiết lấy thanh tịnh vô vi vi trị, thiên hạ xưng Tào Tham là hiền tướng, đó là nghĩa: Vô sở vãng, kì lai phục cát.
Lại như: Hồi Tam Quốc nhiễu loạn, ông Khổng Minh trì nước Thục, khuyên dân cày cấy, rộng mở đường sinh lí cho dân, thiết lập nhiều nhà học hiệu, giảm phú thuế, tuyển dụng những quan lại hiền năng, tu lí hết kiều lương đạo lộ, chỉ trong mười năm mà trong nước Thục thành ra một nước thái bình nhỏ. Người trong đời xưng Khổng Minh trường ở trì quốc, đó là nghĩa câu: Hữu du vãng, túc cát.
Soán viết: Giải, hiểm dĩ động, động nhi miễn hồ hiểm, Giải. Giải lị Tây Nam, vãng đắc chúng dã. Kì lai phục, cát, nãi đắc trung dã. Hữu du vãng, túc cát, vãng hữu công dã. Thiên địa giải, nhi lôi vũ tác, lôi vũ tác, nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hĩ tai.
彖曰: 解, 險以動, 動而免乎險, 解. 解巧西南, 往得衆也. 其來復, 吉, 乃得中也. 有攸往, 夙,
吉, 往有功也. 天地解而雷雨作, 雷雨作而百果草木皆甲晳. 解之時大矣哉.
Soán viết: giải, hiểm dĩ động, động nhi miễn hồ hiểm, Giải.
Đây là lấy đức quẻ thích nghĩa tên quẻ, Khảm là có tính hiểm, Chấn là có tính động, vì hiểm mà sinh ra nạn, vì động mà thoát được nạn, ngộ hiểm mà còn động được, mới thấy được người có tài, động mà thoát khỏi hiểm mới thấy có tài giải nạn nên đặt tên quẻ là Giải.
Giải, lị Tây Nam, vãng đắc chúng dã.
Vì sao mà nói Giải lị Tây Nam?
Bởi vì thì Giải chỉ nên đi vào đường lối quảng đại, khoan bình thời tất được lòng người thuận về với mình, sẽ làm chóng được công việc Giải.
Kì lai phục, cát, nãi đắc trung dã.
Khi họa hoạn đã giải tán rồi thời chỉ nên trở lại đường lổì an tịnh, nghĩ một cách trị an cho được lâu dài nên nói rằng: Kì lai phục cát, nghĩa là có như thế mới được đạo trung vậy. Chữ trung ở đây là bảo cho chớ phiền nhiễu mà cũng chớ quá cô tức, chi cốt cho vừa đắc trung là hay.
Hữu du vãng, túc cát, vãng hữu công dã.
Tuy nhiên, theo về đạo giải nạn thời khi nạn đã giải rồi còn phải tính sao cho nạn khỏi tái phát, há phải vô sở vi mà thôi đâu, việc đáng vô sở vi thời vô vi, việc đáng hữu sở vi cũng tất phải hữu vi nên lại nói rằng: Hữu du vãng, túc cát, nghĩa là: cũng phải có tấn hành thời mới hữu công ở thì Giải.
Thiên địa giải, nhi lôi vũ tác, lôi vũ tác, nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hĩ tai.
Chữ thiên địa đây là chỉ nói về khí âm dương. Khí âm dương còn u uất thời vạn vật khó phát sinh, đụng có một ngày khí âm dương hòa hoãn giải tán mà mưa sấm trong một lúc bùng tóe ra, mưa sấm đã đồng thì tác dụng, mà lúc bấy giờ cây cỏ cho đến trăm thức hoa quả thảy nứt nở. Tùng lai, thế đạo chưa đến hồi giải thời nhân tình còn u uất, sát khí còn bịt bùng, muốn bỏ việc dở mà chưa có dịp ra tay, muốn làm trăm việc hay, mà chưa có đường gỡ múi.
Bây giờ đã đến thì Giải thời bao nhiêu nỗi uất tắc đã thư tán, bao nhiêu đường bế tắc đã mở rộng, bao nhiêu sát cơ đã dẹp sạch mà sinh cơ vừa vụt vụt vùng vùng, bao nhiêu việc hại có thể trừ bỏ ngay, bao nhiêu việc cơ có thể hưng khỉ được ngay. To lớn vậy thay, là thì Giải đó vậy, nên nói rằng: Giải chi thời đại hĩ tai.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: lôi vũ tác, Giải, quân tử dĩ xá quá hựu tội.
象曰: 雷雨作, 解. 君子以赦過宥罪.
Lôi vũ tác là tượng quẻ Giải, Chấn vi lôi, Khảm vi vũ, tượng là khí âm dương hòa giải mà thành ra sấm mưa. Quân tử xem tượng ấy, theo như lòng nhân trời đất mà thi ân trạch với dân làm một cách khoan đại, gặp những người có lầm lỗi thời xá quách cho họ, gặp những đứa có tội ác thời khoan thứ cho nó (Xá nghĩa là tha bổng, vì nó chỉ quá thất thời xá ngay; hựu nghĩa là khoan thứ cho, vì nó phạm vào tội ác không có thể tuyên xá được nên dùng bằng cách khoan hựu. Tỉ như: hình phạt đáng án nặng mà giảm cho nhẹ án. Nhân ân như thế là một cách tùy thì của quân tử ở thì Giải.
Ngoài nữa, còn có nhiều việc thời đã có Quái từ, Soán Truyện, Hào từ nói đủ rồi, chúng ta chớ thấy Tượng Truyện mà bảo rằng chỉ có bấy nhiêu là xong, thể phép đọc Dịch tất thảy như thế.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Vô cựu.
初六: 無咎.
Sơ Lục này, trong Hào từ không một lời gì, chúng ta nên nhận ý thánh nhân ở chốn không chữ. Bởi vì ở thì Giải mà hào này lại bắt đầu vào thời đại ấy, chất nhu mà xử vào vị dương là một người cương, nhu đắc nghi, lại ở vào đầu thì Giải, chính là thì nên an tịnh hưu tức, bảo Sơ làm việc gì thời chưa có việc gì đáng làm, bảo Sơ không làm việc gì thời Sơ vẫn là người vô sự. Bởi thì nghĩa, ở hào Sơ chỉ nên êm đềm lặng lẽ là đúng nghĩa rồi.
Vậy nên Hào từ không thêm một chữ gì, chính là tỏ ý vô vi đó vậy. Lẽ trong thiên hạ, duy có làm mới sinh ra lỗi, đã không làm thời lỗi còn sinh ở đâu nên chỉ hai chữ. Sơ Lục là đạo lí xử đầu thì Giải đã xác định rồi cho nên Hào từ chỉ thêm hai chữ vô cựu là đủ.
Tượng viết: Cương, nhu chi tế nghĩa vô cựu dã.
象曰: 剛柔之際, 義無咎也.
Hào Sơ nhu ứng với hào Tứ cương, thế là cương mà pha vào nhu, nhu mà chế thêm cương, chẳng thiên vào cương mà cũng chẳng thiên vào nhu, cương, nhu chi tế là cái thủ đoạn ở đầu thì Giải rất hay, cứ theo thì nghĩa thiệt không gì đáng trách lỗi.
2. Cửu Nhị: Điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh, cát.
九二: 田擭三狐, 得黄矢, 貞吉.
Ở về thì Giải, hoạn nạn đã giải tán mà địa vị Cửu Nhị xử vào giữa Nội Quái, bản thân Nhị dương cương đắc trung mà ứng với Lục Ngũ ở Thượng Quái. Ngũ là tượng một vị nguyên thủ, thì đã tiến, thế cũng khá mạnh, há lẽ như Sơ Lục mà xong được rư!
Nhị vì địa vị trách nhiệm như thế nên phải một cách duy trì trị an, phòng bị hậu hoạn, trừ khử cho hết nọc tiểu nhân, bảo tồn lấy những người trung trực, tượng như ông chủ săn trong lúc đi săn bắt sống được ba con hồ mà lại giữ được mũi sặt vàng (Hồ là một giống muông tà mị, bắt được ba con hồ, nghĩa là chụp óc được ba anh tiểu nhân đầu bầy; hoàng là sắc trung; thỉ là mũi sặt là một giống ngay thẳng; đắc hoàng thỉ là giữ gìn được hạng người trung trực). Ở vào thì Giải, lại có địa vị như Cửu Nhị, nếu trừng trị được tiểu nhân, giữ gìn được trung trực, thế còn gì tốt hơn. Nhưng còn lo cho Cửu Nhị, công việc ở thì Giải thời còn bộn bề mà sợ Cửu Nhị lâu ngày sinh mỏi, không bền giữ được đạo cương trung, nên Hào từ lại răn cho hai chữ trinh cát, nghĩa là có bền giữ được đạo trung chính, mới được cát.
Tượng viết: Cửu Nhị trinh cát, đắc trung đạo dã.
象曰: 九二貞吉, 得中道也.
Cửu Nhị mà còn phải răn bằng trinh cát, nghĩa là: Mình tuy chính trực, nhưng phải giữ cho được đạo trung, bởi vì chính trực mà nếu bất trung, cũng thường hay cấp kích thái quá mà té ra hỏng việc. Vậy nên Tượng Truyện lại nói: Đắc trung đạo dã.
3. Lục Tam: Phụ thả thừa, trí khấu chí, trinh lẫn.
六三: 負且乘, 致寇至, 貞吝.
Lục vẫn đã âm nhu mà ở vào vị Tam là vị dương cương, thế là sở xử bất chính, đã bất chính lại bất trung là một hạng tiểu nhân, thế mà nhảy lên trên Nội Quái là vị khá cao, tiểu nhân nhi cư cao vị, có khác gì một hạng người vừa mang đội, vừa ngồi xe ngất ngưởng khó xem, thế ai cũng ghét, chỉ làm ngứa mắt cho bọn trộm cướp mà dắt trộm cướp tới hại mình. Nếu Tam giữ lấy cách ấy mà không chừa thiệt đáng xấu hổ. (Chữ trinh ở đây chỉ có nghĩa là cố thủ, không phải trinh là chính như nghĩa ở các hào khác. Phụ là mang đội, lưng đội vai mang là việc của tiểu nhân; thừa nghĩa là cỡi xe là đồ sang trọng để đãi người quân tử).
PHỤ CHÚ: Hào từ Hệ tử đã giải nghĩa rất kĩ, tiện dịch ra đây. Hệ tử nói rằng, người làm Dịch thiệt biết được tình trạng của bọn trộm cướp đó, và Dịch đã tửng nói rằng: Phụ thả thừa trí khấu chí, nhưng bọn trộm cướp há phải tự nhiên vô cớ mà nó tới đâu. Mang đội là công việc của tiểu nhân, xe cộ là khí cụ để đãi phường quân tử. Lấy mình là tiểu nhân mà cỡi ngang khí cụ của quân tử, chỉ xui khiến cho bọn trộm cướp trù tính cách cướp mà thôi.
Xưa nay làm việc một nhà một nước hoặc một xã hội, người ở trên thời lờn lã loàng xoàng, người ở dưới thời ỷ thế hoành hành, tất nhiên bọn trộm cướp tính cách đánh đuổi ngay. Chẳng những thế mà thôi, lẽ thường trong thiên hạ, nhà giàu có của mà sơ sài cách thu giấu là dạy cho trộm cướp vào lấy của mình.
Con gái có dung dáng mà ngày đêm trau dồi là dạy cho tụi gian dâm đến hiếp mình. Nếu mình không mạn tàng thời trộm cướp biết đâu mà tới, nếu mình không dạ dung thời đứa dâm nào ngó tới, nên Hào từ trong Dịch nói rằng: Phụ thả thừa trí khấu chí là thí dụ tiểu nhân mà lên mặt quân tử, chỉ là làm môi giới cho đạo tặc mà thôi.
Tượng viết: Phụ thả thừa, diệc khả xú dã, tự ngả trí nhung, hựu thùy cựu dã.
象曰: 負且乘, 亦可醜也. 自我致戎, 有誰咎也.
Tư cách một hạng người chỉ đáng mang đội mà lại ngồi xe cũng đáng xấu hổ vậy, tự giữa mình làm quấy mà dắt giặc tới nhà, lại còn trách lỗi được ai nữa. Giặc lớn gọi bằng nhung, giặc bé gọi bằng đạo, chữ nhung thay cho chữ khấu.
4. Cửu Tứ: Giải nhi mẫu, bằng chí tư phu.
九四: 解而拇, 朋至斯孚.
Chữ nhi là đại danh từ, nghĩa là mày, chỉ vào bản thân hào Tứ. Mẫu là ngón chân cái, chỉ vào Sơ Lục. Cửu Tứ có tài dương cương lại ở vào địa vị trên, thân cận với Lục Ngũ là vị nguyên thủ. Thế là bản thân Cửu Tứ vẫn là một bậc quân tử đắc thì, nhưng vì hạ ứng với Sơ là âm nhu tiểu nhân, tất đến nỗi bè quân tử không ai dám gần mình, nên thánh nhân răn cho Tứ rằng: Tứ vẫn là người tốt, song vì chính ứng với Tứ là Sơ Lục. Sơ Lục là một hạng âm nhu tiểu nhân, nếu Tứ muốn được lòng quân tử thời gấp mau tuyệt giao với Sơ; tiểu nhân đã tránh xa thời bè quân tử mới vui tới mà tín cẩn Tứ. Giải nhi mẫu nghĩa là cắt quách ngón chân cái của mày; Sơ ở dưới là vi tiện mà dính líu với Tứ, nên thí dụ bằng mẫu. Xa tránh Sơ tức là giải nhi mẫu.
Tượng viết: Giải nhi mẫu, vị đáng vị dã.
象曰: 解而拇, 未當位也.
Tứ vẫn dương cương, nhưng xử vị âm nhu là vị không được chính đáng vậy. Vì có hiềm nghi như thế nên răn rằng giải nhi mẫu, xa được lũ tiểu nhân thời bè quân tử tới. Vậy nên li thoát Sơ sẽ bổ cứu cho Tứ đó vậy.
5. Lục Ngũ: Quân tử duy hữu giải, cát, hữu phu vu tiểu nhân.
六五: 君子維有解, 吉, 有孚于小人.
Toàn cả quẻ, hai hào dương là loài quân tử, bốn hào âm là loài tiểu nhân. Lục Ngũ này, đồng loại với ba hào âm, có hiềm nghi là không phải quân tử. Nhưng Ngũ ở địa vị chí tôn là người nguyên thủ trong một nước, Ngũ làm chủ ở thì Giải, quan hệ với thế đạo rất to, nên thánh nhân răn cho rằng: Tự thân Ngũ nếu là quân tử chẳng gì tốt hơn bằng cách hữu Giải, kìa Tam âm đồng loại với Ngũ, Ngũ gấp giải tán nó cho mau, như thế thời được cát. Giải: cắt đứt bọn tam âm; duy hữu: chỉ có cách ấy. Nhưng vì Ngũ cũng là âm nhu, không lấy gì chắc là quân tử, nên lại nói rằng: Hữu phu vu tiểu nhân. Chữ phu ở đây khác với nghĩa chữ phu ở mọi nơi. Muốn biết Ngũ làm được quân tử hay không, tất chứng nghiệm vào bọn tiểu nhân, tiểu nhân còn ở gần cạnh Ngũ thời Ngũ là tiểu nhân, tiểu nhân không dám thân cận với Ngũ thời Ngũ mới là quân tử. Xem ở tiểu nhân gần hay xa thời chứng nghiệm được Ngũ là ý Hào từ rất hi vọng cho Ngũ.
Tượng viết: Quân tử hữu giải, tiểu nhân thối dã.
象曰: 君子有解, 小人退也.
Quân tử hữu giải thời chứng nghiệm vào chốn nào? Nghiệm vào nơi tiểu nhân, tiểu nhân lui hết thời biết đạo quân tử đã tấn rồi vậy.
PHỤ CHÚ: Kiển với Giải là hai quẻ tiếp nhau. Kiển là chính giữa lúc hoạn nạn, Giải là khi hoạn nạn đã tán rồi; thời thế khác nhau thời nhân tài cũng phải khác nhau.
Vậy nên, đồng một hào Ngũ mà khác nhau chữ Cửu và chữ Lục. Cửu có đức dương cương nên có tài bát loạn mà cứu được Kiển nạn. Lục chẳng qua là tài âm nhu nên Hào từ hào Ngũ không dám quyết đoán. Kiển Cửu Ngũ thời nói rằng đại kiển bằng lai. Giải Lục Ngũ thời nói rằng hữu phu vu tiểu nhân. Ngũ tuy đồng mà Cửu với Lục không đồng nên Hào từ phải có cân lượng.
6. Thượng Lục: Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chi, vô bất lị.
上六: 公用射準于高墉之上, 獲之, 無不利.
Xạ nghĩa là nhè mà bắn; chuẩn là một giống chim rất dữ mạnh; cao dung nghĩa là bức tường cao; hoạch là bắn được. Toàn văn hào này thích qua, nghĩa là: Một vị công dụng bắn con chim chuẩn ở trên bức tường cao, bắn được nó; có tượng như thế, không việc gì là không lị.
Hệ tử thích nghĩa rất kĩ, xin tiện dịch ra đây. Hệ tử nói rằng: Chuẩn giả cầm dã, cung thỉ giả khí dã, xạ chi giả nhân dã 隼者禽也, 弓矢者器 也, 射之者人也, nghĩa là: Chuẩn là giổng cầm, cung thỉ là đồ để bắn, còn người bắn được nó là người có tài hay bắn vậy. Chỉ ba câu ấy ý nghĩa rất giản minh. Tỉ như: Bắt tay làm việc, nhân là người làm việc khí là tài liệu với trí thức, cầm là mục đích vật. Có người làm việc mà lại cốt có tài liệu, có trí thức thời cái mục đích mình nhắm chắc phải trúng ngay.
Vậy nên, Hạ văn lại nói tiếp rằng: Quân tử tàng khí vu thân, đãi thì nhi động, hà bất lị chi hữu 君子藏器于身, 待時而動, 何不利之有. Hễ quân tử toan làm việc, vẫn trước phải có mục đích, nhưng trước khi làm việc phải chứa sẵn những đồ dùng trong thân mình, chờ đến có thì cơ mà động.
Chúng ta đọc hai câu ấy nên phải nghĩ: khí là gì? Khí mà lại trữ trong mình là khí gì? Tài năng với học thức chính là cái khí nên trữ sẵn trong mình.
Tuy nhiên, tài năng vẫn giỏi, học thức vẫn cao, nhưng mà làm việc thiên hạ lại cần phải dòm vào thì. Thì là gì? Tức là cơ hội, thí như cung tên là khí tàng sẵn rồi, nhưng khi đem ra bắn tức phải rình cơ hội, khi chim đương đậu hay chim đương ngủ, hoặc khi chim đương ngủ say mới mà không thấy mình, ấy là cách chờ thì. Hễ đã giấu sẵn khí cụ trong mình, lại chờ đúng thì cơ mà phát động thời có gì là bất lị nữa đâu.
Động nhi bất quát, thị dĩ xuất nhi hữu hoạch, ngữ thành khí nhi động giả dã 動而不括, 是以出 而有獲, 語成器而動者也. Phát động mà không ai bó buộc được mình, không vật gì chướng ngại được mình, tất nhiên ra làm mà thành công. (Quát nghĩa là ngăn, cũng có nghĩa là vấp chạm; hoạch nghĩa là thành công.
Động mà không trở ngại, vấp chạm tất nhiên thành công. Bất quát, hữu hoạch là kết quả mà tàng khí đại thì là tạo nhân. Nếu tàng khí mà động không đúng thì thời khí cụ đó hóa vô dụng; thì cơ vẫn đúng, nhưng khí cụ chưa trữ sẵn thời thì cơ chốc phút chạy mất. Thượng Lục ở về cuối cùng thì Giải là một vận hội rất tốt. Bây giờ cung tên đã sẵn, người bắn lại hay, chuẩn lại đậu trên cao dung, có lẽ gì mà bắn không được. Hào từ sở dĩ nói thế là thiết ra cách thí dụ mà bảo cho chúng ta, hễ trước khi làm việc, tất phải lo thành khí mà lại lo động cho đúng thì vậy.
Chữ thành khí với chữ tàng khí nên nhận cho kĩ. Tàng nghĩa là phải lo chứa trữ cho sẵn; thành, nghĩa là phải trau dồi cho tốt. Nếu tàng khí mà lại không thành khí thời dầu có khí cũng như không. Nếu thành mà không tàng thời đến nỗi sự cơ bất mật, còn lấy gì mà chờ được thì nữa ư, chỉ bấy nhiêu lời là vẽ hết trí cho chúng ta làm việc.
Tượng viết: Công dụng xạ chuẩn dĩ giải bội dã.
象曰: 公用射準, 以解悖也.
Đời Giải đã đến lúc cuối cùng, nội loạn đã an rồi, dầu ở phía ngoài còn có người dám bội loạn thời nhân dịp mà giải trừ nó, chắc công việc tất thành, cũng in như bắn chim chuẩn mà trúng được.
Chữ Bội này, ở về Ngoại Quái, chỉ vào giặc cướp ở phía ngoài.
Nhận xét
Đăng nhận xét