PHAN BỘI CHÂU - KINH DỊCH 4

 21. QUẺ HỎA LÔI PHỆ HẠP

Ly trên; Chấn dưới

Quẻ này là quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp.

Chân hạ cũng là Nội Chấn. Li thượng cũng là Ngoại Li. Hỏa thượng, Lôi hạ, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Lôi Phệ Hạp.

TỰ QUÁI

Tự quái: Khả quan nhi hậu hữu sở hợp, cố thụ chi dĩ Phệ Hạp, Hạp giả hợp dã.

序卦: 可觀而後有所合, 故受之以噬嗑.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Quán, tiếp lấy quẻ Phệ Hạp là vì cớ sao?

Hễ vật lí nhân tình tất phải có khả quan mà sau mới có chốn hợp, nên sau quẻ Quán, tiếp lấy quẻ Phệ Hạp. Hạp nghĩa là hợp. Khả quan nghĩa là coi xem được; hạp nghĩa là hợp; phệ nghĩa là cắn. Ý nghĩa sắp đặt tên quẻ, sẽ xem ở sau Soán từ, Soán Truyện thời hiểu rõ, đây không phải viết vào.

SOÁN TỪ

Phệ Hạp, hanh, lị dụng ngục. 噬嗑亨, 利用獄. (Phệ Hạp nghĩa là cắn để cho hợp).

Tòng lai, việc trong thiên hạ, gia đình thời phụ tử, phu phụ, huynh đệ; trong quốc gia thời quân thần, quân dân, thượng hạ; trong xã hội thời bầu bạn, thầy trò, tất thảy trước có hợp được mà sau mới thông.

Phụ tử, phu phụ, huynh đệ hợp thời gia đạo hanh; quân thần, quân dân, thượng hạ họp thời quốc sự hanh; bạn bầu, thầy trò hợp thời xã hội hanh; tuyền loài người họp thời thế giới hanh.

Nhưng sở dĩ hợp được rất khó, tuy nguyên nhân phức tạp vẫn rất nhiều, nhưng nói tóm lại thời chỉ vì ở trung gian có một giống gián cách, hoặc gián cách ở trung gian thượng, hạ, hoặc gián cách ở trung gian nội, ngoại. Giống gián cách đó nếu không trừ khử xong thời không bao giờ hợp được, mà muốn trừ khử giống gián cách đó, tất phải có một thủ đoạn bằng cắn, tượng như bị giống gián cách mắc ngang ở giữa miệng mà hàm trên hàm dưới không hợp được với nhau, tất phải dụng đến sức hai hàm răng cắn cho thiệt mạnh, tất nhiên giống gián cách đó phải bể tan mà hai hàm mới hợp khít được như thường.

Vậy nên đặt tên quẻ bằng Phệ Hạp. Phệ Hạp nghĩa là cắn tan giống gián cách mà hợp được, hễ đã hợp được thời tất nhiên hanh thông.

Soán từ đây lấy nghĩa bằng một việc rất lớn là việc trì thiên hạ. Trì thiên hạ cần phải trừ khử gián, mà những giống gián đó là gì?

Tức là một bọn gian tà sàm nịnh, nó thường lọt vào khoảng giữa. Người trên thì bị nó bưng bít, người dưới thời bị nó che lấp, nên nỗi thượng tình không thông đến hạ, hạ tình không đạt đến thượng. Thượng hạ bất hợp mà họa loạn mới nảy ra hoài hoài.

Suy cứu cho đến nguyên nhân thời tội tại những giống gián cách, tức là bọn gian tà sàm nịnh. Vậy nên Thánh vương trì thiên hạ, tất phải ra sức cắn những giống ấy.

Cắn thời dụng bằng giống gì? Tất phải dụng đến hình ngục.

Hình ngục là tài liệu của thánh nhân dùng để cắn gián cách, vả lại theo ở tượng quẻ: Chấn lôi, Li hỏa chung nhau thành quẻ. Lôi là uy rất mạnh, hỏa là minh rất sáng. Có uy, có minh thời làm việc hình phạt mới đúng. Vậy nên sau trừ khử được bọn gián cách là bọn gian tà sàm nịnh.

Sau khi trừ khử được bọn gián cách rồi thời gian tà sàm nịnh không lọt được vào mà thiên hạ được hòa bình vô sự, ấy là Phệ Hạp mà hanh, nhưng tất phải lợi dụng ngục mới được.

Trình Truyện có câu: Gián cách giả, thiên hạ chi đại hại dã

間隔者, 天下之大害也,  nghĩa là: Những giống gián cách là hại rất lớn ở trong thiên hạ đó vậy.

Phệ hạp giả, trì thiên hạ chi đại dụng dã 噬嗑, 者, 治天下之大用也, nghĩa là: Việc phệ hạp là công dụng lớn ở trong đạo trì thiên hạ đó vậy.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp, Phệ Hạp nhi hanh. Cƣơng, nhu phân, động nhi minh, lôi điện hợp nhi chƣơng. Nhu đắc trung nhi thƣợng hành, tuy bất đáng vị, lơi dụng ngục dã. 彖曰: 頤中有物曰噬嗑, 噬嗑而亨. 剛柔分動而明, 雷電合而章. 柔得中而上行, 雖不當位, 利 用獄也.

 Soán viết: Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp.

Đây là xem thể quẻ mà thích nghĩa tên quẻ, quẻ này Sơ Cửu, Thượng Cửu là hai hào vạch liền, tượng như hàm trên, hàm dưới miệng người ta. Trung gian ba hào vạch đứt đôi, tượng là trong miệng trống không, chét một hào dương vạch liền ở trung gian, cách rẽ trên, dưới, tượng là một cái que cản ngang vào giữa miệng. Vì giống gián cách đó, tất phải dùng sức cắn mà trừ khử đi thời hai hàm mới hợp được với nhau. Thế là Phệ Hạp (Phệ Hạp: có cắn mới hợp được; di: hai lỗ má).

Phệ Hạp, nhi hanh.

Vì có gián cách nên không thông được, cắn giống gián cách thời hợp, hợp thời thông.

Cương, nhu phân, động nhi minh, lôi điện hợp nhi chương.

Lại xem về đức quẻ, hào cương, hào nhu chia nhau mà lại cân như nhau.

Cương ba hào, nhu ba hào là cương, nhu phân. Thế là có đức cương, nhu tương tế. Hạ Chấn, Thượng Li, Chấn có tính động, Li có tính minh là động nhi minh.

Hễ động làm việc gì mà minh kiến được việc ấy là đủ tài xét ngục.

Chân là lôi, Li là điện, Lôi thời có uy, điện thời hay dọi; Chấn, Li hợp thể là lôi điện hợp nhi chương. Đã có uy lại hay soi dọi, cũng là cái trì ngục, có tài đức như thế đem ra dùng để làm phệ hạp, chắc là tốt lắm.

Nhu đắc trung nhi thượng hành, tuy bất đáng vị, lợi dụng ngục dã.

Lại nói riêng về Lục Ngũ: Ngũ là một người chủ tể trong thì Phệ Hạp, âm nhu đắc trung mà lên ở ngôi cao là thượng hành. Hào Nhu ở vị dương, theo lệ thường vẫn là bất đáng vị, nhưng nói bằng cách dụng ngục thời có cương mà giúp cho nhu, có nhu mà giúp cho cương, lại là thủ đoạn trì ngục rất cao, nên nói: Lợi dụng ngục.

PHỤ CHÚ: Thích ba chữ lợi dụng ngục ở Soán từ đáng lẽ là chuyên trọng về đức cương, nhưng Soán Truyện đã nói rằng: Cương, nhu phân, lại nói rằng: Nhu đắc trung, thời tự hồ lấy nhu làm quý.

Vì sao vậy? Ở trong đạo trì ngục, có minh như điện, có uy như lôi. Nếu chỉ lại chuyên dụng cương mà thôi thời không khỏi lạm dụng quyền uy mà trái hẳn với nghĩa hiếu sinh bất sát, nên tất phải pha vào một nửa tính nhu. Nhu mà lại đắc trung, vả thêm vào một nửa tính cương là rất hợp với tư cách trì ngục.

Kinh Thư có câu: Cao minh nhu khắc nghĩa là: người có tài cao minh, thường sợ quá cương, phải lấy nhu mà chế khắc vào, chính hợp như ý Soán Truyện đây.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Lôi điện Phệ Hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp.

象曰: 雷電噬嗑, 先王以明罰敕去.

Trên Li, dưới Chấn, tượng là điện với lôi đồng thì phát hiện, cũng là minh với uy đồng thì tịnh dụng, tượng quẻ Phệ Hạp là như thế.

Tiên vương xem tượng ấy mà biện minh hình phạt, phân biệt cho ra điều gì đáng trọng, điều gì đáng khinh, chỉnh đốn pháp luật, sắp đặt những điều gì đáng bớt, điều gì đáng thêm; sắc cũng nghĩa như chữ "sức" nghĩa là sắp đặt cho có thứ tự, tử tế.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Lí giảo, diệt chỉ, vô cựu. 初九: 履校滅趾, 無咎.

Toàn quẻ này chuyên nói về việc hình ngục nên trong quẻ sáu hào chia làm hai hạng người. Sơ với Thượng Cửu thảy là người không chức vị, tượng là người phải thụ hình ở giữa bốn hào, tượng là người có chức vị mà được quyền dụng hình. Hào Sơ Cửu này ở về đầu thì Phệ Hạp, lại ở dưới hết quẻ là một hạng tiểu dân tại hạ, đương lúc đầu mới dụng hình, vì tội đương nhỏ nên hình cũng khinh, tượng như đạp lấy cùm chân mà đứt mất ngón chân cái, nhưng cũng may vì thế mà không tội lỗi lớn. (Giảo: cùm chân; lí giảo là chân đạp lấy cùm; chỉ: ngón chân cái).

Hệ tử nói rằng: Tử viết, tiểu nhân bất sỉ bất nhân, bất úy, bất nghĩa, bất kiến lị, bất khuyến, bất uy, bất trừng, tiểu trừng nhi đại giới, thử tiểu nhân chi phúc dã, nghĩa là: Mới có tội nhỏ mà trừng trị ngay thời nó biết răn đe mà không làm tội lớn. Đó chính là làm phúc cho tiểu nhân vậy. Bởi vì biết răn đe mà khỏi mắc tội lớn nên nói rằng vô cựu. Diệt chỉ là đau ở hiện tại; vô cựu là phúc ở tương lai.

Tượng viết: Lí giảo diệt chỉ, bất hành dã. 象曰: 履校滅趾, 不行也.

Trừng ác ở lúc sơ thỉ mà phải chịu hình lí giảo diệt chỉ là cốt cho nó không làm điều ác nữa vậy.

PHỤ CHÚ: Hào từ đây cốt tỏ rõ ý thánh nhân dụng hình, không phải vì ghét người mà dụng hình, vì thương người mà dụng hình. Bởi vì một hạng ngu ngoan nó chỉ biết sợ phép mà không biết phục thiện, nên muốn cho nó không hành ác, không phạm đại tội, tất phải bắt nó chịu tiểu hình. Vì vậy nên Hào từ mừng cho nó được vô cựu mà tượng từ lại nói bất hành dã.

2. Lục Nhị: Phệ phu, diệt tị, vô cựu. 六二: 噬膚, 滅鼻, 無咎.

Bôn hào ở giữa quẻ là hạng người có chức vị được dụng hình, ở vào thì Phệ Hạp thời là những hạng người có quyền phệ, nên Hào từ dùng chữ phệ. Lục Nhị cư trung đắc chính mà Lục Ngũ lại ứng vào mình, chính là người mà quốc trưởng ủy cho quyền trì ngục.

Nhân vì Nhị cưỡi hào Sơ, Sơ dương cương có ý ngoan ngạnh nên thi hình với Sơ có ý khó khăn, nhưng Nhị có đức trung chính, thu phục được người,

Sơ tuy cương cường ngoan ngạnh mà đụng lấy tay Nhị cũng phải phục ngay, tượng như cắn người mà đụng nơi thịt mỏng. Duy vì Sơ ngoan ngạnh nên dùng hình cũng có hơi mám, tượng như người bị cắn mà đứt mất mũi (Phệ phu: cắn mảnh thịt mỏng; tị: mũi).

Người thụ hình bị diệt tị, vẫn cũng khá đau, nhưng đau đó là tội tại người thụ hình, chẳng phải tội tại người dụng hình nên nói vô cựu, nghĩa là: Nhị vẫn trung chính không tội lỗi gì.

Tượng viết: Phệ phu diệt tị, thừa cương dã. 象曰: 噬膚滅鼻, 乘剛也.

Nhị vì cưỡi lấy hào Sơ, Sơ là cương cường, dụng hình với người cương cường không nghiêm không được. Vì vậy, nên cắn tuy nhẹ mà thế phải có đau, sở dĩ Hào từ nói phệ phu diệt tị đó vậy.

3. Lục Tam: Phệ tích nhục, ngộ độc, tiểu lẫn, vô cựu.

六三: 噬臘肉, 遇毒, 小吝, 無咎.

Lục Tam: cũng là người có quyền dụng hình, nhưng vì Lục cư Tam xử vào vị chênh lệch, đã bất chính lại bất trung. Tuy có quyền dụng hình, nhưng hình người mà người không phục, e lạí bị người oán hại mình, tượng như cắn đụng phải mảnh thịt toàn xương lại ngộ độc. Như thế thiệt đáng xấu hổ, nhưng vì xử vào thì Phệ Hạp, cắn để cho hợp là nghĩa vụ đương nhiên, Tam chỉ làm nghĩa vụ của mình, dầu đáng xấu hổ chút đỉnh mà kết quả không tội lỗi gì.

Tượng viết: Ngộ độc, vị bất đáng dã. 象曰: 遇毒, 位不當也.

Lục Tam cũng phệ như các hào, vì sao lại ngộ độc? Bởi vì địa vị Tam sơ xử đứng vào địa vị khó khăn nên bắt tay làm việc dụng hình cũng thường gặp khốn nạn, nên Tượng Truyện nói rằng: sở dĩ ngộ độc là vì vị bất đáng vậy,

4. Cửu Tứ: Phệ can trị, đắc kim thỉ, lị gian, trinh, cát.

九四: 噬乾秭, 得金矢, 利艱貞, 吉.

Cửu là dương cương, đã cương thời trực. Tứ là vị gần với chí tôn ở thì Phệ Hạp, Tứ là một người có trách nhiệm rất lớn.

Vì có đức cương trực, lại ở vào thể Li là có tài minh đoán, lấy bậc người ấy mà trì ngục, tất nhiên giữ được đạo cương trực, đầu đụng phải hạng người có thế lực ngoan cường, cũng cắn được dễ như chơi, tượng như cắn miếng thịt phơi khô. (Can:. phơi khô; trị: thịt liền xương.)

Thịt liền xương mà lại phơi khô là giống khó cắn, nhưng lấy Cửu Tứ thời cắn xong ngay mà vẫn hoàn toàn được đạo cương trực, tượng như được mũi tên bịt bằng sắt (Thỉ: mũi tên; kim: sắt).

Lại vì Cửu Tứ tính cương thể minh, cương minh thời thường hay quả quyết quá, quả quyết thời e có việc lầm, nên thánh nhân lại răn cho chữ gian (Gian: phải biết khó khăn).

Tứ ở vào vị nhu, nhu thời sợ không được bền vững, nên thánh nhân lại răn cho chữ trinh (Trinh: giữ chính bền vững).

Hễ người trì ngục như Cửu Tứ, đã có đức cương, tài minh mà lại tiểu tâm biết khó, giữ chính được bền, thời trong đời Phệ Hạp kết quả rất tốt.

Tượng viết: Lị gian trinh cát, vi quang dã. 象曰: 利艱貞吉, 未光也.

Cửu Tứ mà phải có lời răn lị gian trinh là vì địa vị Cửu Tứ dương xử vị âm, có hiềm nghi là bất trung chính, thời kể về đạo Phệ Hạp chưa lấy gì làm quang đại vậy, nên tất phải gian trinh mới được cát.

5. Lục Ngũ: Phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh lệ, vô cựu.

六五: 噬乾肉, 得黄金, 貞厲, 無咎.

Lục Ngũ tuy thể âm nhu nhưng đắc trung, lại Ngũ là cương vị, nhu pha cương vào ở kề bên mình, lại có Cửu Tứ là một người minh đoán, giúp sức với Ngũ làm công việc Phệ Hạp, chắc cắn vào đâu thời nó phải chịu ngay, dầu nó có ngoan cường chút đỉnh, cũng chẳng ngại gì, tượng như cắn miếng thịt khô, vẫn có tí dai, nhưng mà cắn đứt (Can nhục: thịt khô).

Vì vị tôn đức trung của Ngũ như thế nên hình người thời người phải phục, chẳng những cắn được mà kết quả lại được danh dự rất quý báu, tượng như được vàng sắc vàng.

Hoàng là sắc trung, hình dung đức trung của Ngũ. Kim là của quý, hình dung vị tôn của Ngũ.

Tuy nhiên, đương thì Phệ Hạp cốt ở công việc trừ gián, ở cao chừng nào thời những giống làm gián cách càng lớn chừng nấy. Nếu thị thường khinh dị, tất gián cách dễ sinh, nên thánh nhân lại răn cho rằng: Phải trinh lệ mới được vô cựu (Trinh: giữ chính bền vững; lệ: lòng thường lo sợ).

Tượng viết: Trinh lệ, vô cựu, đắc đáng dã.

象曰: 專属, 無咎, 得當也.

Ngũ sở dĩ được vô cựu vì công việc Cửu Ngũ làm được đúng, mà gia dĩ trinh lệ thời càng đắc đáng nên kết quả được vô cựu.

PHỤ CHÚ: Bốn hào ở giữa quẻ rặt là người có quyền dụng hình, chính là người Phệ ở đời Phệ Hạp, nhưng Hào từ mỗi hào khác nhau nên thánh nhân cũng theo tài với vị mà cân lượng khác nhau. Vị Ngũ với vị Nhị tuy in nhau, nhưng Nhị thời nhu cư nhu mà Ngũ thời nhu cư cương. Nhị thuần nhu mà Ngũ thời pha vào đức cương. Thế là tài Ngũ hơn tài Nhị, nên hào Ngũ phệ được can nhục, Nhị chỉ phệ phu mà thôi. Hào Ngũ thể nhu, hào Tam cũng thể nhu, tài tuy in nhau, nhưng nhu ở hào Tam là nhu bất trung, nhu ở hào Ngũ là nhu đắc trung. Thế là vị Ngũ hơn vị Tam, nên Ngũ thời đắc hoàng kim mà Tam thời ngộ độc. Trong bốn hào, duy Cửu Tứ tốt nhất. Vì Cửu là tài cương mà Tứ lại vị nhu, so với Ngũ thời hơn bằng phần tài, so với Tam lại hơn bằng phần vị. Tài với vị giúp đỡ cho nhau nên giống gián cách gì cũng cắn được nổi mà trong thì Phệ Hạp duy Cửu Tứ được chữ cát.

Chúng ta mới biết làm người một đời, biện việc một đời, được vị mà không tài, vẫn không tạo nổi thời thế, nhưng nếu có tài mà không vị cũng phải đợi có thì cơ, huống gì trừ gián là việc rất khó rất lớn trong đời, bảo không tài lại không vị mà làm được nên rư?

6. Thượng Cửu: Hạ giảo diệt nhĩ, hung. 上九: 何校, 滅耳, 凶.

Thượng Cửu vượt qua Ngũ lại ở cuối cùng quẻ, vẫn là người vô vị mà lại ở cuối đời Phệ Hạp là một người thụ hình, chính là một tay làm gián rất lớn, cùng hung cực ác, tất phải bị cắt rất đau, tượng như một người cuối cùng ra giữa tòa án mà bị án cực trọng, gia gông vào cổ, xát đứt mất lỗ tai (Hạ: đội, cũng có nghĩa là gánh; nhĩ: lỗ tai).

Hệ tử có nói rằng: Thiện bất tích, bất túc dĩ thành danh, ác bất tích, bất túc dĩ diệt thân; tiểu nhân dĩ tiểu thiện vi vô ích, nhi phất vi dã, dĩ tiểu ác vi vô thương, nhi phất khử dã. Cố ác tích nhi bất khả yểm, tội đại nhi bất khả giải.

善不積不足以成名, 惡不積不足以滅身; 小人以小善爲无益而弗爲也, 以小惡爲无傷而弗去 也. 故惡積而不可揜, 罪大而不可解.

Ác chứa chồng mà không thể che bịt được, tội lớn mà không thể dung thứ được. Thế tất phải hung.

Tượng viết: Hạ giảo, diệt nhĩ, thông bất minh dã.

象曰: 何校, 滅耳, 聰不明也.

Vì sao Thượng Cửu phải chịu hình đứt lỗ tai? Đó là tại lỗ tai mình nghe không được thông hiểu vậy (Thông là nghe tỏ). Nguyên lai, những người sở dĩ phạm vào tội ác, phần nhiều bởi vì nhĩ quan không linh giác, nghe lời nói phải mà chống cự, nghe lời nói quấy thời lại manh tòng, kết quả thời bị hình đến nỗi mất tai là đáng kiếp.

 

22. QUẺ SƠN HỎA BÍ

Cấn trên; Ly dưới

Quẻ này là quẻ Sơn Hỏa Bí. Li hạ cũng là Nội Li. Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn sơn, Li hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Hỏa Bí.

TỰ QUÁI

Tự quái: Hạp giả hợp dã, vật bất khả dĩ cẩu hợp nhi dĩ, cố thụ chi dĩ Bí. Bí giả sức dã.

序卦: 嗑者合也, 物不可以苟合而已, 故受之以賁. 賁者飭也.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Phệ Hạp tiếp lấy quẻ Bí là vì cớ sao?

Trên đây là quẻ Phệ Hạp, Hạp nghĩa là hợp. Vật không thể xoàng xoàng chạ chạ mà hợp được. Hễ đã hợp, tất phải có văn sức. Vậy nên sau quẻ Phệ Hạp tiếp lấy quẻ Bí. Bí nghĩa là văn sức. Người nhóm họp tất phải trật tự uy nghi, vật nhóm họp tất phải có thứ tự hàng liệt. Bí ở sau Phệ Hạp là nghĩa ấy. Theo về tượng quẻ, Hỏa ở dưới Sơn, tượng là ở dưới núi có lửa soi dọì lên thời cây cỏ bách vật ở trên núi, tất thảy nhờ tia sáng soi dọi mà hình hiện ra quang thái, ấy là lấy Hỏa mà Bí sức cho Sơn. Vậy nên đặt tên quẻ bằng Bí.

SOÁN TỪ

Bí hanh, tiểu lị, hữu du vãng. 賁亨, 小利有攸往.

Đạo lí trong thiên hạ, vô luận vật gì, tất phải trước có bản chất mà sau mới có văn thái giúp vào, nên đời xưa có câu rằng: Vô bản bất lập, vô văn bất hành 無本不立, 無文不行. (Bản là thuộc về tinh thần; văn là thuộc về hình thức). Có bản chất rồi mà lại gia vào văn sức, tất nhiên được hanh thông.

Tuy nhiên, theo về tên quẻ thời chỉ Bí mà thôi. Ở trước khi chưa Bí nếu không được cội gốc cho dày dặn thời cũng không đại hữu vi được. Dầu có Bí mà hanh, cũng tiểu lị hữu du vãng mà thời. Nghĩa là, có làm việc gì mà chỉ nhờ ở văn sức thời ở thành tựu cũng chỉ bé nhỏ mà thôi.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Bí hanh, nhu lai nhi văn cương, cố hanh. Phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lị hữu du vãng. Cương, nhu giao thác, thiên văn dã, văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã. Quan hồ thiên văn dĩ sát thì biến, quan hồ nhân văn, dĩ hóa thành thiên hạ.

彖曰: 賁亨, 柔來而文剛, 故亨. 分剛上而文柔, 故小利有攸往. 剛柔交錯, 天文也, 文明以止, 人文也. 觀乎天文, 以察時變, 觀乎人文, 以化成天下.

Soán viết: Bí hanh, nhu lai nhi văn cương, cố hanh. Phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lị hữu du vãng.

Đây là lấy Quái biến thích Quái từ. Nguyên hào nhu ở quẻ Khôn, lại làm văn sức cho quẻ Càn thành ra Li là nhu lại mà làm văn cho cương vậy nên được hanh.

Lại vì thể trên, gốc vẫn là Khôn, chia hào dương của Càn để sức cho Khôn thành ra Cấn, ấy là dương cương lên làm văn cho nhu nên tiểu lị hữu du vãng.

Bởi vì bản chất là nhu, nhờ cương văn vào mới được lị hữu du vãng, nhưng vì nhu là chủ, cương là khách nên tiểu lị mà thôi.

Cương, nhu giao thác, thiên văn dã.

Theo Quái biến như trên đây nói, thế là âm với dương, cương với nhu, giao trộn với nhau mà thành ra thiên văn vậy. (Thác: trộn; thiên văn: văn lí của trời).

Tỉ như nhật, nguyệt giao thác với nhau mà thành ra trú dạ; hàn thử giao thác với nhau mà thành ra tứ thì, v.v. ấy là cương, nhu giao thác, thiên văn dã.

Văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã.

Lại theo về tượng hai quẻ, nội Li là minh, ngoại Cấn là chỉ. Li minh thời hiện ra cách văn minh, Cấn chỉ thời có một cách hạn chế. Văn minh mà lại có hạn chế, ấy là văn lí của người vậy.

PHỤ CHÚ: Bốn chữ văn minh dĩ chỉ rất có ý vị, Văn minh vẫn có điều hay, nhưng nếu không hạn chế thời thường đển nỗi văn diệt kì chất, nên văn minh mà phải có hạn chế, chính là văn minh dĩ chỉ.

Khổng Tử có nói rằng: Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử 質勝文則野. 文勝質則史。文質彬彬. 然後 君子, nghĩa là: Chất phác nhiều hơn văn hoa thời thành người quê mùa; văn hoa nhiều hơn chất thời thành ra bọn viết sử; chỉ duy chất vừa xứng với văn, văn vừa xứng với chất, lấy chất làm thể, lấy văn làm dụng, văn chất trộn trạo với nhau, vậy mới là quân tử. Câu văn chất bân bân với câu văn minh dĩ chỉ đắp đổi xem với nhau thời càng rõ lắm.

Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến, quan hồ nhân văn, dĩ hóa thành thiên hạ.

Bây giờ lại nói về đạo Bí của thánh nhân, xem ở nơi thiên văn mà xét được thì tự biến cải. Tỉ như xem tuế tinh mà đặt ra mỗi năm mười hai tháng, xem thái dương mà đặt ra lịch ngày, xem thái âm mà đặt ra lịch tháng, v.v. Lại xem ở nơi nhân văn mà giáo hóa thành tựu cho thiên hạ. Tỉ như nhân trật tự ở triều đình mà đặt ra lễ chế, nhân tập tục ở xã hội mà đặt ra chương trình, v.v.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Sơn hạ hữu hỏa, Bí. Quân tử dĩ minh thứ chính, vô cảm chiết ngục. 象曰: 山下有火, 賁. 君子以明庶政, 无敢折獄.

Tượng Truyện đây là thủ nghĩa bằng thể hai quẻ: Cấn thượng là sơn, Li hạ là hỏa, ở phía dưới núi có lửa dọi lên, lửa làm sáng cho núi nên gọi bằng Bí. Vì lửa ở dưới núi, tuy có minh mà minh không được xa lớn nên quân tử dùng minh đó chỉ vừa tu minh được những chính sự nhỏ mà thôi (Thứ chính: mỗi việc chính trị nhỏ). Đến như việc chiết ngục là quan hệ đến sinh mệnh của nhân dân, nếu chi dùng tiểu minh, hoặc dùng bằng cách bí sức thời nguy hiểm cho nhân dân lắm. Vậy nên, gặp việc chiết ngục thời không dám quả cảm mà xử đoán. (Cảm: quả quyết tự dũng; chiết ngục: phán đoán việc hình ngục; chữ vô này nghĩa là chớ; vô cảm: chớ dám quả quyết).

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Bí kì chỉ, xả xa nhi đồ. 初九: 賁其址, 舍車而徒.

Sơ Cửu dương cương ở vào thể Li, lại ở dưới hết quẻ, tượng là một người có đức minh mà tại hạ. Cách Bí của người ấy chỉ tu sức phẩm hạnh của mình, cốt cho hoàn toàn bổn phận người ở dưới, tượng là bí kì chỉ (Bí: trau dồi; chỉ: ngón chân cái là giống ở dưới hết thân người; bí kì chỉ: trau dồi phần tại hạ của mình).

Bởi vì quân tử an phận vô cầu như thế nên không tham bã vinh hoa của người, dầu ai đem phú quý cho mình mặc lòng mà mình chỉ an bằng cách bần tiện. Tượng là bỏ cách sung sướng bằng cách đi xe mà an cách khó nhọc bằng đi bộ (Xa: đi xe, tỉ dụ bằng cách phú quý; đồ: đi chân, tỉ dụ bằng cách bần tiện).

PHỤ CHÚ: Xa vẫn là vinh, đồ vẫn là nhục, nhưng vinh nhục của quân tử khác với vinh nhục của thế tục. Quân tử lấy đạo nghĩa làm vinh, lấy bất đạo nghĩa làm nhục. Nếu đi chân mà hợp với đạo nghĩa thời còn vinh gì hơn.

Cao sĩ ở đời Chiến Quốc là Ông Vương Chúc có câu rằng: Hoãn bộ dĩ đương xa 緩步以當車, nghĩa là: Đi chân thủng thẳng để địch với ngồi xe là đúng với nghĩa ở hào này.

Tượng viết: Xả xa nhi đồ, nghĩa phất thừa dã.

象曰: 舍車而徒, 義弗乘也.

Theo mắt thế tục thời xa là sang, đồ là hèn, cớ sao bỏ xe mà đi chân. Bởi vì theo ở đạo nghĩa thời nghĩa Sơ Cửu không nên cưỡi xe vậy. Đó là đạo Bí của quân tử tại hạ. (Thừa: cưỡi).

PHỤ CHÚ: Đại xa dĩ tải ở quẻ Đại Hữu với xả xa nhi đồ ở quẻ Bí, chính là thì nghĩa của quân tử. Ở về thì Bí Sơ thời xả xa nhi đồ là trọng về phần tiết nghĩa; ở về thời Đại Hữu Nhị thời đại xa dĩ tải lại trọng về phần công nghiệp; quân tử dĩ tùy ở hợp đạo mà thôi, chứ không phải ghét phú quý mà khinh bần tiện nên nói rằng: Nghĩa phất thừa dã.

2. Lục Nhị: Bí kì tu. 六二: 賁其須.

Quẻ này vì có thể Li minh mới thành ra Bí mà Lục Nhị lại làm chủ quẻ Li.

Bởi vì có hào Nhị mới thành được quẻ Li, vậy nên ở thời đại Bí Lục Nhị thành ra một người trọng yếu. Thánh nhân do đó chỉ vẽ đạo Bí cho Lục Nhị rằng: Hễ vật lí giống gì tốt, giống gì xấu, gốc ở nơi bản chất của vật ấy, nếu có Bí sức cũng chỉ tùy ở nơi bản chất gia vào văn mà thôi. Tỉ như chất gỗ vẫn tốt, gia vào chạm trổ sơn tô thời thành ra đồ đẹp; nếu chất gỗ đã hủ xốp thời chạm trổ sơn tô mà làm gì.

Xem thế thời biết rằng: Hễ làm Bí sức cho người hoặc vật, tất phải nhờ bản chất nó tốt sẵn mà mình gia thêm văn sức vào, không thể nào chất xấu mà biến ra tốt được.

Tượng như bộ râu vẫn làm tốt cho cằm, nhưng trước tất có bộ cằm rộng nở phương phi thời gia bộ râu vào mới thêm đẹp. Nếu bộ cằm sứt móm thời dầu có sức râu vào càng thêm khó coi.

Cách bí sức phải tùy ở bản chất là thế, nên nói rằng: Bí kì tu (Tu: râu ở dưới cằm; văn sức bộ râu cho cằm là bí kì tu), nhưng sở dĩ đẹp gốc là nhờ cằm, nếu không cằm thời râu biết bí vào đâu.

Hào từ này chỉ dạy cách Bí cho Nhị, vì Lục Nhị là âm nhu trung chính, tượng như bộ cằm đã tốt, duy thêm râu vào là thêm đẹp.

Tượng viết: Bí kì tu, dữ thượng hưng dã. 象曰: 賁其須, 與上興也. Tượng Truyện này lại bổ túc ý nghĩa Hào từ. Nhị là âm nhu, phụ vào Cửu Tam mà hành động, tượng như Tam là cằm mà Nhị là râu. Nhị có động tác gì cũng kèm vào hào trên mình mà động tác vậy.

3. Cửu Tam: Bí như, nhu như, vĩnh trinh, cát. 九三: 賁如, 濡如, 永貞吉. Hào Cửu vị Tam là dương cương đắc chính, lại ở cuối cùng Nội Li là văn minh chi cực, chính là một người có tài học du bí sức cho người. Vì trên, dưới có Nhị, Tứ hai âm, hai âm đó nhờ Tam bí sức cho mà Tam cũng sẵn lòng bí sức cho nó. Vì cương, nhu tương bí càng lâu càng nhuần nhã vẻ vang. Tượng như lấy thuốc sơn mà dầm tưới vào các thức vật ngày càng màu mỡ mịn màng (Nhu: dầm tưới).

Tuy nhiên, Tam với Tứ vẫn không phải chính ứng, vì gần gũi với nhau mà bí sức cho nhau, lấy nhất dương mà bí cho nhị âm e có lúc mê vào tư tình mà sai đường chính đạo chăng? Nên thánh nhân lại răn cho rằng: Bí với nhị âm tất phải giữ chính đạo cho lâu dài, mới được tốt lành.

PHỤ CHÚ: Thâm ý Hào từ này cốt ở hai chữ: vĩnh trinh. Bởi lẽ trong thiên hạ phấn sức thời không bao giờ được lâu dài, nước sơn lâu ngày tất cũng phải nhả, sắc thuốc lâu ngày tất cũng phải phai. Nếu chỉ một mực văn sức thôi thời dầu gia đình nào, xã hội nào, cũng không gì tốt, nên thánh nhân bảo cho phải vĩnh trinh, nghĩa là bí sức mà phải lâu dài giữ đạo chính mới được cát (Trinh nghĩa là chất tốt).

Tượng viết: Vĩnh trinh chi cát, chung mạc chi lăng dã.

象曰: 永貞之吉, 終莫之陵也.

Bí sức mà lại vĩnh trinh thời được cát, kết quả không ai lăng vũ được mình vậy.

4. Lục Tứ: Bí như, ba như, bạch mã hàn như, phỉ khấu hôn cấu.

六四: 賁如, 播如, 白馬翰如, 匪底, 婚媾.

Lục Tứ âm nhu, hạ ứng với hào dương cương là Sơ Cửu: vẫn hai bên thảy đắc chính nên sẵn lòng bí sức cho nhau, nhưng vì ở khoảng giữa có Cửu Tam, Tứ với Sơ bị Cửu Tam gián cách nên hai bên không được bí sức cho nhau mà chỉ thấy trắng túa (Ba: sắc trắng lột).

Vì không bí sức được nên cứ ba như. Tuy nhiên, Tứ với Sơ là chính ứng, dầu bị hoàn cảnh trở cách mặc lòng mà ý chí của Tứ càng gấp muốn theo Sơ, tượng như cưỡi ngựa trắng mà chạy như bay (Hàn: bay).

Vì không được bí nên nói rằng bạch mã; vì theo Sơ quá gấp nên nói rằng hàn như.

Nhưng Cửu Tam là cương chính, không phải hạng người khấu thù. Lúc đầu tuy có cách trở, nhưng Tam không bao giờ làm hại cảm tình của Sơ với Tứ, chẳng bao lâu thấy Cửu Tam cũng vô sự mà Sơ với Tứ làm thân quyến với nhau, nên nói rằng: Phỉ khấu hôn cấu (Hôn cấu: kết hôn với nhau làm vợ chồng).

Tượng viết: Lục Tứ đang vị, nghi dã, phỉ khấu hôn cấu, chung vô vưu dã.

象曰: 六四當位, 疑也, 匪寇婚媾, 終無尤也.

Lục Tứ vì địa vị sở xử bị gián cách vì Cửu Tam, có tình thế phải nghi đó vậy.

Tam tuy gián cách, nhưng Sơ với Tứ vẫn chính ứng, lí trực khí tráng, Tam có dám làm khấu đâu, kết quả Sơ với Tứ không điểu gì oán hận mà Tứ hôn cấu đó vậy (Vưu: oán hận).

5. Lục Ngũ: Bí vu khưu viên, thúc bạch tiên tiên, lẫn, chung cát.

六五: 賁于丘園, 束帛戔戔, 吝, 终吉.

Lục Ngũ có đức tính nhu trung, lại làm chủ ở thời đại Bí, vì có đức đắc trung nên trau chuốt bằng việc gốc, chăm chỉ về cách thực thà, rất đúng với đạo Bí, tượng như bí thức mà chỉ ở ruộng vườn. Vả lại tính âm nhu thường hay tằn tiện mà không ham khoa trương, dầu có bí sức chút đỉnh cũng không gì văn hoa, tượng như có đụng đến bó lụa cũng chỉ chỉ nhỏ nhen ít ỏi, thiệt là một hạng người quá chừng tiết kiệm; ở vào thời đại Bí mà có hơi keo sẻn, thường bị mắt tục chê cười, tuy như hình đáng xấu thẹn nhưng mà người đương trục mạt mà mình thời đôn bản, người đương xa hoa mà mình thời kiệm phác, so về đạo lí, cũng không phải quá đáng, mà kể về lợi hại thời cuối cùng chắc cũng được tốt lành.

PHỤ CHÚ: Tên quẻ là Bí, nhưng trong nghĩa sáu hào thời không thấy quý trọng bằng cách văn sức, đến Lục Ngũ lại lấy chất phác, kiệm ước làm hay, đó là thâm ý của thánh nhân cửu thì.

Lễ Kí có câu: Tục xa, tắc thị chi dĩ kiệm 俗奢則是之以儉, nghĩa là: Thì tục đã đến lúc xa hoa thời phải bảo cho nó lấy cách kiệm, người ở thời đại Bí không sợ người ta không biết văn sức mà chỉ sợ người ta văn sức quá tay, e cuối cùng thành ra dâm thanh, tệ tục, nên Hào từ Lục Ngũ nói rằng: Bí vu khưu viên, thúc bạch tiên tiên. Bởi vì hào Ngũ đã gần đến hồi Bí chi cực, thánh nhân muổn cứu thì kiển tục nên phải quy kết bằng cách kiệm phác.

Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, hữu hỉ dã. 象曰: 六五之吉, 有喜也.

Tượng Truyện sở dĩ có chữ hữu hỉ là vì hào Ngũ làm chủ tể cho đời Bí, nhất ngôn nhất động, thảy nhân chúng đều trông vào. Bây giờ bản thân Ngũ bỏ xa hoa mà sùng kiệm phác thời công dụng chuyển di phong hóa làm lợi ích cho đời rất lớn, sở dĩ Tượng Truyện nói rằng: Lục Ngũ chi cát, hữu hỉ dã, nghĩa là: Cái tốt của Lục Ngũ chính là hạnh phúc cho đời Bí vậy.

6, Thượng Cửu: Bạch bí, vô cựu. 上九: 白賁, 無咎.

Thượng Cửu: Ở cuối cùng quẻ Bí, theo về thì nghĩa là bí sức đã cùng cực rồi. Tòng lai, vật cực tắc phản. Bí cực rồi tất quay lại bản chất. Bản chất là nguyên tố. Bây giờ trừ hết nhất thiết phấn sức, y nhiên như chất tố lúc xưa, ấy là bạch bí. Bạch bí nghĩa là lấy nguyên bạch làm bí sức, thiệt là một cách phản bản quy chân mà lại hợp với lẽ Dịch cùng tắc biến nên không tội lỗi gì.

Tượng viết: Bạch bí vô cựu, thượng đắc chí dã.

象曰: 白賁無咎, 上得志也.

Thượng Cửu mà được bạch bí vô cựu, chính là xử vào thì văn cực sinh chân mà mình lại lấy bạch bí làm thích, ý chí mình rất tự đắc vậy.

PHỤ CHÚ: Bí nghĩa là văn sức; bạch nghĩa là sắc trắng; bạch mà nói rằng bí chẳng là trái nghĩa lí lắm hay sao? Nhưng mà vẫn rất có ý nghĩa. Bởi vì năm sắc nguyên chỉ sắc trắng là bản chất thiên nhiên, đầu có sắc trắng mà sau mới gia vào thái sắc nên có câu rằng: Bạch thụ thái. Bây giờ lấy bạch làm bí, chính là một cách Bí bằng tự nhiên nên Tạp quái truyện lại có câu rằng: Bí vô sắc dã.

 

 

23. QUẺ SƠN ĐỊA BÁC

Cấn trên; Khôn dưới

Quẻ này là quẻ Sơn Địa Bác. Khôn hạ cũng là Nội Khôn. Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn là Sơn, Khôn là Địa, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Địa Bác.

TỰ QUÁI

Tự quái: Bí giả sức dã, chí sức nhiên hậu hanh tắc tận hĩ, cố thụ chi dĩ Bác, Bác giả bác dã.

序卦: 賁者飭也, 至然後亨則盡矣, 故受之以剝. 剝者剝也.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Bí tiếp lấy quẻ Bác là vì cớ sao?

Trên đây là quẻ Bí, Bí nghĩa là trau dồi. Trau dồi đã đạt ở cực điểm tất nhiên phải mòn hết. Vậy nên sau quẻ Bí tiếp lấy quẻ Bác. Bác nghĩa là mòn hết. Bí cực tắc bác, chính là lẽ tự nhiên.

Theo về tượng quẻ, năm hào âm, âm trưởng dần mà đã đến lúc thịnh cực. Một hào dương ở trên, chốc nữa là tiêu bác hết, nên đặt tên quẻ bằng Bác.

SOÁN TỪ

Bác, bất lị, hữu du vãng. 剝, 不利有攸往.

Quẻ Bác là quẻ âm trưởng cực, dương tiêu cực, âm là tiểu nhân, dương là quân tử; ở thời đại ấy, tiểu nhân đắc chí hoành hành, quân tử không chốn nào mà hành động được nữa, chi nên nấp nép chờ thì, may khỏi bị tiểu nhân hãm hại nên nói rằng: Bất lợi hữu du vãng.

PHỤ CHÚ: Đương hồi âm thịnh, dương suy, tiểu nhân tráng, quân tử bệnh. Soán từ nói rằng: Bất lợi hữu du vãng. Thế thời quân tử ở thì ấy không việc làm hay sao? Không phải. Theo ý Kinh Dịch, cơ suy thường nấp ở lúc thịnh, cơ thịnh thường nấp ở lúc suy. Bác nghĩa là rụng, trái cây rụng xuống đất, tuy là bác lạc nhưng mà hạt cây chẳng bao lâu ngấm ngầm mọc lên. Quân tử ở thời đại ấy, không phải không việc làm, nhưng làm bằng cách tinh thần nên âm thầm chớ nên lòe loẹt, nên kín đáo chớ nên nhố nhăng.

Sách Lão Tử có câu: Đại trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp, đại xảo nhược chuyết, đại trực nhược khúc 大智若愚, 大恿若怯, 大巧若拙, 大直若曲, nghĩa là: Có óc khôn rất lớn mà làm như hình người ngu, có sức mạnh rất lớn mà làm như hình người nhác, có mưu khéo rất lớn mà làm như hình người vụng, có đức thẳng rất lớn mà làm như hình người cong.

Lão Tử lại có câu: Tri kì hùng, thủ kì thư, tri kì bạch, thủ kì hắc 知其雄守其雌, 知其白守其黑, nghĩa là: Biết cho thấu cách trống mà giữ lấy cách mái, biết cho thấu cách trắng mà giữ lấy cách đen. Những câu ấy chính là thủ đoạn tác dụng của quân tử ở đời Bác vậy.

Ở thì năm âm tịnh tấn, một dương thế cô mà năm âm xu sức đánh đổ một dương thời quân tử nguy hiểm biết dường nào! Nếu lúc ấy mà còn hữu du vãng thời không phải là người biết học Dịch. Soán từ rằng: Bất lợi hữu du vãng là đau đớn cho quân tử đó vậy.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Bác, bác dã, nhu biến cƣơng dã. Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Thuận nhi chỉ chi, quan tượng dã, quân tử thượng tiêu tức dinh hư, thiên hành dã.

彖曰: 剝, 剝也, 柔變剛也. 不利有攸往, 小人長也. 順而止之, 觀象也, 君子尚消息盈虛, 天行 也.

Soán viết: Bác, bác dã, nhu biến cương dã.

Nguyên nhất âm sinh từ quẻ Cấu[18] là quẻ tháng Năm, bắt đầu nhất dương biến làm nhất âm; nhị dương biến thời thành quẻ Độn là quẻ tháng Sáu; tam dương biến thời thành quẻ Bĩ là quẻ tháng Bảy; tứ dương biến thời thành quẻ Quán là quẻ tháng Tám; ngũ dương biến thời thành quẻ Bác là quẻ tháng Chín; chốc nữa biến thêm một nét thời thành quẻ Bát Thuần Khôn là quẻ Thuần âm vô dương. Ghê gớm thay nên Soán Truyện nói rằng: Bác, bác nghĩa là tiêu hết, cũng có nghĩa là rụng hết, dương tiêu rụng hết là vì âm nhu quá mạnh, khiến cho biến đổi hết dương cương vậy.

Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã.

Đương lúc ấy bao nhiêu địa vị của quân tử, tất thảy bị tiểu nhân chiếm sạch ráo nên Soán Truyện lại có câu: Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Quân tử xử thời đại ấy chỉ nên tiềm tàng nấp lén, không hành động được việc gì. Bởi vì tiểu nhân đạo trưởng thời quân tử phải tiêu, nên bất lị hữu du vãng.

PHỤ CHÚ: Quẻ Quải là quẻ ngũ dƣơng nhất âm thời Soán Truyện nói rằng: Cương quyết nhu dã. Quẻ Bác là quẻ ngũ âm nhất dương thời Soán Truyện nói rằng: Nhu biến cương dã. Chữ quyết với chữ biến, hai chữ khác nhau; một phương diện thời miêu tả tình trạng tiểu nhân hại quân tử mà nói chữ biến, Một phương diện thời miêu tả thủ đoạn quân tử trừ tiểu nhân mà nói chữ quyết. Bởi vì quân tử thường hay mắc bệnh nhân từ do dự. Nếu không quyết thời không trừ nổi tiểu nhân, tất phải dùng cách nhất đao lưỡng đoạn, nên nói chữ quyết. Chỉ còn nhất âm mà phải dùng chữ quyết, mới biết tiểu nhân là một giống khó trừ nên lấy chữ quyết dạy quân tử, chứ như tiểu nhân thời thường dùng âm mưu quỷ kế khiến cho quân tử ngày mòn tháng rụng mà thường đến nỗi quân tử phải biến cách theo nó, tượng như lửa hao mòn dần mà dầu không biết, tằm ăn hết lá mà lá không hay. Đến khi quân tử hết sạch rồi mà toàn xã hội chỉ thấy tiểu nhân, chính là thủ đoạn tiểu nhân hại quân tử. Thánh nhân ghê gớm cho thủ đoạn ấy, nên nói chữ biến. Chỉ hai chữ khác nhau mà ý nghĩa rất vi diệu, chúng ta há nên đọc qua mà không nghĩ rư?

Thuận nhi chỉ chi, quan tượng dã, quân tử thượng tiêu tức dinh hư, thiên hành dã.

Quân tử xử vào thời đại Bác thời nên thế nào? Tất phải xem ở tượng quẻ Bác. Quẻ Bác nội Khôn có tượng là thuận, Ngoại Cấn có tượng là chỉ, quân tử thuận theo đạo trời nên chỉ mà chỉ. Chỉ xem ở tượng quẻ Bác vừa đúng rồi, nhưng quân tử sở dĩ biết thuận nhi chỉ, há phải chờ vận Bác tới nơi mới biết được đâu? Ư trước khi chưa tới Bác mà quân tử đã để lòng nghiên cứu đến đạo trời, biết vận trời lưu hành âm tiêu, tất có hồi tức, dương dinh tất có lúc hư, vận trời đi thế vậy. Vì quân tử đã biết trước nên sùng thượng lẽ ấy. Nghĩa chữ thượng có ý như tín ngưỡng. Vì tín ngưỡng đạo trời nên tùy thì xử thế, khả chỉ tắc chỉ. Dầu thì vận Bác tới mà quân tử có bao giờ sụp vào tay tiểu nhân đâu!

Tiêu nghĩa là hao mòn; tức nghĩa là đẻ nở; dinh nghĩa là đầy tràn; hư nghĩa là trống không. Bốn chữ ấy chỉ chuyên nói về phía dương, phía quân tử. Chữ tiêu, chữ hư là nói từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là dương tiêu mà đến hư. Chữ tức, chữ dinh là nói từ quẻ Phục đến quẻ Càn là dương tức mà đến dinh.

Tượng viết: Sơn phụ ư địa, Bác. Quân tử dĩ hậu hạ, an trạch.

象曰: 山附於地, 剝. 君子以厚下安宅.

Tượng Truyện không theo nghĩa quẻ mà chỉ theo tượng quẻ, phát minh ra một nghĩa khác mà nói rằng: Ngoại thể Cấn là Sơn, nội thể Khôn là Địa. Núi y phụ với đất mà thành ra tượng quẻ Bác.

Tượng là muốn làm cao, trước phải nương dựa vào thấp; núi vẫn cao, nhưng nhờ có đất dày, đất ở dưới, nếu không dày thời núi phải đổ, người ở bậc trên dân, xem vào tượng ấy, biết nền móng ở dưới không dày vững thời địa vị mình không an, nên phải vun đắp cho người ở dưới mình, lo cho nhân dân được hậu sinh lợi dụng, lạc nghiệp an cư.

Trạch là chốn ở của dân, dân cư được an ổn thái bình, chính là đạo duy trì ở thì Bác vậy. Thượng là thủ tượng vào Sơn; hạ là thủ tượng vào Địa. Đất dày thời núi càng vững, dưới dày thời trên càng bền.

HÀO TỪ VÀ TlỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Lục: Bác sàng dĩ túc, miệt trinh, hung 初六: 剝床以足, 蔑貞凶.

Sơ Lục ở đầu hết thời đại Bác, âm vừa bắt đầu bác dương, chính là tiểu nhân bắt đầu bác quân tử. Bác từ dưới bác lên. Sơ chính xử vào địa vị ấy, tượng như phá hoại bộ giường mà Sơ là người bắt đầu cắt chân giường.

Sàng là cái giường nằm, để cho người an, thí dụ bằng địa vị quân tử. Túc là chân giường là chỉ vào địa vị ở dưới. Bác quân tử từ dưới bác lên, ấy là bác sàng dĩ túc. Nếu như thế mà bác lần lên mãi tất đến nỗi diệt mất chính đạo. Miệt: tiêu diệt; trinh: đạo chính của quân tử. Thế đạo đến lúc đó chắc phải hung.

Tượng viết: Bác sàng dĩ túc, dĩ diệt hạ dã. 象曰: 剝床以足, 以滅下也.

Bác sàng dĩ túc là âm diệt dương, tà diệt chính mà diệt từ dưới thấp diệt lên vậy. Chữ hạ là thay chữ túc.

2. Lục Nhị: Bác sàng dĩ biện, miệt trinh, hung. 六二: 剝床以辨, 蔑貞凶.

Bác tới Lục Nhị là âm bác dương đã tiến lên lần lần. Nhị vẫn một bầy với Sơ, đồng ác với nhau mà hại quân tử, tượng như hai anh chung sức với nhau phá hoại bộ giường. Sơ mới bác ở chân, đến Nhị đã bác tới then giường (Biện: then giường).

Tuy chưa bác đến mặt giường mà đã lên quá chân giường, chính là địa vị Lục Nhị. Như thế mà bác lần lần mãi tới diệt mất chính đạo phải hung.

Hào từ Lục Nhị cũng in như Sơ Lục, duy địa vị khác nhau chút đỉnh nên chữ túc với chữ biện khác nhau mà phần hung thuộc về quân tử, lại thảm hại hơn thời đại hào Sơ vậy.

Tượng viết: Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã. 象曰: 剝床以辨, 未有與也 .

Bác sàng mà đã bác tới biện thời quân tử đã nguy lắm rồi.

Nhưng sở dĩ nguy đến thế là vì phe tiểu nhân quá đông mà quân tử thời chưa có phe mình. (Dữ: đảng dữ). Nếu quân tử ở thì Bác mà biết đoàn kết lấy đồ đảng mình, còn có thể chống lại với tiểu nhân được, nên Tượng Truyện nói rằng: vị hữu dữ là lời thương tiếc cho quân tử vậy.

3. Lục Tam: Bác chi vô cựu. 六三: 剝之, 無咎.

Quẻ Bác năm âm rặt là bè tiểu nhân: Lục Tam ở trên hết Nội Quái, dưới có Sơ Lục, Lục Nhị, trên có Lục Tứ, rặt là bè với Tam, nhưng Tam lại tách riêng một mình, bỏ bè mình mà thượng ứng với Thượng Cửu. Thượng Cửu là quân tử ở thì Bác, Lục Tam ứng với Thượng Cửu chính là tiểu nhân mà chịu theo quân tử. Thánh nhân nhân tượng ấy mà tô tán cho Lục Tam rằng: Tâm sự được như Tam chính là một ngƣời không tội lỗi trong thì Bác. Ý như nói rằng: Trên dưới bốn hào rặt là tội lỗi, duy hào Tam mới không tội lỗi, chính là ý nghĩa Dịch vị quân tử mưu đó vậy.

Tượng viết: Bác chi vô cựu, thất thượng hạ dã.

象曰: 剝之無咎, 失天下也.

Lục Tam ở chung một hoàn cảnh với bốn hào âm mà Tam chịu li quần độc vãng, lên ứng với Thượng Cửu nên trên dưới Tam thảy mất lòng với Tam. Tam chịu mất đảng tiểu nhân mà làm bạn với quân tử. Như thế mới là Bác chi vô cựu.

4. Lục Tứ: Bác sàng dĩ phu, hung. 六四: 剝床以膚, 凶.

Âm tiến đến Lục Tứ, xử địa vị Thượng Quái, thế là quân tử bị bác không chốn nào trốn tránh được nữa, tượng như giường nằm bị phá hoại, chẳng những phá hoại hết giường mà lại xẻo lây đến thịt người nằm trên giường. (Phu: thịt mỏng trong da).

Bác sàng mà đã đến phu là tiểu nhân vào đã quá mám, quân tử bị hại đã quá đau nên không cần nói miệt trinh mà nói ngay chữ hung.

Tượng viết: Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã. 象曰: 剝床以膚, 切近災也.

Quẻ này chỉ một hào dương ở Thượng Cửu là quân tử, Bác đã đến Tứ, chốc phút nữa vượt qua Ngũ đánh đổ cả Thượng Cửu là quân tử xong đời, nên nói rằng: Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã nghĩa là: Tai họa đã bức thiết gần mình rồi đó.

5. Lục Ngũ: Quán ngư, dĩ cung nhân sủng, vô bất lị.

六五: 貫魚, 以宮人龍, 無不利.

 Lục Ngũ ở trên bốn hào âm, lại ở Ngũ là vị chí tôn, chính là làm chủ cho bầy âm, tượng là một người đại thủ lĩnh trong bầy tiểu nhân.

Thánh nhân hệ Hào từ đến đó, nguy cho quân tử mà còn hi vọng ở nơi tiểu nhân, muốn mở đường lối cho tiểu nhân khử tà quy chính nên bỏ chữ Bác không nói mà đặt riêng ra nghĩa khác nói rằng: Ngũ ơi! Ngũ đã làm chủ cho bầy âm, thế lực vẫn mạnh, đồ đảng vẫn đông, nhưng Ngũ lại thân cận với Thượng Cửu là quân tử ở đời Bác. Nếu Ngũ biết thể thiện tâm phù thế đạo, Ngũ thống suất cả bầy âm mà lên thuận tòng quân tử, tượng như đem cả xâu cá. (Quán: xâu; ngư: cá là giống thuộc về loài âm, tượng như bầy tiểu nhân).

Lại thí dụ như: Bà Hoàng hậu dắt cả tụi cung nhân mà đươc vua yêu sủng (Cung nhân là chúng thiếp trong cung vua; sủng là thân yêu). Quán ngư dĩ cung nhân sủng chỉ là nói thí dụ, chính ý là nói dắt bầy tiểu nhân lên theo quân tử. Tiểu nhân có thế lực như Lục Ngũ mà lại biết thiên thiện tòng chính như thế, tất nhiên thiện loại nhờ Ngũ mà được bảo toàn. Bác vẫn nhờ Ngũ mà có cơ chuyển Bác, chắc không việc gì không lợi tiện.

Tượng viết: Dĩ cung nhân sủng, chung vô vưu dã.

象曰: 以宮人寵, 終無憂也.

Lục Ngũ là một hào tôn trong quần âm. Nếu biết đem dắt cả bầy âm mà thuận thính với Thượng Cửu, tượng như bà hậu phi dắt cung nhân lên hầu vua là một việc đáng hân hạnh cho thế đạo không biết chừng nào. Thánh nhân vì thế mà tán cho rằng: tiểu nhân bác quân tử vẫn là tội lỗi.

Trái lại, tiểu nhân mà biết thuận thừa quân tử thời kết quả không tội lỗi gì. Vưu: tội lỗi, cũng có nghĩa là oán trách.

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Hào từ này nên biết khổ tâm của thánh nhân vì thế đạo!

Quẻ Bác này dương tiêu gần hết, âm trưởng gần cực. Theo về thiên đạo thời lúc ấy quyền tại âm, theo về nhân sự thời lúc ấy quyền tại tiểu nhân.

Tuy nhiên, ở thiên đạo vẫn không một ngày nào là không dương mà thế đạo cũng không một ngày nào là không quân tử, còn dương thời mới thành được quốc gia xã hội. Vậy nên, đến Lục Ngũ thánh nhân bỏ nghĩa âm bác dương mà đặt ra nghĩa âm thừa dương, ở trên Quái từ thời nói rằng: Bất lợi hữu du vãng là hết sức lo cho quân tử. Ở Lục Ngũ lại nói rằng vô bất lị là hết sức khuyến miễn cho tiểu nhân.

Ở trên mặt chữ tuy là khuyến miễn cho tiểu nhân mà trong thâm ý chỉ cốt phù trì cho quân tử, một tấm lòng ủy khúc vị quân tử mƣu đến như thế.

6. Thượng Cửu: Thạc quả bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.

上九: 碩果不食, 君子得輿, 小人剥廬.

Thượng Cửu là nhất dương ở quẻ Bác, dương bị bác đã gần hết, chỉ còn một hào này. Vận hội dương tuy cực suy mà hạt mộng dương còn tươi tốt, thánh nhân mới thủ tượng bằng trái cây.

Thí dụ như cả cây trái rụng đã gần hết, duy còn một trái lớn, hãy y nguy ở đầu cây (Quả: trái; thạc quả: trái rất lớn; thực, hái xuống ăn).

Trái lớn mà không hái xuống ăn thời nòi giống trái vẫn còn mà lại có ngày gieo mộng mọc cây, nên thánh nhân mừng mà nói: Thạc quả bất thực. Là bảo dương không bao giờ hết mà cũng là đạo quân tử không bao giờ tiêu hết. Theo về thể quẻ, Bác vẫn là quẻ tiểu nhân. Theo về tượng hào thời Thượng Cửu là hào quân tử, nên thánh nhân lại thiết ra hai nghĩa, phân biệt quân tử, tiểu nhân làm hai đường mà nói rằng: Hễ quân tử ở về cuối cùng Bác là dương hồi âm thịnh cực thời có thể suy, đời loạn cực thời có cơ trị, nên nhân tình tất thảy trông mong vào quân tử. Quân tử tới đâu chắc được chúng hoan nghinh. (Chữ dư đây khác chữ dư mọi nơi: Dư là quần chúng; đắc dư nghĩa là được lòng quần chúng).

Trên đây là nói về phần quân tử, bây giờ lại nói về phần tiểu nhân. Theo về thể quẻ, nhất dương ở trên ngũ âm, tượng như một dương là nhà che trùm năm âm.

Kìa bọn tiểu nhân ở đời Bác, nó lại bác cho đến nơi, nó đánh đổ cả nhất dương ở trên, té ra tự mình nó trúc đổ nhà nó, nó có biết nhất dương ở trên chính là nhà của nó đâu, nhất dương trúc, chính là nhà nó trúc (Lư: cái nhà để che mình, nhất dương che ngũ âm nên gọi bằng Lư; bác lư: trúc đổ cái nhà mình ở). Câu tiểu nhân bác lư không theo như nguyên nghĩa quẻ Bác, chỉ lấy bản thân Thượng Cửu mà đặt riêng một nghĩa.

Theo nghĩa quẻ thời phần xấu thuộc về quân tử, chính là lúc quân tử bị bác. Theo nghĩa hào Thượng thời phần xấu thuộc về tiểu nhân. Tuy tiểu nhân bác được quân tử, nhƣng cuối cùng thời quân tử hết mà tiểu nhân cũng không còn, nên nói rằng tiểu nhân hác lư.

Thử xem từ xưa đến nay, trải bao nhiêu cuộc biến loạn, nhân loại điêu linh, quân tử tuyệt tích làm nên cuộc Bác chính là tay tiểu nhân. Mà đến khi bác chung, quốc vong chủng diệt thời tiểu nhân cũng xong đời, chẳng bao giờ thấy những tay làm bác mà còn mãi được, ấy mới biết câu tiểu nhân bác lư, thiệt có sự thực, chứ không phải lí luận suông.

Thử xem sử Tàu, khi Hán vong thời những bọn tiểu nhân như Thập Thường Thị cũng không còn; sử nước ta, khi Lê vong thì những bọn tiểu nhân như Hoàng Phúc Ngô Thì Nhậm cũng không anh nào có chốn dụng thân. Đó là tự bác kì lư vậy.

Trên kia, ba hào dụng chữ bác sàng, sàng là chốn quân tử an thân mà bị tiểu nhân bác. Đến hào Thượng thời dụng chữ bác lư; lư là chốn tiểu nhân dụng thân mà tiểu nhân tự mình nó ra tay bác. Lòng thánh nhân thương quân tử mà ghét tiểu nhân, xem ở lời thí dụ lại càng minh bạch lắm.

Tượng viết: Quân tử đắc dư, dân sở tái dã, tiểu nhân bác lư, chung bất khả dụng dã. 象曰: 君子得輿, 民所載也, 小人剝廬, 終不可用也.

Thế đạo đã đến hồi Bác cực là loạn đã cực rồi thời nhân tình trông mong trị, vì lòng người tự trị nên khuynh hướng vào quân tử. Quân tử là chỉ vào nhất dương, đắc dư là nhân dân vui lòng chở đỡ người ấy (Tái: chở).

Còn như tiểu nhân thời bác đã cùng mà kiếp cùng cũng đến giữa thân tiểu nhân, kết quả thời tiểu nhân cũng chẳng làm nên việc gì. Chung: Bác chi cực, bất khả dụng: bọn tiểu nhân kia, không ai ngó tới nó nữa.

PHỤ CHÚ: Đọc hết quẻ này mà phát minh một nghi nghĩa.

Nguyên đầu hết thuần dương là quẻ Càn, biến một nét dưới hết thành ra quẻ Cấu; lại lần biến hết bốn dương thành các quẻ Độn, Bĩ, Quán. Biến hết năm dương thành quẻ Bác, chốc nữa biến hết sáu dương thành quẻ Bát Thuần Khôn. Thế thời trải đoạn Bác qua Khôn mà nhất là trong lúc quẻ Khôn, chẳng phải là không dương hay sao? Đạo lí đó tiên Nho Trình, Chu giải thích rất phân minh, nay dịch ra như sau này:

Nguyên lai, có cả âm, dương, mới thành được vũ trụ, thiên đạo có bao giờ không dương hay không âm đâu? Chỉ tranh nhau ở chốn nhất tiêu, nhất túc, nhưng mà tiêu tức đã hiện ra ở chốn hữu hình thời chúng ta thấy được, tiêu tức còn nấp nép ở chốn vô hình thời chúng ta không thấy được.

Dịch có bao giờ bảo dương hết đâu, bác hết ở trên thời đẻ ngầm ở dưới, chính ở giữa quẻ Khôn là dương cương đẻ ngầm mà vô hình, chốc đến quẻ Phục thời dương đã xuất hiện mà hữu hình. Nhất dương ở dưới quẻ Phục cũng chỉ là nhất dương ở trên quẻ Bác. Duy trung gian ở quẻ Khôn là dương đương kết thai, kết thai đủ chín tháng mười ngày mà sinh ra ở quẻ Phục, chúng ta vì không thấy ở lúc kết thai nên nghi là không dương. Về phần âm cũng thế, chính giữa quẻ Càn cũng không phải là không âm.

Bây giờ thử lấy mỗi quẻ mà phổi hợp với mỗi tháng, mỗi một tháng chỉ sinh được có một nét, tức là một hào, nhưng mà một hào đó há phải đột nhiên mà sinh ra đâu.

Tỉ như: Quẻ Khôn là quẻ tháng Mười, theo trên mặt quẻ, tuy là thuần âm, nhưng trong một tháng ba mươi ngày, mỗi một ngày thời dương đã sinh ngầm một phân, chưa đủ ba mươi phân thời bào thai nhất dương chưa hoàn mãn. Đến cuối tháng vừa đủ ba mươi ngày thời khí dương cũng sinh đầy ba mươi phân, vừa bắt đầu vào tháng Mười Một thời thấy một hào dương xuất hiện mà thành quẻ Phục, nhưng một hào dương đó vẫn phối thai ở lúc còn trong tháng Mười, có bao giờ vô dương đâu. Chúng ta hiểu được đạo lí ấy thời biết được đương giữa lúc thiên hạ cực loạn chính là con nhà trị đã sinh ngầm rồi.

Vì mắt chúng ta chỉ thấy được ở chốn hữu hình mà không ai để mắt đến chốn vô hình. Than ôi! Thiên đạo quá bất trắc, nhân sự quá vô thường. Vậy nên chúng ta càng nên nghiên cứu Dịch lí.

 

 

24. QUẺ ĐỊA LÔI PHỤC

Khôn trên; Chấn dưới

Quẻ này là quẻ Địa Lôi Phục.

Chấn hạ cũng là Nội Chấn; Khôn thượng cũng là Ngoại Khôn. Khôn vi Địa, Chấn vi Lôi, nên tên quẻ đọc hằng Địa Lôi Phục.

TỰ QUÁI

Tự quái: Bác giả bác dã, vật bất khả dĩ chung tận; Bác cùng thượng phản hạ, cố thụ chi dĩ Phục. 序卦: 剝者剝也, 物不可以终盡; 剝窮上反下, 故受之以复.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Bác tiếp lấy quẻ Phục là vì cớ sao?

Vật lí không bao giờ tuyệt đối cùng tận, Bác đến hào Thượng là cùng cực ở trên, tất quay trở lại ở dưới nghĩa là: Bác cùng thượng phản hạ. Vậy nên sau quẻ Bác, tiếp lấy quẻ Phục.

Quẻ này nhất dương ở dưới ngũ âm là âm thịnh cực ở trên mà dương phục sinh ở dưới. Mà cũng là đạo tiểu nhân thịnh cực. Thịnh chi cực thời phải tiêu, đạo quân tử tiêu cực, tiêu chi cực thời lại trưởng, nên đặt tên quẻ bằng Phục. Phục: trở lại, cũng có nghĩa là hoàn phản.

PHỤ CHÚ: Quẻ Bác vừa rồi thời bắt vào quẻ Phục ngay, đảo ngược quẻ Bác thời thành quẻ Phục, chính là biến dịch trong Dịch học.

Tuy nhiên, bảo rằng biến dịch, há phải phút chốc mà biến dịch ngay đâu? Âm âm, trầm trầm, ngần ngần, nghĩ nghĩ mà cái máy biến dịch vẫn quay luôn, không quay đủ mười hai giờ thời ngày không biến được ra đêm, nhưng cái cơ sở dĩ biến dịch vẫn có luôn luôn.

Liệt Tử có câu rằng: Vận chuyển bất dĩ, thiên địa mật di, trù giác chi tai 運轉不已, 天地密移, 疇疇覺之哉,  nghĩa là: vận chuyển không một phút nghỉ, trời đất vẫn ngầm ngầm dời đổi luôn, đố ai mà biết được. (Trù nghĩa là ai).

Kinh Phật, đoạn thứ nhất, quyền thứ nhì, trong Kinh Lăng Nghiêm có nói: Kì biến ninh duy nhất kỉ, nhị kỉ, thực duy niên biến, khỉ duy niên biến, diệc kiêm nguyệt hóa, hà trực nguyệt hóa, kiêm hữu nhật thiên 其變寧唯一紀二紀, 實唯年變, 豈唯年變, 亦兼月化, 何直月化, 兼有日遷. Nghĩa là: Đạo lí trong đời phải có biến đổi, há những một kỉ, hai kỉ có biến đổi mà năm cũng vậy. Chẳng những năm có biến đổi mà tháng cũng vậy, chẳng những tháng có biến đổi mà ngày cũng vậy, nhƣng vì người ta không biết mà thôi. Đoạn Kinh văn trên đây, tuy chỉ nói Phật lí mà Dịch lí cũng như thế.

SOÁN TỪ

Phục, hanh, xuất nhập vô tật, bằng lai vô cựu. Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, lị hữu du vãng.

復亨, 出入無疾, 朋來無咎. 反復其道, 七日來復, 利有攸往.  

Quẻ này là dương đi đã lâu ngày mà bây giờ vừa trở lại, tượng như quân tử nấp đã lâu ngày mà bây giờ lại trở lên. Dương trở lại thời thiên đạo có tượng hồi xuân, quân tử lên trở lại thời thế đạo có cơ khai thái, nên nói rằng Phục hanh, nghĩa là dương đã phục thời có lí hanh thịnh. Bởi vì loài dương từ đó tiệm tiệm sinh trưởng hoài, loài quân tử từ đó tiệm tiệm dắt lên mãi, nên chắc được hanh thịnh. Đến bây giờ giữa bản thân quân tử đã ra vào tự do mà không việc gì khốn nạn (Nhập nghĩa là sinh nở trong; xuất: phát triển ở ngoài; vô tật: không tai nạn).

Xuất nhập mà được vô tật, tức là hanh, chẳng những như thế mà lại từ đó sắp đi quần dương lần lượt kéo về, bầy quân tử lần lượt dắt đến, còn có điều gì lầm lỗi nữa đâu. Chỉ giữa bản thân nhất dương thời vừa được xuất nhập vô tật, tất đến bằng lai là quần dương về cả mới được vô cựu, ý nghĩa có thiển, thâm. Vô tật là thân thể được kiện toàn; vô cựu là sự nghiệp được hoàn thiện.

Xem như quẻ này thời biết lẽ tiêu, trưởng của vận trời, tráo đi trở lại, trưởng rồi quay lại tiêu, tiêu rồi quay lại trưởng (Phản phục: trở tráo).

Dương bắt đầu tiêu từ quẻ Cấu, nhất âm thỉ sinh, trải qua bảy hào, tới đây âm biến ra dương mà nhất dương lại phục nên nói rằng: Thất nhật lai phục (Thất nhật: bảy ngày). Lấy chữ nhật thay chữ hào, đổi thay bảy hào mà dương sinh, ấy là thất nhật.

Dương tiến thời âm thối, quân tử đạo trưởng thời tiểu nhân đạo tiêu, vậy nên lị hữu du vãng, nghĩa là quân tử tới lúc bây giờ có hành động những việc gì tất cũng thuận lợi.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Phục hanh, cương phản, động nhi dĩ thuận hành, thị dĩ xuất nhập vô tật, bằng lai vô cựu. Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã. Lị hữu du vãng, cương trưởng dã. Phục kì kiến thiên địa chi tâm hồ.

彖曰: 復亨, 剛反, 動而以順行, 是以出入無疾, 朋來無咎. 反復其道, 七曰來復, 天行也. 利有 攸往, 剛長也. 復其見天地造化之心乎.

Soán viết: Phục hanh, cương phản. Sở dĩ Phục mà hanh, bởi vì dương cương đã quay trở về thời chắc được hanh (Chữ Phản là thích nghĩa chữ Phục).

Trước kia là nhất dương ở trên cùng quẻ Bác, bây giờ nhất dương trở lại mà sinh vào dưới quẻ Phục, ấy là cương phản.

Động nhi dĩ thuận hành, thị dĩ xuất nhập, vô tật, bằng lai vô cựu.

Lại xem bằng đức quẻ, Nội Chấn là tính động, Ngoại Khôn là tính thuận. Thế là hoạt động mà chỉ thuận theo bằng đạo trời. Bởi vì động là thuận nên được xuất nhập vô tật, bằng lai vô cựu.

Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã.

Âm, dương tiêu trưởng, phản phục tuần hoàn, trải qua bảy hào biến động, nhất dương lại sinh. Đó cũng là vận trời lưu hành như thế.

Lị hữu du vãng, cương trưởng dã.

Dương cương đã sinh thời sẽ trưởng thịnh lần lần, Phục rồi thời Lâm, thời Thái, thời Đại Tráng, thời Quải, trưởng mãi cho đến lúc thuần Càn, tấn hành chắc được thuận lợi lắm, nên nói rằng: Lị hữu du vãng, cương trường dã.

PHỤ CHÚ: Soán từ quẻ Bác bất lị hữu du vãng, Truyện thích rằng tiểu nhân trưởng dã. Soán từ quẻ Phục lị hữu du vãng, Truyện thích rằng cương trưởng dã.

Chữ tiểu nhân ở quẻ Bác, cũng có thể thay làm chữ nhu, chữ cương ở quẻ Phục, cũng có thể thay làm chữ quân tử; Kinh văn đắp đổi cho rõ ý, học giả cũng nên đắp đổi xem cả hai bên thời biết cương với nhu, quân tử với tiểu nhân, thường tráo nhau mà tiêu, trưởng.

Phục kì kiến thiên địa chi tâm hồ.

Ở thì Phục này là thấy được tâm của trời đất đó mà.

PHỤ CHÚ: Một câu này ý nghĩa cực kì hay, đạo lí cực kì rộng mà giải thích lại cực kì khó. Thiên địa chi tâm vẫn cắt nghĩa là lòng của trời đất, nhưng theo mắt tục ta mà xem thời thiên chỉ là không khí bung lung, địa chỉ là mắt trái của đất làm gì mà có tâm, mà tâm thời ở chốn nào? Cớ sao Dịch lại nói rằng Thiên địa chi tâm? Cớ sao lại nói ở chốn Phục thời thấy được. Muốn giải quyết nghi nghĩa ấy, phải đặt ra ba câu đoán ngữ:

Một là, phải đoán định rằng: Thiên địa vẫn có tâm. Hai là, tâm của thiên địa tất có chốn mà ta tìm thấy. Ba là, muốn thấy được tâm của thiên địa tất phải xem ở nơi múi động. Bây giờ xin trục thứ giải thích cho kỹ càng:

Hễ giống hữu sinh trong vũ trụ, không giống gì là không tâm. Tỉ như: cây phải có hạt trái cây, hoa phải có nhụy hoa, nhất thiết động vật phải có ruột. Có giống gì là giống không tâm đâu, há có lẽ rất cao, rất lớn, rất bao bọc vô cùng như thiên địa mà lại không tâm rư?

Tứ thì vì cớ sao mà vận hành không nghỉ, vạn vật vì cớ sao mà sinh dục không thôi, các tinh cầu vì cớ sao mà luân chuyển không dừng, đó chỉ vì thiên địa có tâm mà tác dụng được như thế. Tâm thiên địa ở chốn nào? Chỉ ở chốn khí cơ thường hoạt động, nếu một ngày cái động cơ nó chết, tức là tâm của thiên địa chết. Trình Tử có câu: Động chi đoan nãi thiên địa chi tâm 動之端乃天 地之心. Câu ấy rất hay nên muốn tìm cho được thiên địa chi tâm, tất phải tìm ở nơi múi động, tìm được múi động thời thấy được thiên địa chi tâm.

Múi động thời tìm ở chỗ nào? Tất phải tìm ở nơi quẻ Phục. Lí do như thế này, trước kia còn quẻ Khôn thuần âm, bao nhiêu sinh khí đương âm trầm lặng lẽ, giống gì, giống gì tất thảy cơ hồ chết ngắt; bỗng chốc mà một nét hào Sơ biến động ở dƣới hết mà hóa ra nhất dương, lòng sinh vật của thiên địa bây giờ mới trình lộ nên nói rằng: Phục kì kiến thiên địa chi tâm.

Nguyên lai, tâm của thiên địa chỉ cốt ở sinh ra vạn vật, muốn cho vạn vật sinh sinh mãi mà không bao giờ cùng, nhưng vật sở dĩ sinh được là cốt nhờ ở dương khí, nếu nhất đán dương khí chết thời vạn vật cũng chết, còn gì là thiên địa chi tâm.

Chúng ta thử xem bao nhiêu động vật, thực vật, nếu một giờ không không khí, không nhật quang thời chẳng bao lâu mà chết ngột, không khí với nhật quang chính là do dương khí làm ra, nên xem ở quẻ nhất dương phục sinh thời thấy được thiên địa chi tâm.

Tuy nhiên, tới Phục mới thấy được thiên địa chi tâm hay sao? Thế thời ở ngoài Phục không thấy được thiên địa chi tâm hay sao?

Không phải thế, toàn vũ trụ từ vô thỉ đến vô chung, có bao giờ thiên địa chi tâm chết đâu mà thiên địa chi tâm cũng không bao giờ thay đổi, nhưng chỉ vì thì gian quá chừng dài, không gian quá chừng rộng, vạn tượng quá chừng phức tạp. Chúng ta biết lấy đâu làm manh múi mà tìm ra được thiên địa chi tâm. Duy trong lúc nhất dương sơ động, chúng như ở lúc trong đêm tối mà bỗng chốc có một tia sáng lóe ra, chúng ta mới bắt manh múi đó mà tìm được thiên địa chi tâm; chẳng những thiên địa chi tâm mà nhân tâm cũng vậy. Tỉ như: Lúc chúng ta ứng sự tiếp vật, lộn nhộn lạo nhạo thời tâm chúng ta thiện hay ác, vẫn không múi manh gì mà tìm cho ra, nhưng đến lúc đêm khuya thanh vắng, giấc ngủ đương say, khi ngủ rồi thốt nhiên tỉnh dậy, tinh thần lúc đó vừa mới manh động mà cái cơ tính thiện mới phát hiện ra, chỉ trong một lúc khoảnh khắc đó, cũng tất là nhất dương sơ sinh, có thể nói rằng: Động chi đoan là thấy được nhân chi tâm mà nhân chi tâm cũng là thiên địa chi tâm. Duy những hạng người trầm mê vì vật dục, trót một đời người chỉ làm tôi tớ cho vật chất thời không thấy được nhân chi tâm mà thôi.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Lôi tại địa trung, Phục. Tiên vương dĩ chí nhật bế quan, thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh phương.

象曰: 雷夺地中, 復. 先王以至日閉關, 商旅不行, 後不省方.

Chấn ở dưới, Khôn ở trên, tượng là sấm nấp ở dưới đất là tượng quẻ Phục. Tiên vương xem tượng quẻ ấy thấy được nhất dương mới sinh ở phía dưới, măng mậm còn non nên yên lặng êm đềm để nuôi lấy khí dương đương còn bé. Vậy nên ngày Đông Chí là ngày dương thỉ sinh, ở ngày ấy đóng các cửa quan, khách buôn bán nghỉ không đi. Vị quốc trưởng nghỉ không đi xem xét các địa phương.

Chí nhật nghĩa là ngày Đông Chí; bế quan nghĩa là đóng cửa; thương là người đi buôn; lữ là khách đi đường; tỉnh nghĩa là xem xét; phương nghĩa là các địa phương; hậu nghĩa là người quốc trưởng.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Bất viễn phục, vô kì hối, nguyên cát.

初九: 不遠復, 無祗悔, 元吉.

Sơ Cửu ở đầu hết quẻ Phục, có đức dương cương, lại ở đầu quẻ là phục được trước nhất trong thì Phục. Tuy có lầm lỗi nhưng trải qua thì gian chẳng xa mà đã trở lại tốt lành, phục được mau chóng thế thời không đến nỗi ăn năn lớn (Chữ kì như nghĩa chữ đại; vô kì hối nghĩa là không ăn năn lớn).

Như thế thời được đạo lành lớn mà tốt. Xưa thầy Nhan bất nhị quá, nghĩa là dầu có điều lỗi, nhưng chỉ lỗi một lần mà thôi, không bao giờ lầm lỗi đến hai lần. Đức Khổng tán cho thầy Nhan rằng: Có điều gì chẳng lành tức khắc biết ngay, đã biết tức khắc đổi ngay. Chóng cải quá được như thầy Nhan, chính đúng với Hào từ Sơ Cửu này.

Tượng viết: Bất viễn chi phục, dĩ tu thân dã.

初九: 不遠之復, 以修身也.

Công phu Phục nên chóng gấp ở khi còn bất viễn. Nếu đã viễn rồi mới phục thời phục đâu kịp nên công phu tu thân của quân tử, không gì quý hơn chóng đổi điều lỗi, nên nói rằng: Bất viễn chi phục, dĩ tu thân dã.

2. Lục Nhị: Hưu phục, cát. 六二: 休復, 吉.

Hào Lục Nhị là âm nhu đắc trung, đắc chính mà thân cận với hào Sơ là dương hào là một người quân tử; Nhị biết thân cận với quân tử mà hạ với hào Sơ, ấy là phục mà tốt đẹp đó vậy (Hưu: tốt).

Đức Khổng có câu nói: Khắc kỷ phục lễ vi nhân 克己復禮為仁,  nghĩa là: Khắc khử được lòng riêng mình, hồi phục lại được lẽ trời thời là nhân. Nhị này được như thế nên được cát.

Tượng viết: Hưu phục chi cát, dĩ hạ nhân dã. 象曰: 休復之吉, 以下仁也.

Lục Nhị mà được hưu phục cát, bởi vì hay thân hạ với người nhân vậy. (Nhân là chỉ vào hào Sơ; Hạ nhân là thân hạ với hào Sơ).

PHỤ CHÚ: Toàn bộ Dịch ba trăm tám mươi tư hào, không tượng từ nào nói chữ nhân, chữ nhân chỉ nói ở hào này, thánh nhân nghĩ rằng: Nguyên đặt ra chữ nhân, bên tả chữ nhân là người, bên hữu hai nét ngang cân bằng nhau, rất có ý nghĩa. Bởi vì nhân là bản tâm của người, khi đầu trong bụng mẹ vẫn sẵn có bản tâm ấy, có bản tâm ấy mới gọi là người, nên sách Trung Dung có câu: Nhân giả nhân dã 仁者, 人也, nghĩa là: Gọi bằng nhân, chỉ có chân lí sở dĩ làm người mà thôi. Lòng của trời đất sở dĩ sinh ra người cũng chỉ ở đức nhân, người có lòng tốt ấy thời muốn việc lành từ đó mà nảy ra, tượng như trái có hạt mộng mới sinh nở ra cây, tục ta thường gọi hạt cây bằng nhân, như đào nhân, qua tử nhân, hạnh nhân, v.v. cũng là lẽ ấy.

Quẻ Phục này là quẻ miêu tả tâm sinh vật của thiên địa mà tâm sinh vật của thiên địa, chính là đức nhân.

Sơ Cửu quẻ Phục chính là nhất dương làm gốc cho thiên địa sinh vật, nên thánh nhân lấy chữ nhân đặt vào hào này, muốn cho chúng ta biết đúng cách làm người, tất phải giữ đức nhân mà muốn giữ đức nhân tất phải đại công vô tư, không chia người, không chia mình.

Phật gia cũng có câu: Vô ngã tướng, vô nhân tướng 無我相, 無人相 là gọi bằng nhân. Thầy Trình thích nghĩa chữ nhân có nói rằng: Nhân giả thiên hạ chi công, thiện chi bản dã 仁者天地 之公, 善之本也, nghĩa là: Đức nhân là lẽ công cùa thiên hạ, cội gốc của muôn điều lành, rất hợp với lí thánh nhân.

Hai nét ngang ở bên hữu chữ nhân, bằng cân như nhau nghĩa là người với người phải nhất thị Đồng Nhân không riêng với ai, cũng không riêng với mình, có như thế mới làm được người, chỉ xem ở mặt chữ chữ nhân mà nghiền cho ra ý thời cũng hiểu.

3. Lục Tam: Tần phục, lệ, vô cựu. 六三: 頻復, 厲, 無咎.

Hào Lục vị Tam bất trung, bất chính, lại ở về cuối cùng thể Chấn là động chi cực, chính là một hạng người trì thủ bất kiên, theo điều lành mà không được chắc chắn, biết chừa lỗi mà lại thường mắc lấy lỗi, thất đi, phục lại, phục lại, thất đi (Tần nghĩa là hằng hằng).

Vì hằng hằng thất nên thánh nhân răn cho rằng: Như thế thời cũng nguy đó. May cho Tam hằng hằng thất mà lại hằng hằng phục thời kết quả cũng không lỗi. (Lệ là tội tại tần thất; vô cựu là may vì hay tần phục).

Tượng viết: Tần phục chi lệ, nghĩa vô cựu dã.

象曰: 頻復之厲, 義無咎也.

Lục Tam vì hay quá thất, tuy có nguy lệ, nhƣng mỗi lần thất thời hay mỗi lần phục, ở nghĩa phục thiên, cũng là vô cựu.

4. Lục Tứ: Trung hành, độc phục.

六四: 中行獨復.

Chữ trung này chỉ nghĩa là giữa, không phải nghĩa là đắc trung.

Nguyên quẻ Phục này năm hào âm là năm tiểu nhân, chỉ một hào Sơ dương là quân tử.

Lục Tứ tuy cũng cư âm, nhưng mà đắc chính, Tứ đi vào chính giữa năm hào âm, dưới có Nhị, Tam, trên có Ngũ, Thượng mà một mình Tứ chính ứng với hào Sơ. Thế là bỏ vất cả bầy tiểu nhân để theo với một bậc quân tử, nên Hào từ nói rằng: Trung hành độc phục, nghĩa là đi giữa bầy ác mà một mình phục theo thiện nhân.

PHỤ CHÚ: Theo như lệ các hào thời Lục Tứ đáng được nói chữ cát, cớ sao Hào từ không nói cát mà cũng không nói vô cựu. Đó là thâm ý của thánh nhân chính hay ở nơi không chữ. Bởi vì một mình Tứ theo Sơ mà thế lực quần âm thời còn mạnh, thế lực Sơ dương thời còn hèn. Một con phượng ở giữa bầy cú, một hòn ngọc ở giữa chòm đá, đã chắc gì thay đổi được hoàn cảnh mà vội dám nói cát. Nếu nói hung thời không phải hung, nên thánh nhân chỉ khen cho hai chữ độc phục.

Chữ độc phục này in như câu của ông Khuất Nguyên: Chúng nhân giai trọc, ngã độc thanh, chúng nhân giai túy, ngã độc tỉnh 衆人皆濁我獨清, 衆人皆醉我獨醒. Chỉ một chữ độc là giá trị của Tứ rất cao, còn như không nói cát, hung, lại in như câu của ông Khổng Minh: Thành, bại, lị, độn, phi sở năng nghịch đổ 成, 敗, 利, 鈍, 非所能逆覩, nghĩa là: Nên hay thua, sắc hay lụt, không thể thấy trước được; hiền nhân quân tử chỉ cốt làm điều phải mà thôi.

Tượng viết: Trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã.

象曰: 中行獨復, 以從道也.

Hào từ sở dĩ lấy chữ độc phục khen cho Lục Tứ là vì Tứ biết phục theo đạo dương cương của quân tử vậy (chữ đạo là chỉ vào Sơ Cửu: cũng như chữ Nhân ở tượng từ Lục Nhị).

5. Lục Ngũ: Đôn phục, vô hối. 六五: 敦復, 無悔.

Hào Lục ở vị Ngũ là nhu thuận đắc trung, lại ở vị tôn. Đương ở thì Phục lại ở giữa thể Khôn là có đức dày, chính là một người phục thiện lại rất dày bền (Đôn là dày bền), nên nói rằng: Đôn phục vô hối; phục thiện mà dày bền thời chắc vô hối.

Tượng viết: Đôn phục vô hối, trung dĩ tự khảo dã.

象曰: 敦復無悔, 中以自考也.

Lục Ngũ lấy đạo trung tự thành lấy mình, hay phục thiện bằng một cách dày bền nên Tượng Truyện khen cho rằng: Trung dĩ tự khảo. Khảo cũng nghĩa như chữ thành. Tự khảo nghĩa là mình tự thành mình mà không chờ ai dạy bảo.

Trong bốn hào, Nhị còn phải hạ nhân. Tứ còn phải tòng đạo, phải nhờ thầy là Sơ dạy bảo, duy Ngũ thời tự khảo lấy mình mà thôi, thiệt là chất tốt hơn Nhị, Tứ nhiều lắm mà căn bản lại cốt ở chữ trung. Kinh Thư có câu: Duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung 惟精惟一, 允執厥中,  nghĩa là: Xem xét đạo lí cho rất tinh, giữ gìn đạo lí cho chuyên nhất, tin hay cầm được đạo trung, chính là nghĩa tượng hào này. Tinh nhất là công phu tự khảo; chấp trung là nghĩa chữ trung ở Tượng hào này.

6. Thượng Lục: Mê phục, hung, hữu tai sảnh, dụng hành sư, chung hữu đại bại; dĩ kì quốc quân hung chí vu thập niên, bất khắc chinh.

上六: 迷復, 凶, 有災眚, 用行師, 終有大敗; 以其國君, 凶, 至于十年, 不可征.

Thượng Lục ở cuối cùng quẻ Phục mà lại ở trên hết năm âm, chính là một đứa tiểu nhân, từ đầu chí cuối ở giữa thì Phục. Phục mà hôn mê đến thế, tượng là một người đi lầm đường cho đến cuối cùng, có gì không xấu nữa đâu, chắc kết quả hào này e có cả tai vừa sảnh (Tai là vạ tự ngoài đưa đến; sảnh là lỗi tự mình gây ra).

Vì Thượng Lục là một người có thế lực nhất trong bầy tiểu nhân, Thượng không chịu thấy tai sảnh mà cải hối, Thượng lại toan cậy võ lực mà sinh quyền uy, đem quân gia súng đạn mà áp phục người ta, nhưng cuối cùng Thượng tất đại bại. Khi Thượng đã đại bại thời nước của Thượng, vua của Thượng, tất thảy vì Thượng mà khốn nạn cả.

Nếu Thượng mà không mê phục, họa may giữa đường mà biết quay lại chăng, nhưng Thượng không mong được thế, điên cuồng hoài, bể đổ hoài, đến lúc số đã cùng, vận đã kiệt mà không một bước nào tấn lên được. Thập niên là lấy số chung mà nói. Hễ kể số nhất là thỉ thì thập là chung. Thập niên bất khắc chinh, chỉ nghĩa là chung cục không ra gì, chứ không phải hạn định là mười năm.

Tượng viết: Mê phục chi hung, phản quân đạo dã.

象曰: 迷復之凶, 反君道也.

Chữ quân không phải nghĩa là vua mà nghĩa là chủ. Hễ làm chủ trong một đám thời gọi bằng quân được, cha mẹ gọi bằng nghiêm quân, vợ trong nhà gọi bằng tế quân, thảy quân đều nghĩa là chủ. Quẻ Phục này, nếu không có hào Sơ dương thời chỉ là quẻ Khôn, nên hào Sơ là chủ quẻ Phục. Bây giờ Thượng Lục hôn mê mà không phục với dương là trái với đạo dương cương của Sơ Cửu, nên nói rằng: Phản quân đạo dã.

Chữ Quân là chỉ vào Sơ dương, vì Sơ dương làm chủ ở quẻ Phục, Thượng Lục tuyệt với Sơ dương là trái với đạo chủ.

PHỤ CHÚ: Xem suốt từ Quái từ, Hào từ thời biết rằng: Khí số với nhân sự thường tương phản mà lại tương thành, Quái từ chỉ nói bằng số khí thời âm đã đến lúc tiêu, dương đã đến lúc trưởng, nên nói rằng: Phục hanh, vô tật, vô cựu; tuy là khí số vẫn đến hồi tốt, nhưng có lẽ đâu trong thiên hạ chỉ có khí số mà không có nhân sự rư? Nếu khí số thuận mà nhân sự nghịch thời khí số cùng không uy quyền gì. Nếu khí số nghịch mà nhân sự thuận, thời nhân sự cũng có thế lực lắm. Vậy nên Hào từ ở sáu hào, bỏ quách khí số mà chuyên nói nhân sự. Hào Sơ vì thiên thiện nhanh chóng thời được nguyên cát; hào Nhị vì biết thân hiện lạc thiện thời được cát, đó là nhân sự ưu thời thắng, có ỷ lại khí số đâu? Tam hay tần phục thời được vô cựu; Tứ hay độc phục, cũng được khỏi hung, hối, lẫn; Ngũ vì đôn phục mà được vô hối, đó là lấy nhân sự thắng được khí số. Duy Thượng Lục thời vì mê phục mà đến nỗi hung vừa tai sảnh.

Xem hết sáu hào thời biết rằng: Cũng chung một vận hội, chung một thời, thế mà lành dữ trái nhau, như thế mới biết cát, hung cốt ở nhân sự có phải, chăng, hay, quấy; chứ khí số bao giờ hạn định được đâu.

Tả Truyện có câu: Thiên định năng thắng nhân, nhân định diệc năng thắng thiên, nghĩa là: Thiên số nhất định vẫn hơn được người, nhưng nhân sự đến khi nhất định, cũng hơn được trời, chính là đạo lí của Dịch vậy

 

 

25. QUẺ THIÊN LÔI VÔ VÕNG

 

Kiền trên; Chấn dưới

Quẻ này là quẻ Thiên Lôi Vô Võng.

Chấn hạ cũng là Nội Chấn; Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Càn Thiên, Chấn Lôi, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Lôi Vô Võng.

TỰ QUÁI

Tự quái: Phục tắc bất vọng hĩ, cố thụ chi dĩ Vô Võng.

序卦: 复則不妄矣, 故受之以無妄.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Phục tiếp lấy quẻ Vô Võng là cớ vì sao?

Bởi vì đã Phục rồi thời không [làm] càn nên sau quẻ Phục tiếp lấy quẻ Vô Võng.

Võng nghĩa là càn. Người ta sở dĩ làm càn là vì quên mất thiên lí. Hễ đã biết trở lại theo thiên lí thời có làm càn nữa đầu. Vậy nên sau quẻ Phục, tiếp lấy quẻ Vô Võng.

Theo về tượng quẻ, Càn trên, Chấn dưới; Chấn nghĩa là động, Càn nghĩa là trời, phát động bằng tư tưởng, hoạt động bằng hành vi mà tất thảy hợp với lẽ trời, ấy là Vô Võng. Nếu có mảy may vì nhân dục mà động thời là Võng.

SOÁN TỪ

Vô Võng, nguyên hanh, lị trinh, kì phỉ chính, hữu sảnh, bất lị hữu du vãng.

無妄元亨利貞, 其匪正, 有眚, 不利有攸往.

Nghĩa hai chữ Vô Võng giải thích cho đến nơi thời chỉ duy thiên đạo với thánh nhân mới đúng được hết. Nguyên lai, trong vũ trụ, sẵn có lí tự nhiên, theo ở lí tự nhiên, không cần phải tạo tác, đó là vô võng thuộc về thiên đạo. Đến như các sự vật thời có lí đương nhiên, không pha vào tư ngụy. Đó là vô võng thuộc về thánh đức.

Nhưng mà vì có tự nhiên mới đẻ ra đương nhiên, lại lấy đương nhiên mà hợp với tự nhiên, ấy là thánh tức thiên, thiên tức thánh mà tổng chi gọi bằng Vô Võng.

Trong Phật học rất ghét là chữ võng mà Dịch rất quý là vô võng, người ta nếu làm đến vô võng thời đạo hợp với trời, đức hợp với thánh, chắc được đại hanh. Vô võng là tạo nhân, đại hanh là kết quả, nên nói rằng: Vô Võng nguyên hanh. Tuy nhiên, thường tình người ta, phần nhiều là có tư dục tà tâm, họa may trong một đời người có một tư tưởng gì, một hành vi gì, tình cờ mà hợp được vô võng, chốc phút thoảng qua lại võng ngay, thế không phải là vô võng. Hễ đã vô võng tất phải vô võng hoài hoài, tự tiểu chí đại, tự thỉ chí chung, không một tí gì không hợp với chính lí nên thánh nhân lại dạy cho hai chữ lị trinh, nghĩa là vô võng là cốt hợp với chính lí. Tà tâm tức là võng, nên lại tiếp lấy câu: Kì phỉ chính, hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, nghĩa là có việc gì không phải chính lí, tất nhiên có tội lỗi mà không lị ở làm mỗi việc.

PHỤ CHÚ: Theo về bản dịch đời sau thời chữ Võng là càn, theo về bản cổ dịch thời chữ Võng là trông, nghĩa là việc gì chính đạo, chính lí thời cứ làm, không kì vọng sở đắc, hoặc vì danh dự mà làm, hoặc vì công lí mà làm, tổng chi hữu sở kì vọng mà làm. Đã hữu sở kì vọng thời không phải là vô võng, tất phải vô sở kì vọng mà cứ làm, mới là vô võng.

Thầy Trương có câu: Vô sở vị nhi vi giả, quân tử dã, nghĩa là: Đã làm điều phải, tự nhiên mà làm, ấy là quân tử. Câu vô sở vị nhi vi là đúng với nghĩa chữ Vô Võng.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Vô võng, cương tự ngoại lai nhi vi chủ ư nội. Động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã. Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, vô võng chi vãng, hà chi hĩ, thiên mệnh bất hựu, hành hĩ tai.

彖曰: 無妄, 刚自外來而為主於内. 動而健, 剛中而應, 大亨以正, 天之命也. 其匪正, 有眚, 不 利有攸往, 無妄之往, 何之矣, 天命不祐, 行矣哉.

Soán viết: Vô võng, cương tự ngoại lai nhi vi chủ ư nội.

Quẻ Vô Võng này sở dĩ thành quẻ do gốc ở Nội Chấn, Chấn nguyên là Khôn, hào Sơ Khôn biến ra nhất dương mà làm thành Chấn. Thế là hào dương tự ngoại lai mà làm chủ cho Nội Quái. Chữ vi chủ ngậm có hai nghĩa: Chấn động thể làm chủ cho Vô Võng mà hào Sơ lại làm chủ cho Chấn, có hào Sơ mới thành quẻ Chấn, lại có Chấn mới thành được quẻ Vô Võng nên hào Sơ làm chủ cho quẻ Vô Võng.

Động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã.

Thể dưới là Chấn động, thể trên là Càn kiện, thế là động bằng một cách cương kiện.

Ngũ có đức dương cương ở vị trung chính. Nhị cũng lấy trung chính ứng với Ngũ. Như thế là hợp với đạo Vô Võng, đã vô võng tất được đại hanh mà chính. Đó há phải khôn riêng của người mà làm nên đâu, vẫn chân lí tự nhiên của trời là như vậy.

Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, vô võng chi vãng, hà chi hĩ, thiên mệnh bất hựu, hành hĩ tai.

Quái từ lại có câu: Kì phì chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, bởì vì, hễ Vô Võng tất là chính, đã chính rồi thời không nên tha thích. Nếu bỏ chính mà tha thích thời còn đi vào đâu được (Chi nghĩa là đi; hà chi nghĩa là đi đâu được). Bởi vì trái với chính lí, tức là trái với đạo trời, tất nhiên trời không bênh vực, trời không bênh vực mà còn đi được hay sao? Chữ hĩ tai ý là không đi được; chữ hĩ cắt nghĩa theo chữ hồ.

PHỤ CHÚ: Câu vô võng chi vãng khó giải thích lắm, vì văn lí thừa tiếp câu: Phỉ chính hữu sảnh. Nếu ở dưới chữ vô võng thêm hai chữ phỉ chính vào mà đọc thành phỉ chính chi vãng thời thông ngay, ý nói rằng: Ở giữa thì Vô Võng mà mình lại lấy phỉ chính mà vãng thời đi đâu được, nhưng vì Kinh văn quá giản tắt, chúng ta nên hội ý, không nên nệ vào chữ. Nếu đọc suông vô võng chi vãng thời không chạy xuống được mấy câu dưới. Đó cũng là cách học nghĩa Kinh.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Thiên hạ lôi hành, vật dữ vô võng, tiên vương dĩ mậu đối thì, dục vạn vật.

象曰: 天下雷行物與, 無妄, 先王以茂對時, 育萬物.

Đây cũng là một cách biến hóa trong Tượng Truyện. Mỗi nơi, chữ tên quẻ thời cắt nghĩa bằng tên quẻ; nhưng Tượng Truyện đây thời chữ vô võng lại không cắt nghĩa bằng tên quẻ mà cắt nghĩa bằng đạo lí quẻ, nên Tượng nói rằng: Ở dưới trời mà có sấm đi. Thế là nhị khí hòa hợp, âm, dương xát nhau mà thành ra tiếng. Lúc bấy giờ giống trập trùng kinh động, giống cây cỏ mậm măng, vật nào vật nấy tất thảy phú dữ cho nó một cách vô võng, tức là tính mệnh của nó.

Tiên vương xem tượng ấy, thể đạo trời mà sắp đặt một cách nhân dân ái vật, mậu đối thiên thì, dưỡng dục khắp vạn vật (Mậu: thịnh; đối: thuận hợp; dục: nuôi nấng; chữ Mậu trùm cả năm chữ đối thì, dục vạn vật).

Đối phó với thì trời, trưởng dục được vạn vật mà công nghiệp lại cực kì thịnh. Đó là vô võng của thánh nhân mà in nhƣ vật dữ vô võng của thiên đạo. Đối thì, tỉ như: mùa Xuân thời dạy dân cày; mùa Thu thời dạy dân gặt; vì phòng ngự nước lụt mà dạy dân làm kiều lương; vì phòng ngự Đông hàn mà dạy dân tàm tang trừ súc, tất thảy là đối thì dục vật.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Vô võng, vãng cát. 初九: 無妄, 往吉.

Sơ Cửu có đức dương cương làm chủ cho Nội Quái, chính là một hạng người có đức chí thành, trong lòng hồn nhiên thiên lí, thiệt là vô võng; vô võng mà tấn hành thời không chốn nào không tốt.

Tượng viết: Vô võng chi vãng, đắc chí dã. 象曰: 無妄之往, 得志今.

Cửu gốc là thể Càn, Sơ lại về thể Chấn, ấy là động mà hợp đạo trời. Có đức chí thành vô võng như thế thời tu thân chắc thân phải chính, xử sự chắc sự phải thuận, cảm hóa người thời người phải hóa, có đi đâu mà không thuận thỏa chí mình nữa rư?

2. Lục Nhị: Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lị hữu du vãng.

夫二: 不耕獲, 不菌畲, 則利有攸往.

 Lời hào Lục Nhị là mượn việc người cày để hình dung tâm lí vô võng. Canh: cày là việc bắt đầu của nhà nông; hoạch: gặt lúa là việc thành công của nhà nông; tri: ruộng mới phá được một năm là việc bắt đầu của nhà khẩn ruộng; dư: ruộng thuộc đã ba năm là việc thành công của nhà khẩn ruộng.

Tòng lai, sự lí trong thiên hạ, đã có tạo nhân, tất có kết quả mà kết quả việc trước tức là tạo nhân cho việc sau.

Hễ đã canh, tất nhiên có hoạch, hễ đã tri, tất nhiên có dư. Đó là sự lí tự nhiên mà cũng là công việc đang nhiên; thuận lí ứng sự không đặt tự ý mình vào.

Tỉ như: Một nhà nông phu, lúc đương nên canh mà canh, không cần nghĩ đến canh để mà hoạch, gặp lúc đương tri mà tri, không để ý đến tri để mà dư. Nghĩa là thuận lí tự nhiên mà làm, nhân việc đang nhiên mà làm, bề ngoài hình thức vẫn có tạo tác mà bề trong tình thần in như một cách vô vi, tâm lí người vô võng là như thế. Lục Nhị cư trung đắc chính lại ứng với hào Ngũ cũng trung chính, ở vào động thể mà có tính thuận là động mà hay thuận với trung chính, thiệt là một hạng người vô võng. Thánh nhân lấy lời tỉ dụ mà hình dung cho đến tâm lí nên nói rằng: Bất canh hoạch, bất tri dư, giảng nghĩa vắn tắt thời chỉ nói rằng: Chẳng ở lúc canh mà nghĩ đến hoạch, chẳng ở lúc tri mà nghĩ đến dư. Hễ nghĩa lí đáng làm mà không hệ công mưu lị, thế là vô võng. Đã vô võng thời lị hữu du vãng.

PHỤ CHÚ: Xem như nghĩa hào này cũng có thể gọi bằng vô võng chi phúc, canh tất nhiên được hoạch, tri tất nhiên được dư, không cần phải bo bo cầu phúc mà phúc tự nhiên đến, cũng là ý nghĩa Hào từ này.

Tượng viết: Bất canh hoạch, vị phú dã. 象曰: 不耕獲, 未富也.

Hào từ sở dĩ nói rằng: Bất canh hoạch, nghĩa là: Dầu có canh, có tri mà không phải để ý đến hoạch dư cho được giàu vậy.

Canh tri là công việc làm; hoạch dư là hiệu quả lợi, không phải nghĩ được hoạch dư mà làm nên Tượng Truyện nói rằng: Vị phú. Chữ vị như nghĩa chữ phi, như nghĩa chữ vị ở câu: Vị thuận mệnh quẻ Lâm, vị là chẳng phải. Chữ phú này như nghĩa chữ phú ở câu: Phi phú thiên hạ dã 非 富天下也 ở sách Mạnh Tử.

3. Lục Tam: Vô võng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai. 六三: 無妄之災, 或繫之牛, 行人之得, 邑人之災.

Trước hết, thích nghĩa đen theo câu, theo chữ.

Tai thuộc về vô võng, thí dụ có kẻ cột trâu cạnh đường, người đi đường được lấy mà người trong ấp đó trở lại bị tai hại là vì người mất trâu nghi oan cho ấp nhân trộm trâu.

Nói cho đúng, thời ấp nhân bị tai ách, giữa đường quàng vào cổ, nhưng tai đó vẫn là thình lình tự nhiên đưa đến nên nói rằng: Vô võng chi tai. Nguyên theo thông lệ trong Kinh Dịch: Hễ sáu hào ở quẻ nào, mỗi một hào xử một địa vị hào ấy mà cũng tất thảy xử chung vào thời đại quẻ ấy. Sáu hào ở quẻ Vô Võng là ở vào thì Vô Võng, vị Vô Võng, tất thảy là Vô Võng cả. Duy tùy giữa bản thân hào mà khác nhau: Hào Lục vị Tam vẫn bất trung, bất chính, chính là một người vọng, ở thì Vô Võng mà mình lại vọng tất bị mắc tai, nhưng tai đó cũng là vô cố mà mắc, nên nói rằng: Vô võng chi tai.

Tượng như người đi đường thời được trâu mà những người ở chốn mất trâu đó lại bị hiềm nghi về tội giấu trâu, thiệt là tai vô võng đó vậy. Bởi vì tai đó không tưởng có mà có, ở vào thì Vô Võng thời như thế cũng là vô võng.

Tượng viết: Hành nhân đắc ngưu, ấp nhân tai dã.

象曰: 行人得牛, 邑人災也.

Trâu thời người đi đường được mà tai thời khiến cho ấp nhân chịu, ở vào đời Vô Võng, thế chẳng phải là tai vô võng hay sao?

4. Cửu Tứ: Khả trinh, vô cựu. 九四: 可貞, 无咎.

Cửu Tứ dương cương ở về Càn thể, trên dưới không ứng dự với ai là một hạng người cảnh giới vô tư. Thiệt là một người vô võng đó vậy nên bền chặt giữ lấy tư cách ấy, tự nhiên được vô cựu.

PHỤ CHÚ: Chữ trinh thường thích có hai nghĩa: Một nghĩa trinh là chính, một nghĩa trinh là bền. Hễ chữ lị trinh thời kiêm cả hai nghĩa: chính và bền; còn như chữ khả trinh thời trọng về nghĩa bền, cũng có nghĩa là cố thủ; như chữ bất khả trinh ở quẻ Cổ thời chỉ thích nghĩa là bền mà không có nghĩa trinh là chính. Nếu trinh là chính thời không bao giờ bất khả. Xem Văn Kinh chớ nhận lầm những chốn ấy.

Tượng viết: Khả trinh vô cựu, cố hữu chi dã.

象曰: 可貞无咎, 固有之也.

Khả trinh vô cựu là bảo phải bền giữ nguyên sở hữu của mình vậy (Chữ hữu, như nghĩa chữ thủ là giữ).

5. Cửu Ngũ: Vô võng chi tật, vật dược, hữu hĩ.

九五: 無妄之疾, 勿藥, 有喜.

Cửu Ngũ dương cương ở chính giữa thể Càn, đủ đức trung chính, lại ở tôn vị, dưới có hào Nhị úng với mình cũng trung chính, thiệt là vô võng đến cực điểm, ở thì Vô Võng thiệt không còn gì hơn nữa.

Nếu chẳng may có đụng phải tật bệnh gì, cũng chẳng qua tai bay vạ bốc thời chỉ nên bình tâm thuận lí, yên xử như thường mà tai họa tự nhiên tiêu tán, nên nói rằng: Vô võng chi tật, vật dược hữu hỉ, nghĩa là: Đã vô võng rồi, nếu tình cờ mà có tật cũng là tật vô võng, chớ dùng đến thuốc mà tự nhiên mừng được bệnh lành.

Chữ vật có nghĩa là cấm chỉ, bởi vì vô võng mà được tật là tật vô võng, nếu đưa thuốc vào té ra võng. Vậy nên cấm chỉ dùng thuốc.

PHỤ CHÚ: Hào từ Cửu Ngũ này tỉ như đại thánh, đại hiền ngày xưa, rủi gặp hoạn nạn, hoặc bị sàm báng, các ngài cũng chỉ tố nhi vi hành mà tự nhiên sàm báng, hoạn nạn tiêu diệt hết.

Như vua Văn Vương bị tù ở Dữ Lí, như Đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái, chỉ có vô võng chi tất, có cần dùng đến thuốc đâu.

Phương Thư có câu: Kiến quái, bất quái, kì quái tự diệt 見怪不怪, 其怪自滅, cũng tương tự như nghĩa hào này.

Tượng viết: Vô võng chi dược, bất khả thí dã.

参曰: 無妄之藥, 不可詩也.

(Thí: thử nếm, cũng có nghĩa là nếm chút đỉnh). Hễ thuốc là dùng để chữa bệnh võng, bây giờ vô võng mà lại dùng thuốc thời lại hóa ra võng. Vậy nên tật vô võng chớ nên nếm thử thuốc.

6. Thượng Cửu: Vô võng hành, hữu sảnh, vô du lị.

上九: 無妄行, 有眚, 無攸利.

Thượng Cửu ở cuối cùng quẻ Vô Võng là vô võng chi cực. Tuy vẫn vô võng, nhưng đã cùng cực thời cũng chẳng hành động gì được nữa, ở lúc đó chỉ nên an lặng chờ thời, như nghĩa câu trong Trung Dung: Cư dị dĩ sĩ mệnh 居易以俟命. Nghĩa là, cư xử bằng một cách thản dị, để mà chờ mệnh trời. Nếu không biết lẽ ấy mà toan võng động, võng hành, tất nhiên có tai sảnh mà cũng chẳng làm gì lị.

Tượng viết: Vô võng chi hành, cùng chi tai dã.

象曰: 無妄之行, 窮之災也.

Vô võng đã cực rồi mà còn muốn tấn hành, tất nhiên bị tai hại vì cùng cực vậy.

PHỤ CHÚ: Thầy Hồ Văn Phong có nói rằng: Người khéo học Dịch quý nhất là biết chữ thì. Hễ mỗi một quẻ tức là một thời đại, mà một hào trong quẻ tức là những hạng người ở thời đại ấy.

Xem như quẻ Vô Võng, toàn quẻ là thuộc về thời đại Vô Võng, nhưng mỗi hào tất lại có thời đại riêng của mỗi hào; hào Sơ với hào Nhị vì sao mà vãng cát lại lị hữu du vãng? Đó là vì, thì nên động mà động thời động là vô võng. Tứ sở dĩ khả trinh, Ngũ sở dĩ vật dược là thì nên tĩnh mà tĩnh, thời tĩnh là vô võng. Đến như Thượng Cửu thời sao mà hành hữu sảnh? Đó là vì thì nên tĩnh mà động thời động là võng. Tổng chi, ở một thời đại chung là Vô Võng mà té ra lành, dữ, hay, dở khác nhau thời lại vì thời đại riêng của từng người.

Hiểu được lẽ ấy thời chúng ta ở đời phải có bộ óc xét thì, lại phải có cặp mắt xem thì; một phương diện thời soi thấu thời đại chung của đời, một phương diện thời cân lường thời đại riêng của mình. Làm thế nào cho hai phương diện đó, điều hòa thích hợp được, ấy mới là thức thì mà cũng là biết học Dịch.

 

26. QUẺ SƠN THIÊN ĐẠI SÚC

Cấn trên; Kiền dưới

Quẻ này là quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Càn hạ cũng là Nội Càn,

Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn là Sơn, Càn là Thiên, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Thiên Đại Súc.

TỰ QUÁI

Tự quái: Hữu vô võng, nhiên hậu khả súc, cố thụ chi dĩ Đại Súc.

序卦: 有無妄, 然後可畜, 故受之以大畜.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Vô Võng tiếp lấy quẻ Đại Súc là vì cớ sao?

Bởi vì trong mình trước có vô võng, vậy sau mới súc tụ được. Vậy nên sau quẻ Vô Võng, tiếp lấy quẻ Đại Súc.

Chữ Súc có ba nghĩa: Súc là nhóm chứa, như ta thường nói súc tích; Súc là nuôi nấng, như ta thường nói súc dưỡng; lại một nghĩa Súc là ngăn đón. Theo về nghĩa trong Kinh thời Súc là chứa, còn như nghĩa Quẻ thời Súc là súc tụ.

Theo về tượng quẻ, Cấn ở trên, Càn ở dưới, tượng là trời lọt ở vào trong núi. Thế mà sức núi súc chứa được trời mà cũng là súc tụ trời vào trong núi, sức súc thiệt là lớn nên tên quẻ đặt bằng Đại Súc.

SOÁN TỪ

Đại Súc, lị trinh, bất gia thực, cát, lợi thiệp đại xuyên.

大畜: 利貞, 不家食, 吉, 利涉大川

Ý Soán từ nói rằng: Hễ người muốn ra làm việc đời, tất trước phải có uẩn súc trong mình, hoặc chứa trữ bằng món đạo đức hoặc chứa trữ bằng món học thức, hoặc chứa trữ bằng món tài trí, gồm đủ cả các món ấy, mới là uẩn súc được rất lớn.

Tuy nhiên, chúa trữ vẫn phải nhiều mà đã nhiều tất phải kén cho tinh, nhóm góp vẫn phải rộng mà đã rộng lại tất phải có ước; nếu bất tinh, bất ước thời những giống sở súc thành ra hỗn tạp xằng xiên, ấy là bất trinh mà cũng là bất lị nên nói rằng: Đại Súc lị trinh, nghĩa là: Súc vẫn là lớn mà cần phải cho được chính.

Hễ những người súc đã lớn mà lại chính, tất nhiên đạo đức chất chứa ở bề trong, danh dự tràn khắp ở bề ngoài, tự nhiên xã hội phải hoan nghinh, quốc gia phải tín dụng; vị trời cho mình chung, lộc trời cho mình hưởng, thân mình là thân chung cả thiên hạ, có cần gì phải ăn cơm nhà nữa đâu, nên nói Bất gia thực, ý nói sở súc đã lớn thời nên làm việc thiên hạ, không nên ăn của nhà làm việc nhà, thế mới được cát. Chảng những lúc thiên hạ vô sự mà thôi, dầu có khi thiên hạ có việc gian hiểm, mình càng nên hi sinh tư súc của mình, gánh vác việc đời, đỡ việc gian hiểm cho thiên hạ, đó lại là lị thiệp đại xuyên nữa vậy. Đem thân mà qua sông lớn là việc gian hiểm. Có cứu được việc gian hiểm cho thiên hạ mới là tài đại súc trong thiên hạ.

PHỤ CHÚ: Nghĩa ở Soán từ thời chỉ lấy nghĩa Súc là uẩn súc, cũng là trừ súc. Đến các Hào từ như sau thời lại lấy nghĩa Súc là súc chỉ. Dịch đạo tùy thì biến hóa, không bao giờ chấp nhất bằng trên mặt chữ.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Đại Súc, cương kiện, đốc thực, huy quang, nhật tân kì đức. Cương thượng nhi thượng hiền, năng chỉ kiện, đại chính dã. Bất gia thực, cát, dưỡng hiền dã. Lợi thiệp đại xuyên, ứng hồ thiên dã.

彖曰: 大畜剛健, 篤實, 輝光, 日新其德. 剛上而尚賢, 能止健, 大正也. 不家食, 吉, 養賢也. 利 涉大川, 應乎天也.

Soán viết: Đại Súc, cương kiện, đốc thực, huy quang, nhật tân kì đức.

Soán từ thích nghĩa chữ Đại Súc ý nghĩa rất bao hàm rộng lớn. Theo về đức Càn thờí là cương kiện, theo về đức Cấn thời là đốc thực, huy quang, uẩn súc những đức ấy không bao giờ thôi thời là nhật tân kì đức. Hễ tài sức của một người có tính chất cương kiện như đức Càn, trong chất chứa lấy thành thực, ở ngoài nảy nở làm văn chương mà lại hằng ngày hằng ngày đức mình thường mới hoài hoài, như thế là uẩn súc rất lớn.

Thủ tượng vào Càn nên nói rằng: Cương kiện; thủ tượng vào Cấn nên nói rằng: Đốc thực huy quang. Vì đã cương kiện thời không bao giờ mỏi, vì huy quang mà gốc ở đốc thực thời không bao giờ mờ nên nói rằng: Nhật tân kì đức.

Cương thượng nhi thượng hiền, năng chỉ kiện, đại chính dã.

Hào dương cương ở trên hết quẻ, có tượng là: Tôn thượng bậc hiền. Lại theo về thể hai quẻ: Càn là kiện, Cấn là chỉ, nghĩa là hay chỉ ở nơi kiện, như thế duy có đại chính mới hay được. Chữ chỉ đây nghĩa là chữ chỉ ở Đại Học. Bất gia thực, cát, dưỡng hiền dã. (Chữ dưỡng ở đây là thủ nghĩa bằng súc dưỡng).

Hễ đã là người hiền thời quốc gia xã hội nuôi cho nên nói bất gia thực cát.

Lị thiệp đại xuyên, ứng hồ, thiên dã.

Đây là lấy nghĩa bằng Quái thể. Lục Ngũ ở ngôi tôn, hạ ứng với Nhị giữa quẻ Càn, tượng là ứng với trời, nên Soán Truyện lại nói rằng: sở dĩ hay lị thiệp đại xuyên là vì có tài có đức thuận ứng với trời, thời thiên hạ dầu có gian hiểm đến đâu cũng cứu tế được cả.

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc lời Soán Truyện nên để ý vào bốn chữ: Đốc, thực, huy, quang. Người trong thiên hạ, nhiều hạng người thấy có huy quang mà không phải đốc thực, chứ không hạng người nào đã đốc thực mà không huy quang. Huy quang mà không đốc thực thời chỉ là lòe loẹt ở bề ngoài và trau chuốt những văn minh vỏ,

Thế chẳng phải chân chính huy quang, chính như câu trong Trung Dung: Tiểu nhân chi đạo, đích nhiên nhi nhật vong 小人之道, 的然而日亡. Nghĩa là đạo của tiểu nhân, tuy rực rỡ vậy mà ngày càng lần lần mất. Đó là tệ bệnh vì huy quang mà không đốc thực; huy quang mà không đốc thực thời là huy quang giả. Đến như đốc thực mà nảy ra huy quang thời đạo đức chứa trong mà văn thái hiện ở ngoài, chính như câu ở sách Trung Dung: Thành tắc hình, hình tắc trứ, trứ tắc minh 誠則形, 形則著, 著則明, nghĩa là, chí thành trong thời hình hiện ra ngoài, đã hình hiện thời rõ rệt, rõ rệt thời sáng láng. Vậy nên, muốn thấy cho được chân chính huy quang thời trước phải căn cứ ở nơi đốc thực.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Thiên tại sơn trung, Đại Súc. Quân tử dĩ đa thức tiền ngôn vãng hành, dĩ súc kì đức.

象曰: 天在山中, 大畜. 君子以多識前言往行, 以畜其德.

Cấn trên, Càn dưới, tượng là trời lọt vào giữa núi. Quân tử xem tượng ấy thời lo cho uẩn súc trong mình được thiệt lớn. Muốn uẩn súc cho được thiệt lớn, cần thứ nhất, trước phải súc dưỡng đức mình cho thiệt lớn, nhưng mà công phu súc đức, trước hết phải góp hết cả tri với hành. (Tri nghĩa là phải biết cho đến nơi; hành nghĩa là phải làm cho đến nơi).

Trước có tri mà sau mới hay hành nên quân tử cần phải dụng công phu bằng học vấn, tìm tòi nghiên cứu những lời xưa nết cũ của thánh hiền mà biết cho nhiều, khiến cho chân trí mình được đầy đủ, tri đến bao nhiêu thời hành đến bấy nhiêu, để nuôi chứa lấy đức mình. Đó là căn bản làm nên Đại Súc.

PHỤ CHÚ: Tên Soán Truyện kiêm nói cả thể, dụng của Đại Súc. Tượng Truyện thời chuyên nói về công phu làm nên Đại Súc, nhưng sợ phần tri chẳng đầy đủ thời phần hành chẳng được vững bền, nên phải chú trọng bằng học vấn. Đó lại là ý nghĩa đặc biệt của Tượng Truyện đó vậy.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Hữu lệ, lị dĩ. 初九: 有厲, 利已.

Nguyên toàn quẻ này, ba dương Nội Càn bị Ngoại Cấn chỉ súc lại nên ba hào Nội Quái thảy thủ nghĩa bằng súc chỉ. Sơ Cửu đã dương cương lại ở kiện thể, nhưng vì ở dưới tất muốn thượng tấn mà bị ở trên có Lục Tứ ngăn đón Sơ. Thế lực Sơ vẫn không địch lại Tứ, nếu không biết chỉ mà cố tiến liều, tất làm nguy cho Sơ, nên tính một cách an toàn cho Sơ thời chỉ nên thôi mà đừng tiến.

PHỤ CHÚ: Theo như quẻ khác thời Tứ với Sơ là chính ứng, đáng viện trợ cho nhau, nhưng ở quẻ Đại Súc thời trái thế. Hễ ứng với nhau thời là chỉ súc nhau mà lại hào ở trên chỉ súc được hào ở dưới. Duy hào Thượng với hào Tam thảy là dương hào nên mới lấy nghĩa bằng bạn đồng chí mà không lấy nghĩa bằng súc chỉ nhau. Chữ chỉ đây nghĩa là ngăn cản không cho lên, bị động mà chỉ, không phải tự động mà chỉ.

Tượng viết: Hữu lệ, li dĩ, bất phạm tai dã.

象曰: 有厲利已, 不犯災也.

Tiến thời có nguy, nguy là tai đó. Nếu biết đình chỉ mà không tiến thời không phạm đến tai, nên nói rằng: Hữu lệ, lị dĩ. Phạm nghĩa là xông vào; không phạm vào đám tai nghĩa là: Tri thối nhi thối.

2. Cửu Nhị: Dư thoát phúc.

九二: 輿說輻.

Dư nghĩa là cỗ xe; phúc là cốt bánh xe. Cửu Nhị dương cương đắc trung, vẫn có tài tiến được, nhưng ở thời đại Súc, bị Ngũ ở trên có thế lực súc chỉ được Nhị. Nhị xử vào hoàn cảnh này, cũng in như hào Sơ, nhưng vì Nhị là đắc trung nên tự mình biết lúc nên chỉ mà chỉ, tượng như mình có xe toan ra đi, nhưng tự đạc thế lực mình chưa đi được, thoát quách cốt bánh xe mà không cần đi nữa. Cửu Nhị tự xử như thế, rất hợp với thì nghĩa thời đại Súc, chính như sách Lão Tử có câu: Tri chỉ bất đãi 知止不殆, nghĩa là: Biết đường lối chỉ thời khỏi mắc lấy nguy (Đãi nghĩa là nguy).

Tượng viết: Dư thoát phúc, trung vô vưu dã.

象曰: 輿說輻, 中無尤也.

Cửu Nhị vẫn có tài dương cương tiến được, vì khuất ở thời thế mà đành chịu dư thoát phúc. Đó là Nhị có đức trung nên biết tùy thì mà chỉ, không điều gì lầm lỗi (Vưu nghĩa là tội lỗi).

PHỤ CHÚ: Thông lệ Kinh Dịch, dương thời cường, âm thời nhược, nhưng quẻ Đại Súc này, hào Sơ, hào Nhị thuộc về thể Càn trở lại chịu lút vào hào Ngũ, hào Tứ, té ra dương cương mà bị âm nhu chỉ súc. Sơ thối mà không tiến, Nhị dừng mà không đi. Thế mới biết, thịnh suy trái nhau vì thì, cường nhược khác nhau vì thế, chứ không phải dương nhất định là cường, âm nhất định là nhược. Trung trí như Địch Nhân Kiệt mà phải làm tôi với Vũ Hậu; tài năng như Viên Thế Khải mà trót đời phải làm tôi với Na Lạp Thái Hậu. Nhưng kết cuộc đánh đổ Vũ Thị rặt là đồ đảng Địch. Đánh đổ Mãn Thanh hơn nữa là tay chân họ Viên. Mới biết rằng: thì chưa nên tiến mà tiến, dầu anh hùng đến thế nào, cũng khó chống thì được. Đó chính là thì nghĩa Đại Súc mà cũng là lệ biến hóa trong Dịch học. [1].

Cửu Tam: Lương mã trục, lị gian trinh, nhật nhàn dư vệ, lị hữu du vãng.

九三: 良馬逐, 利艱貞, 日閑輿衞, 利有攸往.

Theo lệ quẻ Đại Súc, hào trên súc chỉ được hào dưới, duy Cửu Tam với Thượng Cửu thời trái hẳn thế: Cửu Tam với Thượng Cửu là dương cương đồng đức với nhau. Tam ở vào Kiện chi cực, Thượng ở vào Súc chi cực. Cực thời phải thông nên hai hào đồng chí với nhau, dắt nhau mà tiến, tinh thần hăng hái, chí khí đua lên, tượng như một cặp ngựa hay, chạy đua, vừa lanh vừa rập, nhưng vì hai dương đồng tiến, sợ có khi ỷ tài nhuệ tiến mà quên sự phòng bị thời chưa chắc tấn đã vạn toàn, nên thánh nhân lại răn cho rằng: Lị gian trinh, nghĩa là nên biết việc đời khó khăn, đường đời trắc trở, phải tìm một lối đường cho trung chính, và lại ngày ngày dự bị, luyện tập những đồ đi đường với các thức phòng vệ (Dư: đồ đi đường; vệ: đồ để hộ thân).

Khi tiến hành mà đã đủ tài liệu với kế hoạch như thế thời đi đâu chắc cũng lị tiện.

PHỤ CHÚ: Quẻ Đại Súc này là thuộc về thời đại âm súc dương, duy hào Tam với hào Thượng đều là dương hào cả đôi nên không súc nhau mà lại đồng loại tương trợ. Đó tuy trái với thời đại chung của quẻ Đại Súc mà lại đúng với thời đại riêng trong quẻ Đại Súc nên Hào từ hai hào thảy được lị hanh.

Tượng viết: Lị hữu du vãng, thượng hợp chí dã.

象曰: 利有攸往, 上合志也.

Cửu Tam sở dĩ lị hữu du vãng là vì ở trên có Thượng Cửu hợp chí với mình, tuy thế lộ gian nan mặc dầu, nhưng có người chí đồng đạo hợp, dắt nhau mà lên, tất cũng được thản thuận.

4. Lục Tứ: Đồng ngưu chi cốc, nguyên cát.

六四: 童牛之梏, 元吉.

Theo như vị các hào ở quẻ Đại Súc, thì Tứ này vẫn súc chỉ được Sơ, nhưng bản thân Tứ là âm nhu mà súc chỉ hào dương cương, không phải việc dung dị. Song may thay! Sơ ở về đầu hết quẻ, vả lại dương tính hãy còn ấu trĩ, đương lúc còn ấu trĩ mà Lục Tứ đã tìm phương súc chỉ ngay thời sức đề phòng hạn chế, không đến nỗi tốn công, tượng như con trâu mới mớm sừng mà đã gác gông vào (Đồng ngưu: trâu vừa mọc sừng; cốc: cái gông chằng lấy sừng). Như thế thời tốt lành hung.

PHỤ CHÚ: Hào từ này tuy chuyên nói Tứ với Sơ, nhưng lấy ý thánh nhân mà suy ra thời hễ làm vua dạy dân làm thầy dạy trò làm cha dạy con làm chồng dạy vợ, cho đến làm bạn muốn trung cán với nhau, thảy nên học ý nghĩa hào này. Muốn ngăn cấm điểu ác, muốn bế tắc điều tà, tất phải gấp lo ở lúc mới manh nha mà cẩn thận một cách phòng vi đậu tiệm. Tà ác chưa kịp bùng mà giáo hóa còn dễ tiệm ma tẩm nhuận từ đầu sắp đi thời ác nhân cũng có thể hóa làm thiện nhân. Nếu chờ khi tà ác đã phát hiện, măng đã thành tre mà lúc đó mới lo cấm chỉ thời tuy có thánh nhân dạy nó, cũng khó khiến cho nó cách tâm biến chất được. Câu đồng ngưu chi cốc chính là nghĩa ấy. Tục ngữ có câu: “Dạy con dạy thưở đương thơ, dạy vợ dạy thuở mới đưa vợ về”, ý nghĩa tuy chưa hoàn toàn, cũng là ý trâu non mang gông vào sừng vậy.

Tượng viết: Lục Tứ: Nguyên cát, hữu hỉ dã.

象曰: 六四元吉, 有喜也.

Lẽ trong thiên hạ, ác đã thịnh rồi mới tìm phương cấm chỉ thời công lao quá nhọc mà hiệu quả chẳng bao lăm. Duy cấm chỉ ở lúc mới manh nha thời người dạy không phải quá lao mà người bị hóa cũng có thể sự bán nhi công bội. Lục Tứ súc Sơ cũng được như thế, nên nói rằng: Nguyên cát hữu hỉ.

PHỤ CHÚ: Đồng ngưu chí cốc chỉ nói bằng cách thí dụ, ngưu còn đồng thời sừng chưa mọc ra, cốc để vào đâu?

Nếu bảo là sự thực thời ra vô lí, nhưng ý thánh nhân cốt bảo cho ta cấm điều ác ở khi chưa phát lộ, tượng như trâu chưa có sừng mà dự bị cốc cho sẵn.

Sách Học Kí có câu: Cấm ư vị phát chi vị dự 禁於未發之謂豫 chính là nghĩa hào này. Học giả chớ nên câu nệ ở mặt chữ.

5. Lục Ngũ: Phần thỉ chi nha, cát. 六五: 猪豕之牙, 吉.

Hào từ này theo giữa mặt chữ thời chí thiển mà theo ý nghĩa thời chí thâm. Thỉ: heo; phần thỉ: heo thiến; nha: nanh. Thỉ thí dụ bằng người cương táo; nha thí dụ bằng sức làm ác; phần thí dụ bằng cơ cảnh của người trì ác.

Hễ người ác trong thiên hạ, nó vẫn có sức cương cường, tượng như heo có sức nanh sắc; tiểu nhân vì có sức cương cường, mới nảy ra thủ đoạn làm ác. Nếu ta chỉ theo thủ đoạn nó mà trừng trị, nhưng sức cương cường nó vẫn y nhiên thời hết thủ đoạn này, nó lại nảy ra thủ đoạn khác, biết bao giờ trì cho nó xong.

Tượng như heo hay cắn người là nhờ sức nanh sắc. Nếu ta phòng bị nó mà bẻ nanh nó được rồi, nhưng tính cương táo của nó vẫn y nhiên, còn khiến cho nó trầm phục. Thánh nhân vì thế nên dùng cấm chỉ ác nhân trong thiên hạ không cần trì ở nơi thủ đoạn của nó mà cốt trì ở nơi nguyên động lực của nó, lựa cho được cơ hội, nắm cho được mấu chốt, khiến cho nó mất sức cương cường, thời dầu nó có thủ đoạn nữa mà cũng vô sở thi.

Tượng như trì heo không cần trì ở nơi nanh mà cốt trì ở nơi thế của nó. Nó sở dĩ cương táo là vì nó có cái thế, đã cắt được cái thế của nó rồi, thời dầu có nanh cũng không hay cắn nữa (Thế: cái dái của giống vật). Trừ người ác mà dùng bằng một cách lén cơ hội, ngự heo mạnh mà dùng bằng một cách thiến dái, thực sự tuy khác nhau xa mà diệu dụng vẫn in như nhau, chỉ là có cơ quyền, có thì hội, tìm cho được cội gốc mà cắt cho hết rể thời công phu khỏe mà hiệu quả lâu, nên Hào từ nói rằng: Phần thỉ chi nha. Lục Ngũ súc chỉ được Cửu Nhị cũng như thế.

Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, hữu khánh dã.

象曰: 六五之吉, 有慶也.

Tòng lai, những việc trì ác, thường chỉ dùng uy hình, lấy cách chết dọa dân mà dân không sợ chết,

Ông Lão Tử có câu: Dân bất úy tử, nại hà dĩ tử cụ chi 民不喂死奈何以死懼之, nghĩa là dân vẫn không sợ chết mà hay gì cứ đem cách chết dọa dân. Trì ác mà chỉ như thế thời càng trì càng vô công.

Duy như Lục Ngũ biết rình cơ hội mà trì cho đến căn bản thời người trên không mệt, người dưới không đau mà tự nhiên phong di tục cách, chính là hạnh phúc cho thiên hạ vậy.

6. Thượng Cửu: Hà thiên chi cù hanh.

上九: 何天之衢亨.

Hào này cũng lấy nghĩa bằng toàn quẻ thời đại thuộc về Đại Súc, súc từ hào Sơ súc lên, súc đến Thượng Cửu là sức chi cực, súc đã cực rồi, tức nhiên phải tán, tán cho đến cực kì rộng thời rất hanh thông nên Hào từ nói rằng: Hà thiên chi cù hanh (Cù: đường; thiên cù: đường trời).

Ở giữa chốn hư không bát ngát, mây bay chim liệng, cực kì tự do nên nói rằng: Thiên cù hanh.

Chữ Hà là lời than tán, cũng là lời mừng, ý như nói rằng: Chà chà! Sao mà đường trời thông thái đến thế rư! Hào này là đạo súc chi biến. Súc nguyên nghĩa là chỉ, chỉ chi cực tất nhiên lưu thông; lưu thông đến vô cùng, tất nhiên thiên cù hanh.

Tượng viết: Hà thiên chi cù hanh, đạo đại hành dã.

象曰: 何天之衢亨, 道大行也.

Sao lại nói bằng Thiên chi cù là mặt trước không ai đón ngăn, mặt sau không ai xô đẩy, tứ bề thông suốt, đường lối đi rất rộng lớn đó vậy.

PHỤ CHÚ: Toàn sáu hào quẻ Đại Súc, chiếu ứng với nhau là một lệ đặc biệt trong Kinh Dịch.

Ba hào cấn Thượng là người có thế lực mà súc chỉ được người; ba hào Càn hạ là người thế lực non mà bị người súc chỉ. Hào Sơ bị hào Tứ súc nên Sơ nói lị dĩ mà Tứ nói đồng ngưu chi cốc; hào Nhị bị hào Ngũ súc nên hào Nhị nói dư thoát phúc, mà hào Ngũ nói phần thỉ chi nha. Lị dĩ, thoát phúc là bị súc mà chịu thối bộ. Cốc ngưu, phần thỉ là súc người mà được thành công. Bốn hào ấy là trong thời đại còn Súc. Duy đến hào Tam với hào Thượng thời hợp chí đồng tiến đã đành mà lại gặp thì vừa nhịp, súc cực tất thông nên lương mã trục ở hào Tam, thiên cù hanh ở hào Thượng, cặp đôi lương mã mà dong ruổi ở đường trời. Súc đạo đến đây thời bao nhiêu những khí uất tích ở ngày xưa, đến bây giờ tứ thông bát đạt hết cả, nên Tượng Truyện kết thúc lấy một câu: Đạo đại hành dã, ngó lại câu lị thiệp đại xuyên ở trên Soán từ thời biết rằng: vượt qua sông lớn tất bước lên đường trời đó vậy, ý nghĩa thủ vị chiếu ứng nhau như thế.

 

 

27. QUẺ SƠN LÔI DI

Cấn trên; Chấn dưới

Quẻ này là quẻ Sơn Lôi Di. Chấn hạ cũng là Nội Chấn. Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn vi Sơn, Chấn vi Lôi, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Lôi Di.

TỰ QUÁI

Tự quái: Vật súc nhiên hậu khả dưỡng, cố thụ chi dĩ Dỉ, Di giả dưỡng dã.

序卦: 物畜然後可養, 故受之以頤, 頤者養也.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đại Súc tiếp lấy quẻ Di là vì cớ sao?

Súc nghĩa là súc tụ, hễ vật đã súc tụ thời tất phải tính đến cách di (Di: nuôi; súc tụ: chứa nhóm), vả lại trước có chứa nhóm rồi, vậy sau mới nuôi được. Vậy nên sau quẻ Đại Súc tiếp lấy quẻ Di.

Chữ Di có hai nghĩa. Một nghĩa thuộc về động từ thời Di là nuôi, cũng nghĩa như chữ dưỡng: dưỡng tâm, dưỡng đức, dưỡng sinh, dưỡng nhân, tất thảy thuộc về nghĩa ấy. Lại một nghĩa thuộc về danh từ thời Di là toàn bộ cằm miệng.

Theo về tượng quẻ, dưới Chấn, trên Cấn một nét dương đỡ được hết, một nét dương trùm trên hết, chính giữa ngậm bốn hào âm, ngoài đặc mà chính giữa trống không; trên chỉ, dưới động, in như bộ miệng mép của người, thủ tượng bằng miệng người mà đặt tên quẻ bằng Di.

Vì miệng người dùng để ăn uống mà nuôi người cho sống, nên lại có nghĩa Di là nuôi.

SOÁN TỪ

Di, trinh, cát, quan di, tự cầu khẩu thực. 頤貞吉, 觀頤, 自求口實.

Chữ Di ở đây, chỉ có nghĩa Di là nuôi, tất thảy loài người không một hạng người nào mà không cần sự nuôi.

Nói riêng từ mỗi hạng người thời nuôi có hai phương diện khác nhau: Một phương diện là nuôi về phần hồn, một phương diện là nuôi về phần xác.

Nuôi đạo đức, nuôi tinh thần, nuôi tâm thuật, nuôi trí thức, nuôi chí khí, v.v. tổng chi là nuôi về phần linh hồn.

Nuôi thân thể, nuôi vật chất, nuôi khẩu phúc, nuôi hình thức, tổng chi là nuôi về phần xác thịt.

Nói chung cả thảy loài người, thời một hạng người là nuôi được người, một hạng người thời người nuôi mình. Nhưng vô luận hạng người nào, tổng chi thảy phải có hai phần nuôi như trên nói.

Tỉ như: nhà tôn giáo, nhà học vấn, nhà mỹ thuật, vẫn chú trọng về nuôi linh hồn mà cũng không bỏ được nuôi xác thịt. Nhà lao động, nhà nông, công, vẫn chú về nuôi xác thịt mà cũng phải nuôi cả linh hồn. Công dụng của chữ Di là rộng lớn đến thế.

Tuy nhiên, cũng là nuôi cả, nhưng mà trong phương pháp nuôi, với quy mô nuôi, có đường lối chính với đường lối bất chính. Giả như: Nuôi linh hồn mà theo bằng lối mê tín huyền hoặc, ấy là bất chính; nuôi xác thịt mà theo bằng cách nô lệ ti tiện, hủy hoại lương tâm, ấy là bất chính.

Vậy nên, thánh nhân dạy cho rằng: Di, trinh, cát, nghĩa là công việc nuôi, vô luận thuộc về phần nào cùng tất phải được chính mới lành. Hễ cách nuôi được chinh thời chắc là người có nhân cách.

Hễ nuôi không được chính, tất là người không nhân cách, chẳng những mình tự nuôi mình mà thôi, dầu đến nuôi người cũng phải cho chính; nuôi mình mà không chính là sụp mình vào hầm tiểu nhân; nuôi người mà không chính là dắt người vào vòng tiểu nhân, nên thánh nhân lại bảo rằng: Chỉ xem ở cách nuôi người, với cách tự cầu nuôi mình thời thiện, ác, cát, hung, có thể đoán trước được.

Quan di nghĩa là xem ở cách nuôi người. Tự cầu khẩu thực nghĩa là xem ở cách tự nuôi minh. Khẩu thực nghĩa là miệng mình ăn cho đầy đủ. Một chữ quan bao bọc cả năm chữ dưới.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Di, trinh, cát, dưỡng chính tắc cát dã. Quan di, quan kì sở dưỡng dã; tự cầu khẩu thực, quan kì tự dưỡng dã. Thiên địa dưỡng vạn vật, thánh nhân dưỡng hiền, dĩ cập vạn dân, Di chi thì, đại hĩ tai.

彖曰: 頤貞吉, 養正則吉也. 觀頤, 觀其所養也; 自求口實, 觀其自養也. 天地養萬物, 聖人養 賢已及萬民. 頤之時大矣哉.

Soán viết: Di, trinh, cát, dưỡng chính tắc cát dã. Quan di, quan kì sở dưỡng dã; tự cầu khẩu thực, quan kì tự dưỡng dã. Lời Soán nói rằng: Di, trinh, cát là nói chung cả thảy cách nuôi. Nếu nuôi hợp với chính đạo thời được lành. Quan di là xem những phương pháp thuộc về cách nuôi người vậy, Tự cầu khẩu thực là xem những cách tự nuôi mình vậy. Sở dưỡng là phương pháp nuôi người; tự dưỡng là nuôi mình, tất thảy có được chính, mới cát.

PHỤ CHÚ: Đọc Soán Truyện này nên tham khảo với chữ dưỡng ở sách Mạnh Tử. Thầy Mạnh có nói rằng: Ngã thiện dưỡng ngô hạo nhiên chi khí 我善養吾浩然之氣, nghĩa là: Ta khéo nuôi lấy chí rất lớn, rất cứng của ta.

Lại có câu nói rằng: Dưỡng kì đại thể vi đại nhân, dưỡng kì tiểu thể vi tiểu nhân 養其大體為大 人,養其小體為小人. Nghĩa là: Nuôi lấy phần thể lớn của mình là đạo nghĩa thời làm đại nhân, nuôi lấy phần thể nhỏ của mình là khẩu phúc thời làm tiểu nhân. Lấy những lời thầy Mạnh mà thích vào nghĩa chữ Quan di thời biết rằng: sở dưỡng mà hợp với đạo đại nhân thời khẩu phúc là phần nhẹ, đạo nghĩa là phần nặng; sở dưỡng mà chỉ theo cách tiểu nhân thời khẩu phúc quá chừng trọng mà đạo nghĩa quá chừng khinh. Sở dưỡng khác nhau chỉ ngần ấy mà kết quả xa nhau đến như một vực một trời.

Vậy nên, Quan kì sở dưỡng, quan kì tự dưỡng, chính là dạy khuôn mẫu quan nhân cho chúng ta đó vậy. Thiên địa dưỡng vạn vật, thánh nhân dưỡng hiền, dĩ cập vạn dân, Di chi thì, đại hĩ tai.

Trên đây đã thích xong Quái từ, nay lại nói rộng đạo Di mà tán cho đến cực lớn.

Đạo Di chẳng những mình với người tương đổi mà thôi, lớn đến như trời đất, trời có đức nguyên mà sinh nở được vạn vật, đất có đức dày mà dung chở được vạn vật, vạn vật tất thảy nhờ trời đất nuôi mà phát dục được vô cùng. Đó là di, trinh của thiên địa.

Thánh nhân cũng vậy, vì tấm lòng dân giai ngô bào nên thường lo nuôi khắp cả vạn dân, nhưng thánh nhân có lẽ đâu từ người mà nuôi được cả rư? Nên phải kén chọn những người tài đức hơn trong một đời, chung ngôi trời với người hiền, lấy lộc trời nuôi người hiền mà những người hiền đó, gánh thay những trách nhiệm giáo dưỡng vạn dân cho thánh nhân. Vậy sau đức trạch nhân ân của thánh nhân tuyên bố đằm thắm khắp thiên hạ, như thế thời vạn dân thảy nhờ ơn thánh nhân nuôi. Đó là di, trinh của thánh nhân. Đạo Di rộng lớn như thế, dầu thiên địa với thánh nhân, cũng chỉ là công dụng của đạo Di. Thế thời thì ở quẻ Di chẳng lớn lắm hay sao?

PHỤ CHÚ: Xem Tán Từ quẻ Di thời biết đạo lí Dịch, lời lẽ rất giản tắt, ý nghĩa rất bao la, chỉ một chữ Di là nuôi mà thiên địa thánh nhân cũng bao bọc vào trong chữ ấy. Nếu không phải dưỡng vạn vật thời có gì là thiên địa. Nếu không phải dưỡng hiền dĩ cập vạn dân thời có gì là thánh nhân; mở rộng ra đành như thế mà thắt nhỏ lại cũng chỉ như thế.

Người ở đời vì có xác thịt mà cần phải sống, đã cần phải sống, tất cần có nuôi, nhưng nuôi tất phải cho chính. Nếu làm đạo tặc để mà nuôi làm gian ác để mà nuôi làm trâu ngựa cho ngươi để mà nuôi, té ra chỉ vì một sự nuôi mà hủy hoại hết lương tâm của trời đất phú cho mình, ấy là di bất trinh thời chắc phải hung; chúng ta đọc ba chữ di bất trinh mà xét cho đến phản diện thời rõ thâm ý của thánh nhân lắm.

Tượng viết: Sơn hạ hữu lôi, Di, quân tử dĩ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực.

象曰: 山下有雷, 頤, 君子以慎言語, 節飲食.

Tượng Truyện đây, không lấy nghĩa bằng hình quẻ mà chỉ lấy bằng tượng quẻ (Cấn sơn, Chấn lôi), ở dưới núi có tiếng sấm chấn động thời giống sinh vật trong núi, nhờ được dương khí mà nứt mầm mọc chồi. Đó là tượng quẻ Di (Di có nghĩa là nuôi, lại có nghĩa là mép miệng).

Quân tử xem tượng quẻ Di mà nghĩ ra được cách nuôi thân, nuôi thân cần nhất là hai việc: Một là dưỡng đức, hai là dưỡng thể. Vì muốn dưỡng đức thời cần phải cẩn thận ở nơi nói phô. Vì muốn dưỡng thể thời phải dè dặt ở nơi ăn uống, ngôn ngữ thời làm sao cho được chính đáng, ẩm thực thời làm sao cho vừa thích nghi. Đó là đạo Di của quân tử.

PHỤ CHÚ: Thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực là việc cần thiết nhất trong đạo dưỡng thân. Tục ngữ Tàu có câu: Họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập 禍從口出, 病從口入. Nghĩa là, tai vạ theo từ trong miệng phun ra, tật bệnh theo ở ngoài miệng nuốt vào. Là vì ngôn ngữ bất thận thời tai họa dễ sinh, ẩm thực bất tiết thời tật bệnh dễ sinh. Nhưng mà, chữ tiết, chữ thận, ý nghĩa rất sâu xa.

Bảo rằng thận, há phải câm miệng không nói đâu! Nói mà phù thế đạo, chính nhân tâm thời mới nói, nói mà như bài sớ xin chém bảy người tôi nịnh của thầy Chu Văn Trinh. Đó là thận rất mực.

Bảo rằng tiết, há phải bảo người ta kén ăn lựa uống đâu. Vì ăn mà hoại danh tiết, họa nước nhà thời không thèm ăn. Như ông Di, Tề không ăn lúa của nhà Chu, ông Chiêu Cày không ăn cỗ của Tây Sơn. Đó là tiết rất mực.

Cậu Chiêu Cày là con cháu di thần đời Lê, gặp lúc Tây Sơn cướp Lê, cậu khởi binh đánh Tây Sơn, sau Tây Sơn đánh bắt sống được cậu, đem thịnh soạn đãi cậu toan dỗ cậu, cậu đập đổ đồ ăn của Tây Sơn. Tây Sơn bắt cậu bỏ ngục, cậu tuyệt thực đến bảy ngày mà không chết, sau người nhà cậu đưa khoai vào cho cậu, cậu mới ăn. Cậu trong ngục có thơ rằng: Thượng hỉ hữu thân trinh khổ tiết, bất sầu vô mễ chữ cam chư 尚喜有身貞苦節, 不愁無米[·]甘藉, nghĩa là: May hãy có thân dành tiết đắng, sợ gì không gạo sẵn khoai nhà.

Sau, khi Tây Sơn bắt cậu ra chém, lâm hình, cậu có thơ tuyệt mạng rằng: Báo quốc vô trường sách, tùy thân hữu đoản đao, cử đầu Hồng Lĩnh thượng, cửu thập cửu phong cao 報國無長策, 隨身有短刀, 擧頭鴻嶺上, 九十九峯高. Nghĩa là: Roi dài đau nước hụt, dao vắn quyết thân liều, ngấc đầu trên núi Hồng, chín chục chín hòn cao.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Xả nhĩ linh quy, quan ngã đóa di, hung.

初九: 舍爾靈龜, 觀我朵頤, 凶.

Xả: bỏ; linh quy: con rùa thiêng; đóa: dủ thọng; di: cằm mép; đóa di: dủ thọng cằm mép. Linh quy là giống chỉ nuốt hơi mà không ăn, ví dụ bằng linh trí của người minh. Đóa di tượng người thấy đồ ăn mà thèm nên dủ thọng cằm mép xuống.

Sơ Cửu thể dương tài cương, vẫn có bộ óc khôn sáng, đáng lẽ lấy mình nuôi được mình mà không cần trông ai nuôi mình, chẳng dè Sơ lại trái thế. Vì ở trên có Lục Tứ âm nhu mà có thế lực. Sơ thượng ứng với Tứ: vì tư tình bắt buộc, lấy mình là dương mà hăm hở theo âm, ấy là nhân dục thắng đến nỗi thiên lí vong, thành ra một cách cầu dưỡng không chính đáng, nên thánh nhân quá ghét Sơ mà giả thiết ra lời Lục Tứ nhiếc Sơ. Nói rằng: Xả nhĩ linh quy, quan ngã đóa Di. Nhĩ chỉ bản thân Sơ; ngã chỉ hào Tứ. Ý như Tứ nhiếc Sơ rằng: Sơ ơi mày bỏ óc khôn linh quy của mày, cứ dòm vào ta mà thọng cằm xuống, thiệt là quá xấu. Nghĩa Hào từ này chỉ thích mặt chữ thời như thế, nhưng lấy nghĩa mà nói tắt lại thời là tức giận cho Sơ mà trách rằng: Bỏ linh hồn khôn của mày mà chỉ chăm chỉ ở phần nuôi xác thịt, có gì là tốt đâu. Hễ nghiên cứu Hào từ Kinh Dịch, thảy nên ý hội như thế, mới là biết học Dịch.

Tượng viết: Quan ngã đóa di, diệc bất túc quý dã.

象曰: 觀我朵頤, 亦不足貴也.

Sơ Cửu dương cương, dương vẫn đáng quý, nhưng mê hoặc vì tư dục mà đến nỗi quan ngã đóa di, dầu có tài dương cương, cũng không gì đáng quý.

PHỤ CHÚ: Thầy Mạnh có câu: Ẩm thực chi nhân, tắc nhân tiện chi hĩ 飲食之人, 則人賤之矣, nghĩa là: Người mà chỉ chăm chỉ bằng ăn uống thời người ta khinh tiện mình vậy. Tục ngữ cũng có câu: “Miếng ăn là miếng nhục”, cũng là nghĩa hung ở hào này.

2. Lục Nhị: Điên di, phất kinh, vu khưu di, chinh hung.

六二: 顛頤, 狒經于丘頤, 征凶.

Lục Nhị bản thân âm nhu, không tài độc lập mà tự dưỡng lấy mình nên phải cầu dưỡng với hai hào dương (Trong quẻ chỉ có hai hào dương là Sơ với Thượng). Nhị đã âm nhu phải cần dưỡng với Sơ dương cương.

Nhưng khổ vì Sơ là hào ở dưới mình, Nhị ở trên Sơ mà trở lại xuống cầu dưỡng với Sơ thời té ra trái mất lí thường trong thiên hạ. Bởi vì lẽ thường chỉ có kẻ trên nuôi kẻ dưới, không bao giờ bắt kẻ dưới nuôi kẻ trên nên nói rằng: Điên di, phật kinh. (Điên: đảo lộn; phật: trái; kinh: lẽ thường; vu: đi lên). Nhị ở trên mà lại đảo lộn xuống cầu dưỡng với Sơ, tức là trái mất lẽ thường.

Đến như hào dương cương ở trên cao là Thượng Cửu, Nhị đã không lẽ cầu dưỡng với Sơ thời tất phải cầu dưỡng với Thượng.

Nhưng Thượng có phải chính ứng với Cửu Nhị đâu, người đã không phải đồng đức đồng chí với mình mà qua cầu người dưỡng, tất nhiên bị người khinh nhục, kết quả là xấu mà thôi. Nên lại nói rằng: Vu khưu di, chinh hung (Khưu: cồn cao mà ở ngoài xa, tỉ dụ bằng Thượng Cửu), ý nói rằng: Cầu dưỡng ở Thượng Cửu trên cao thời tiến lên mà mắc lấy xấu.

Thích tóm lại, toàn cả chín chữ có hai câu nghĩa là cầu dưỡng với Sơ thời điên đảo mà trái lẽ thường, cầu dưỡng với Thượng thời bước lên mà mắc lấy xấu đó vậy.

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Hào từ này thời biết rằng: nhân cách rất quý hóa là có tài năng tự dưỡng, tức là cá nhân độc lập. Nếu mình không sức tự dưỡng mà phải đi cầu dưỡng ở người thời cầu với kẻ trên mình, cũng chỉ tỏ rõ ra cách hư hèn nên Kinh Thi quý trọng thơ Phạt đàn mà có câu: Bỉ quân tử hề, bất tố xan hề 彼君子兮, 不素餐兮, nghĩa là: Người quân tử kia, chỉ tự nuôi bằng sức của mình mà không chịu ăn cơm không của ai bao giờ (Tố xan nghĩa là ăn cơm không).

Đến như câu: Bất lao động giả, bất đắc thực 不劳動者, 不得食, cũng là thế.

Tượng viết: Lục Nhị, chinh hung, hành thất loại dã.

象曰: 六二征凶, 行失類也. 象曰: 六二征凶, 行失類也.

(Hành là thích nghĩa chữ chinh; thất loại nghĩa là âm, dương khác loại). Lục Nhị đi theo Thượng mà mắc lấy hung, vì Thượng vẫn không phải bè bạn với Nhị, Nhị qua cầu dưỡng, hung là phải rồi.

PHỤ CHÚ: Lục Nhị âm nhu trung chính, theo thường lệ ở quẻ khác, phần nhiều được cát mà sao ở đây thời lại hung. Đó là thì nghĩa của Dịch phải như thế. Ở về thời đại quẻ Di thời quý trọng nhất là hay dưỡng nhân hoặc là hay tự dưỡng. Nhị âm nhu không tài dưỡng nhân, lại không đủ sức tự dưỡng. Theo về thì nghĩa Di, tất nhiên phải hung. Đó cũng là một lẽ tùy thì ở Dịch.

3. Lục Tam: Phật di, trinh hung, thập niên vật dụng, vô du lị.

六三: 拂頤, 貞凶, 十年勿用, 無攸利.

Trên Soán từ đã có câu: Di trinh cát. Vậy thời đạo Di tất phải chính mới được cát.

Lục Tam bản chất đã âm nhu mà xử vào vị Tam lại bất trung, bất chính. Vả lại ở cuối cùng thể Chấn là động chi cực, một hạng người bất trung chính mà lại hỉ động không chịu ngồi an, thấy đâu có ăn thời đâm đầu vào đó. Thế là trái hẳn đạo chính của Di nên Hào từ rất xấu (Phật di trinh nghĩa là cách nuôi của Tam trái hẳn với đạo chính). Như thế tất phải hung. Mà kết quả trót đời người của Tam không bao giờ tốt, vả cũng không làm gì nên.

Chữ Thập là kể số chi chung, không phải hạn định mười năm mà thôi.

Tượng viết: Thập niên vật dụng, đạo đại bội dã.

象曰: 十年勿用, 道大悖也.

Hào từ sở dĩ nói rằng: Thập niên vật dụng là vì đường lối của Lục Tam di đó quá chừng trái nghĩa lí vậy. (Bội: trái; Đại bội: trái hung).

PHỤ CHÚ: Ba hào ở Nội Quái quẻ Di, vì cớ sao thảy mắc lấy hung. Vì ba hào này thuộc về Chấn thể nên có tính hay động mà tất thảy có ý cầu dưỡng với người. Thế là trọng khẩu phúc mà khinh đạo nghĩa. Vậy nên thánh nhân răn cho chữ hung. Thế thời chúng ta cầu dưỡng nên thế nào thời nên ngần nghĩ ở ba chữ di trinh cát.

4. Lục Tứ: Điên di, cát, hổ thị đam đam, kì dục trục trục, vô cựu.

六四: 顛頓, 吉, 虎視眈眈, 其欲逐逐, 無咎.

Tòng lai, người trên cầu nuôi với người dưới, theo về thường lí vẫn có thể điên đảo, trước kia hào Nhị điên di mà hung, vẫn vì trái với đạo thường, nhưng Dịch đạo là cốt biến hóa tùy thì tùy địa mà khác nhau.

Lục Tứ tuy bản chất âm nhu, nhưng sở xử đắc chính, nguyên là một người tốt. Lại được ở vào vị Thượng Quái, được hào Ngũ đồng đức tương tín, lại là một người có địa vị tôn quý. Thế là đã'có đức tốt, lại ở vị tôn, đương thời đại Di gặp được người chính ứng với mình là Sơ Cửu có đức dương cương ở hạ vị. Tứ ứng với Sơ biết trọng đạo nghĩa mà quên thế vị mình, hay ti hạ mình mà cầu dưỡng với hào Sơ. Thế là điên di, nhưng vì Tứ biết khuất kỉ hạ hiền nên Sơ cũng dem hết tài đức của Sơ mà giúp nuôi cho Tứ. Tứ nhờ Sơ mà công thành danh lập, kết quả được cát.

Tuy nhiên, Tứ là địa vị đại thần cận quân, sở dĩ cầu dưỡng chẳng phải cầu dưỡng một mình mà thôi, còn mong dưỡng được cả thiên hạ nữa vậy. Phạm vi cầu dưỡng đã rộng lớn như thế thời tất phải cầu dưỡng cho đến chốn đến nơi. Tượng như hổ thị đam đam, kì dục trục trục.

Đam đam: chăm chăm, hình dung tinh thần của hào Tứ dòm xuống hào Sơ; tượng như hổ thời dòm xuống mà lại dòm thời chuyên. Trục trục: tiếp tục luôn, hình dung tâm chí Tứ cầu với Sơ luôn luôn mà không chán.

Nhưng vì địa vị Tứ là quý, địa vị Sơ là tiện, dĩ quý há tiện, thường sợ chí hướng không được chuyên nên nói rằng: Hổ thị đam đam là bảo cho phải hạ mà chuyên nhất, nhân tổn cầu ích, thường sợ vì cầu có gián đoạn nên nói rằng kì dục trục trục là dặn cho cầu phải thường tiếp tục. Tứ nếu được như thế thời vô cựu.

Tượng viết: Điên di chi cát, thượng thí quang dã.

象曰: 顛頤之吉, 上施光也.

Lục Tứ điên di mà được cát là bởi vì âm nhu ở ngôi trên lại được bậc dương cương ở dưới giúp công việc nuôi dân cho mình thời ơn đức của người trên càng tràn trề rực rỡ khắp thiên hạ.

PHỤ CHÚ: Nhị điên di, Tứ cũng điên di, thảy là kẻ trên cầu nuôi với người dưới mà cát hung lại khác nhau là cớ sao?

Bởi vì Nhị sở cầu là cầu nuôi về phần khẩu phúc, Tứ sở cầu là cầu nuôi về phần đức nghĩa, Nhị sở cầu là như cách Ngu Công cầu ngọc với Ngu Thúc, Tứ sở cầu như vua Thành Thang cầu tài đức với ông Y Doãn, thảy là kẻ trên cầu với người dưới mà cát hung khác nhau vậy.

Đó là chân lí của Dịch học.

5. Lục Ngũ: Phật kinh, cư trinh, cát, bất khả thiệp đại xuyên.

六五: 拂經, 居貞吉, 不可涉大川.

Lục Ngũ ở về thời đại Di, xử vào vị nguyên thủ trong một nước, chính là có trách nhậm phải nuôi người một nước, nhưng vì tài chất âm nhu, không thể lấy sức một mình mà gánh nổi trách nhậm, tất phải nhờ cậy vào thầy hiền bạn tốt, lấy tàì đức người mà giúp đỡ thêm cho mình. Như thế, theo về thường lí thời như có lẽ trái. Bởi vì mình là người có quyền nuôi người mà trở lại nhờ người nuôi mình, chẳng phải trái thường hay sao? Nên nói rằng: Phật kinh. Tuy vậy mặc dầu, nhưng không ngại gì, lấy thế vị quốc trưởng mà hay tôn đức lạc đạo cầu nuôi với thầy hiền bạn tốt, vẫn là đạo lí đương nhiên.

Lục Ngũ cầu dưỡng với Thượng Cửu chính hợp với đạo lí ấy nên thánh nhân lại dặn cho rằng: Đã biết tín nhậm hiền thần, tất phải cầm lòng kiên cố, một mực tín nhậm tự thỉ chí chung.

Cư trinh nghĩa là cố giữ được chính mà bền thời tốt lành, nhưng còn sợ có một lẽ lấy mình là người nguyên thủ trong một nước mà tài nhu sức yếu, phải ỷ lại vào bậc cương hiền, gặp lúc thiên hạ thái bình vẫn có lẽ nhờ người nên việc. Nếu gặp lúc gian nan biến cố thời e không khỏi nguy nên lại nói rằng: Bất khả thiệp đại xuyên. Nghĩa là, tài hèn như Lục Ngũ không thể trụ nổi lúc gian hiểm.

PHỤ CHÚ: Chữ Phật kinh này với chữ Phật kinh ở hào Nhị khác nhau: Hào Nhị là kẻ trên cầu nuôi với kẻ dưới nên trái với lẽ thường, hào Ngũ là có thế lực nuôi người mà trở lại nhờ người nuôi, cũng là trái với lẽ thường. Nhưng Nhị phật kinh mà hung là vì cầu nuôi với kẻ dưới mà chỉ cầu nuôi một mình thế thời hung, Ngũ phật kinh mà cát là vì cầu nuôi với người đạo đức mà lại cầu nuôi cả thiên hạ, thế thời cát. Vậy mới biết, tư với công khác nhau thời họa với phúc cũng xa nhau. Đó là thâm ý của thánh nhân.

Tượng viết: Cư trinh chi cát, thuận dĩ tòng thượng dã.

象曰: 居貞之吉, 順以從上也.

Nghĩa câu: Cư trinh cát là bảo cho hào Ngũ phải kiên cố thuận tòng với Thượng Cửu vậy.

6. Thượng Cửu: Do di, lệ cát, lị thiệp đại xuyên.

上九: 由頤, 厲, 吉, 利涉大川.

Thượng Cửu có đức dương cương mà ở vị trên hết quẻ Di chính là một bậc người làm thầy cho vị quốc trưởng, hào Ngũ có thế lực quốc trưởng mà một mực nhu thuận theo Thượng Cửu, ỷ lại vào Thượng Cửu để nuôi thiên hạ, ấy là Thượng Cửu đem thân gánh việc nuôi thiên hạ, thiên hạ ai nấy cũng bởi nhờ Thượng Cửu mà được đầy đủ sự nuôi.

Tuy nhiên, trách nhậm ngần ấy lớn, địa vị ngần ấy cao, danh vọng ngần ấy trọng, há phải ăn ngon ngồi khỏe mà làm được xong đâu! Nên thánh nhân lại có lời răn cho rằng: Lệ, cát. Lệ, cát nghĩa là xử vào địa vị như Thượng Cửu tất phải thường lo lắng sợ hại, xem bằng nguy lộ thời mới được cát.

Hễ mình tự nguy bao nhiêu thời thiên hạ càng được yên bấy nhiêu, dầu khi bình yên vô sự đành nhờ mình sắp đặt đã xong, rủi có khi nội loạn ngoại ưu thình lình phát hiện, tất cũng phải tự hi sinh thân mình, để chống chọi cho được an toàn. Tượng như vượt qua sông lớn mà vẫn được thản thuận.

Tượng viết: Do di, lệ cát, đại hữu khánh dã.

象曰: 由頤. 厲吉, 大有慶也.

Thượng Cửu gánh trách nhậm nuôi thiên hạ mà lại hay tiểu tâm kính úy, trải qua lệ mà đến chốn cát. Lúc bây giờ chẳng những Lục Ngũ được nhờ mà thôi mà lại khắp cả thiên hạ thảy được nhờ, phúc khánh như thế, thiệt lớn lắm vậy.

PHỤ CHÚ: Bàn tóm lại, sáu hào quẻ Di, ba hào dưới là nhờ người nuôi cho mình, ba hào trên là có trách nhậm phải nuôi người.Vì thế nên ba hào trên thảy được cát.

Lục Ngũ sở dĩ được cát là đúng với câu: Dưỡng hiền dĩ cập vạn dân. Nhưng Lục Ngũ nhờ Thượng Cửu mà được cát nên đến hào Thượng, thánh nhân tán cho rằng: Đại hữu khánh dã. Tòng lai, tâm sự thánh hiền, lấy họa phước thiên hạ làm họa phước giữa mình.

Xưa ông Phạm Văn Chính có câu rằng: Sĩ đương tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc 士當先天下之憂而憂, 後天下之樂而樂. Nghĩa là: Bản phận của một người sĩ nên trước khi thiên hạ chưa biết lo mà mình lo sẵn cho thiên hạ, đó là đúng với chữ lệ ở Hào từ Thượng Cửu. Sau khi thiên hạ đã vui vẻ rồi mà mình mới vui chung với thiên hạ, đó là đúng với chữ "Khánh" tượng từ Thượng Cửu.

Chúng ta đọc Dịch nên khâm hoài mở cho rộng, nhãn quang phóng cho xa, chớ nên bo bo cầu dưỡng khẩu phúc với người, như ba hào dưới quẻ Di, dầu thánh nhân không nói hung chúng ta cũng nên nhận làm xấu hổ.

 

28. QUẺ TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ

Đoái trên; Tốn dưới

Quẻ này là quẻ Trạch Phong Đại Quá. Tốn hạ cũng là Nội Tốn; Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Tốn phong, nên tên quẻ đặt bằng Trạch Phong Đại Quá.

TỰ QUÁI

Tự quái: Di giả dưỡng dã, bất dường tắc bất khả động, cố thụ chi dĩ Đại Quá.

序卦: 頤者養也, 不養則不可動, 故受之以大過.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Di tiếp lấy quẻ Đại Quá là vì cớ sao?

Trên đây là quẻ Di. Di nghĩa là nuôi, tất nhiên thành, sau khi thành rồi tất nhiên động, động thời nảy ra quá.

Hễ là vật thì đã được nuôi. Đại Quá là việc lớn quá, vì có nuôi rồi, vậy sau mới có việc lớn quá. Vậy nên, sau quẻ Di tiếp lấy quẻ Đại Quá. Đại Quá có hai nghĩa: Một nghĩa là phần đại nhiều quá. Theo như thể quẻ, dương đến bốn hào, âm chỉ hai hào. Dương là đại, dương nhiều hơn âm, thế là đại quá. Lại một nghĩa là lớn quá. Tỉ như: Đạo đức, công nghiệp của thánh hiền lớn quá hơn người, thảy là đại quá.

Chữ quá phản đối với chữ bất cập. Đại Quá là công việc quá chừng lớn.

Sử Kí có câu: Duy phi thường chi nhân, nãi hữu phi thường chi sự; phi thường chi sự dĩ đãi phi thường chi nhân, phi thường chi sự, phi thường nhân chi sở năng biện dã 惟非常之人, 乃有非 常之事; 非常之事以待非常之人; 非常之事, 非常之人之所能辨也 . Nghĩa là: Tất có người phi thường, mới làm nên việc phi thường mà những việc phi thường tất phải chờ đến người phi thường. Bởi vì những việc phi thường, quyết không phải những hạng người thường làm nổi. Đó chính là nghĩa chữ Đại Quá. Nhưng hễ việc mà gọi bằng Đại Quá, theo về đạo lí vẫn không phải quá, chỉ vì việc đó, người trong đời ít khi thấy, vả lại ít người làm nên nên gọi bằng Đại Quá.

PHỤ CHÚ: Quẻ Đại Quá ở sau quẻ Di, rất có ý hay. Xưa nay thánh hiền hào kiệt, trước khi chưa làm việc đại quá, tất phải tiềm tàng ẩn súc, trải biết bao nhiêu thì giờ súc dưỡng. Súc dưỡng có đầy đủ vậy sau phát triển mới được lớn lao.

Xưa nay tuyệt chưa thấy ai không súc dưỡng mà làm nên đại quá. Ông Y Doãn cày ở Hữu Sằn, hơn nửa đời người tụng thi độc thư vui đạo Nghiêu Thuấn. Vậy sau giúp vua Thang đánh Kiệt an dân.

Ồng Gia Phú Nhĩ (Camillo Beuso đi Cayour) cũng cày ruộng đọc sách, âm thầm nghiên cứu lẽ xưa việc nay hơn mười năm. Vậy sau làm nên sự nghiệp thống nhất Ý Đại Lợi.

 

SOÁN TỪ

 Đại Quá, đống não, lị hữu du vãng, hanh.

大過, 棟橈, 利有攸往, 亨.

Soán từ đây chỉ lấy nghĩa bằng thể quẻ.

Toàn quẻ bốn dương ở chính giữa, hai âm ở hai đầu. Dương quá ở cường, âm quá ở nhược, tượng như cây gỗ làm cột, chính giữa quá lớn mà cội ngọn quá bé, thành ra trung cường mà bản mạt nhược, tất nhiên đứng không thẳng mà cong ẹo nên thủ tượng bằng đống não. (Đống nghĩa là cây cột; não nghĩa là cong ẹo).

Thủ tượng tuy như thế, nhưng mà âm nhược dương cường, chính là quân tử thịnh, tiểu nhân suy, thế đạo dương lúc bây giờ chính là cơ hội làm nên sự nghiệp lớn, nên nói rằng: Lị hữu du vãng hanh.

PHỤ CHÚ: Soán từ hai quẻ này, hai câu lấy hai nghĩa, câu đống não lấy riêng một nghĩa, chỉ nói trung cƣờng mà bản mạt nhƣợc, tất nhiên gánh không nổi nặng. Còn như câu: Lị hữu du vãng, hanh, lại lấy riêng một nghĩa, chỉ nói âm nhược, dương cường thời là quân tử đạo trưởng nên lị hữu du vãng mà lại hanh; trong thiên hạ đã có người tài khả hữu vi thời chẳng việc gì là bất khả vi. Đó chính là nghĩa Đại Quá.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Đại quá, đại giả quá dã. Đống não, bản mạt nhược dã, cương quá nhi trung, tốn nhi duyệt hành, lị hữu du vãng, nãi hanh. Đại Quá chi thời đại hĩ tai.

彖曰: 大過, 大者過也. 棟橈, 本末弱也, 剛過而中, 巽而説, 行利有攸往, 乃亨. 大過之時 大矣 哉.

Soán viết: Đại quá, đại giả quá dã.

Đây là lấy thể quẻ, thích nghĩa tên quẻ. Đại giả là chỉ vào bốn hào dương, dương hào quá nhiều nên nói rằng: Đại giả quá dã.

Đống não, bản mạt nhược dã.

Bản là hào dưới hết quẻ, tức là Sơ Lục; mạt là hào trên hết quẻ, tức là Thượng Lục. Sơ, Thượng hai hào thảy là hào âm, âm thời hèn yếu, tượng như một cây gỗ, dưới gốc trên ngọn hèn yếu nên đỡ không được cột đứng, thế là bản mạt nhược, sở dĩ đống não.

Cương quá nhi trung, tốn nhi duyệt hành, lị hữu du vãng, nãi hanh.

Ở đây lại nói bằng đức quẻ. Hai hào ở chính giữa Nội Quái. Ngoại Quái là hào Nhị, hào Ngũ. Ở về thời Đại Quá vẫn là dương cương có thịnh quá, nhưng mà Nhị, Ngũ thảy đắc trung, ấy là cương quá nhi trung. Lại theo về thể hai quẻ: Tốn hạ là có tính tốn thuận, Đoài thượng là có tính hòa duyệt, ấy là dùng bằng cách vừa tốn thuận vừa hòa duyệt mà đi làm việc đời. Về đời Đại Quá mà đủ cả ngần ấy đức như trên nên nói lị hữu du vãng mà được hanh thông.

PHỤ CHÚ: Trong câu lị hữu du vãng, nãi hanh, chữ nãi rất có ý nghĩa.

Ý thánh nhân nói rằng: Tuy ở vào thời Đại Quá, nhƣng không phải ngồi nghe khí số mà thôi, tất phải đem những tài đức như trên kia, mà thi thố phát triển một cách vừa lớn vừa xa, như thế mới hanh thông được.

Chữ nãi này cũng nghĩa như chữ nãi ở câu: Hữu dụng đức nãi đại.

Đại Quá chi thì đại hĩ tai.

Chữ Đại Quá bao bọc rất lớn. Tức như trải qua đời ấp tốn mà đổi làm cuộc chỉnh tru như đời Thang, Võ, trải qua đời quân chủ mà đổi ra làm dân chủ như cuộc cách mệnh ở nước Pháp, ở giữa nước Bà La Môn giáo mà đặt lập nên Phật giáo như Đức Thích Ca, ở giữa nước đế quốc, quốc gia chủ nghĩa mà lập thành Chính Phủ Xã Hội như ông Liệt Ninh (Lenine, Vladimir Ilich Oulianov), thảy là công việc đại quá nhân mà cũng duy một bực người có tài đại quá nhân mới làm nên, nhưng tất cũng phải đúng thì tiết. Nếu có tài đại quá nhân mà chưa gặp thời Đại Quá, tất nhiên cũng làm không xong.

Duy có gặp thời Đại Quá thời người ta có tài đại quá, mới làm được nên những công việc đại quá. Xưa nay những người toàn Càn chuyển Khôn, hân thiên yết địa, có ai không đúng vừa thì mà làm được đâu nên thánh nhân có lời tán rằng: To lớn rồi vậy thay, Thì của Đại Quá!

 

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Trạch diệt mộc, Đại Quá. Quân tử dĩ độc lập bất cụ, độn thế vô muộn. 象曰: 澤滅木, 大過. 君子以獨立不懼, 遯世無悶.

Theo như thể quẻ, ngoại Đoài tượng là nước chằm, nội Tốn tượng là cây gỗ, Trạch ở trên Mộc, tượng là nước chằm ngập lút cây, ấy là tượng quẻ Đại Quá. Quân tử xem tượng ấy nên phải có đức nghiệp hành vi cho đại quá nhân. Hễ việc gì đúng với đạo nghĩa mà bổn phận mình phải làm thời dầu thiên hạ xô đổ về một phe mà quân tử đứng trơ một mình, cũng không sợ hãi.

Hễ việc gì trái với đạo nghĩa, dầu có hợp mắt thế tục nhưng quân tử chẳng thèm làm, âu là tránh quách đời mà không chút buồn bã; được như thế, mới là phẩm hạnh khí tiết trác tuyệt trong một đời. Đó là Đại Quá của quân tử.

PHỤ CHÚ: Tám chữ độc lập bất cụ, độn thế vô muộn vẫn chung cho một hạng quân tử mà thủ đoạn có khác nhau; việc gì đáng làm, đầu toàn thiên hạ không ai làm mà mình cứ làm, xông vào nguy hiểm mà chẳng kinh, mắc lấy dèm chê mà chẳng quản. Đó là một cách độc lập mà bất cụ.

Việc gì không đáng làm, dầu toàn thiên hạ thảy làm mà mình không chịu làm, mình đã trái với mắt thế tục thời âu là bỏ tục trốn đời mà tinh thần được tự do tự tại. Đó là một cách độn thế vô muộn. Đức Khổng Tử có nói rằng: Dũng giả bất cụ, nhân giả bất ưu 勇者不懼, 仁者不憂. Mạnh Tử có nói rằng: Uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di 威武不能屈, 貧賤不能移. Chính đúng với nghĩa Tượng Truyện đây.

 

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Lục: Tạ dụng bạch mao, vô cựu. 初六: 藉用白茅, 無咎.

Quẻ này thuộc về thời Đại Quá, sáu hào trong quẻ, tất thảy người ở vào thời đại ấy.

Ở thời Đại Quá, ai cũng muốn làm việc đại quá, nhưng Sơ Lục mới bắt đầu vào thời Đại Quá, vả lại âm nhu tốn thể, xử vào địa vị dưới hết, đức đã mỏng, sức lại hèn mà lại vô vị, dầu muốn làm việc đại quá nhưng lực bất tòng tâm, miễn cưỡng mà làm, tất nhiên đổ bể, nên thánh nhân răn cho rằng: Sơ ơi! Sơ có muốn ra gánh việc lớn trước hãy lo lấy tiểu tâm làm cơ sở, dưỡng cho nên đức kính cẩn. Ví như, có một giống đồ không dám đặt suông xuống dưới đất mà dùng mao trắng kê lót nó, biết kính cẩn như thế, may khỏi tội lỗi. (Tạ: kê lót; bạch mao: chùm săng trắng).

Hệ tử thích nghĩa hào này rất rõ. Xin dịch ra đây:

Hệ tử nói rằng: Nếu đặt giống nó ở giữa đất cũng đã được rồi, mà còn dùng bạch mao kê lót nó, có sợ gì đổ bể nữa đâu, kính cẩn rất mực là như thế. Ôi! Giống mao kia, vật tuy bạc mà biết dùng cho đúng thời cũng đáng trọng, người ta ra làm việc đời mà kính cẩn như cách ấy thời chắc không lỗi.

Tượng viết: Tạ dụng bạch mao, nhu tại hạ dã.

象曰: 藉用白茅, 柔在下也.

Sơ Lục sở dĩ quá ở cẩn thận như thế, bởi vì bản thân mình âm nhu lại ở vị ti hạ nên phải cẩn thận như cách tạ dụng bạch mao vậy.

2. Cửu Nhị: Khô dương sinh đề, lão phu đắc kì nữ thê, vô bất lị.

九二: 枯楊生梯, 老夫得其女妻, 無不利.

Cửu Nhị là hào dương cương mà ở vào vị Nhị thời là dụng nhu mà đắc trung, có tài đắc trung dụng nhu nên biết mượn nhu giúp cho cương.

Ở vào thời Đại Quá, nếu quá ở cương tất nhiên thái cương tắc chiết. Duy hào Nhị biết dụng nhu mà lại thân cận với Sơ âm, dương hợp với âm thành ra cương, nhu tương tế, khỏi mắc hại bằng quá cương, tượng như ngành dương đã khô mà sinh được rễ mới. Rễ mới đã nảy nở ở dưới thời nhành lá cũng vinh thịnh ở trên.

Lại còn có một tượng nữa, Cửu Nhị là cương hào mà kết hợp với Sơ nhu, tượng như người trai đã già mà lấy được người vợ còn trẻ tuổi. Nếu cô dương thời bất năng sinh, bây giờ lão phu mà đắc nữ thê thời chắc nên công sinh dục, đủ cả hai tượng ấy thời là rễ nứt nở mà ngành tươi, âm dương giao mà sinh dục thỏa, không điều gì bất lị.

Tượng viết: Lão phu nữ thê, quá dĩ tương dữ dã.

象曰: 老夫女妻, 過以相與也.

Cửu Nhị là cương quá mà làm thân với Sơ âm. Sơ là âm còn non, tượng như chồng già mà lấy vợ quá trẻ, tương dự với nhau bằng một cách quá vậy. (Quá nghĩa là khác thường). Tòng lai, chồng già vợ cũng già, vợ trẻ chồng cũng trẻ, đó là lẽ thƣờng. Bây giờ chồng già mà vợ còn con gái là khác với lẽ thường nên nói rằng Quá. (Tương dữ: thân thiết với nhau).

3. Cửu Tam: Đống não, hung. 九三: 棟橈, 凶.

Hễ ở vào thời Đại Quá, lấy công nghiệp đại quá, tất phải hạng người cương, nhu đắc trung mà lại có người giùm giúp với mình thời mới làm nổi.

Kìa Cửu Tam đã dương cương lại xử vào vị dương cương là một hạng người cương cường chi quá, lấy tính cương cường tự dụng mà ở vào đời Đại Quá, toan làm công việc Đại Quá, chắc phải hỏng ngay, nên Hào từ nói rằng: Đống não, hung, nghĩa là: Không thể gánh nổi việc nặng, tượng như cây cột yếu, thế tất cong ẹo.

Nguyên lai, đạo lí trong thiên hạ, hễ đã quá cương, tất nhiên gãy, quá cương như Cửu Tam mà đem ra gánh việc nặng ở thời Đại Quá, tất nhiên mắc họa cột xiêu nhà đổ, nên đoán rằng hung.

PHỤ CHÚ: Chung hai chữ đống não, Soán từ vởi Cửu Tam in nhau, nhƣng Soán từ thủ nghĩa bằng toàn quẻ, Cửu Tam thủ nghĩa riêng bản hào nên tốt xấu khác nhau.

Tượng viết: Đống não chi hung, bất khả dĩ hữu phụ dã.

象曰: 棟橈之凶, 不可以有辅也.

Cửu Tam sở dĩ mắc đống não chi hung là vì Cửu Tam cương cường thái quá, đụng lấy việc tất nhiên tự thần, tự thánh không biết đón lựa thời thế, cầu người giúp mình. Nếu có ai giúp nó, cũng không thế nào giúp được.

PHỤ CHÚ: Theo về thông lệ trong Dịch thời Tam với Thượng là ứng với nhau. Tam cương, Thượng nhu, đáng lẽ giúp đỡ cho nhau, cớ sao ở Cửu Tam lại bỏ nghĩa tương ứng với Thượng mà không nói đến.

Đó chính là nghĩa biến hóa ở Kinh Dịch, ở thời Đại Quá là có lẽ đại đã quá rồi, bây giờ Cửu dương mà Tam lại vị cương là quá ở cương, thế là ở trong thì Quá mà lại đại quá nữa.

Người đã quá chi quá, thời ai giúp được, vả nó cũng có chịu nghe ai đâu, nên kết quả chỉ là đống não, hung.

Trình Truyện có câu rằng: Hễ học Dịch cần thứ nhất là biết thời thế, thế có nặng nhẹ, thì có thay đổi.

4. Cửu Tứ: Đống long, cát, hữu tha, lẫn.

九四: 棟隆, 吉, 有它, 吝.

Cửu Tứ dương hào cư âm vị là cương mà không quá cương, nhu mà không quá nhu, cương, nhu tương tế như thế thời làm việc ở thời Đại Quá, chắc đỡ nổi gánh nặng, không lo gì thất bại, tượng như cây cột lớn, đỡ nổi được nhà lên, nên nói rằng: Đống long, cát (Long: vững vàng mà lại lớn trổi).

Tuy nhiên, ở thời Đại Quá, chỉ cốt cương, nhu đắc trung là hay.

Bây giờ Cửu Tứ đã cương, nhu thích trung mà lại còn hạ ứng với Sơ Lục, thành ra đã nhu mà lại thêm nhu vào, thế là nhu mà quá ở nhu, nên thánh nhân răn cho rằng: Tứ chớ nên bìu ríu với Sơ mà có tư tưởng khác nữa, nên hữu tha là việc đáng xấu đó vậy.

PHỤ CHÚ: Cửu Tứ đống long, cát, vẫn có lẽ được hoàn toàn, nhưng hiềm vì hạ ứng với Sơ nên có lời răn rằng: Hữu tha, lẫn. Vì Sơ âm là tiểu nhân, hễ ở thời Đại Quá làm việc đại quá mà trộn tiếu nhân vào thời việc phải hỏng. Đó là thâm ý của thánh nhân, xem Tượng Truyện lại càng rõ lắm.

Tượng viết: Đống long chi cát, bất não hồ hạ dã.

象曰: 棟隆之吉, 不橈乎下也.

Cửu Tứ sở dĩ được cát bằng đống long là vì giữ được tính dương cương của mình, chẳng nao lòng mà xuống theo hào Sơ ở dưới vậy (Hạ là chỉ vào Sơ Lục).

5. Cửu Ngũ: Khô dương sanh hoa, lão phụ đắc kì sĩ phu, vô cựu, vô dự.

九五: 枯楊生莓, 老婦得其士夫, 無咎無譽.

Cửu Ngũ vẫn dương cương, trung chính lại ở vị tôn, đáng lẽ cũng làm được việc đại quá, nhƣng vì ở thì Đại Quá thời dương cư dương là dương quá chi cực, ở gần Thượng Lục tượng như một người quá cương, mà dụng một người quá nhu, không thể giúp nhau làm nên việc gì, tượng như cây dương đã khô mà còn sinh búp hoa ở cuối mùa. Thế là: vinh hoa sắp hết, tiều tụy gần đến nơi.

Lại tượng như người đàn bà già, mà dụng được chồng trai tráng, tuy có tiếng vợ chồng, mà thực chẳng mong gì có sinh dục, nên thủ tượng bằng khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kì sĩ phu (Lão phụ chỉ vào Thượng Lục).

Công việc Cửu Ngũ chỉ như thế, tuy không tội lỗi gì, nhưng cùng không danh dự gì.

Tượng viết: Khô dương sinh hoa, hà khả cửu dã, lão phụ sĩ phu, diệc khả xú dã. 象曰:枯楊生莓,何可久也, 老婦士夫, 亦可臭也.

Dương đã khô mà sinh rễ thời còn mong tươi tốt lại, bây giờ không sinh rễ mà sinh hoa là có thể khô kiệt, còn mong gì được lâu dài nữa đâu. Lão phụ dầu có lấy được sĩ phu, chỉ đáng xấu mà thôi.

PHỤ CHÚ: Hào từ này nên tham khảo với Cửu Nhị. Hễ ở thời Đại Quá, theo về hoàn cảnh thời dầu ai cùng đã có một phần quá. Vậy nên bản thân các hào tất phải cốt cho cương, nhu đắc trung mới chữa được bệnh quá. Nếu cương quá ở cương, nhu quá ở nhu, té ra đã quá rồi mà lại thêm quá, hào Sơ sở dĩ vô cựu, hào Tứ sở dĩ được cát, chỉ vì cư nhu, nhu cư cương, cương, nhu điều tệ với nhau mà làm nên việc.

Còn như Cửu Nhị với Cửu Ngũ thời lại lấy nghĩa khác. Nhị thời dương cương cư nhu, lại đắc trung nên được vô bất lị. Cửu Ngũ ở địa vị trung cũng như Cửu Nhị, nhưng vì Cửu cương, Ngũ lại cương là cương chi quá, lại làm bạn với Thượng Lục là âm nhu chi cực. Hai bên thất chi quá cả mà ở vào thời Đại Quá thời làm gì xong nên hai hào thảy xấu cả. Tên quẻ gọi bằng Đại Quá mà Hào từ lại ghét những người quá, mới biết rằng Dịch lí quý đắc trung, vả lại công việc Đại Quá chẳng phải ai cũng làm được cả.

6. Thượng Lục: Quá thiệp, diệt đính, hung, vô cựu.

上六: 過涉滅頂, 凶, 無咎.

Thượng Lục xử vị trên hết quẻ, lại ở vào thời Đại Quá đã đến cùng cực, đại quá mà đã cùng cực rồi thời dầu có tài đức giỏi đến thế nào cũng khó tránh khỏi làn sóng nguy hiểm.

Huống gì Thượng Lục bản chất âm nhu, tài hèn sức yếu mà ở vào thời Đại Quá cực, tất nhiên bị làn sóng cuối cùng của Đại Quá xua đuổi mà chôn thân vào vũng ba đào, tượng như lội nước quá sâu, bị nước ngập mất đầu, như thế vẫn là hung.

Nhưng mà thời thế sử nhiêu, chứ suy đến tâm lí cũng chẳng gì phải trách lỗi. Đính là ở trên đầu, chỉ hào Thượng; quá thiệp nghĩa là lội nước sâu; diệt đính nghĩa la lút mất sọ.

Hào từ này tượng như hạng người quân tử gặp buổi gian nguy phải sát thân thành nhân. Cứ theo giữa việc mà nói thời vẫn hung tai, nhưng theo nghĩa lí mà nói thời là vô cựu.

Tượng viết: Quá thiệp chi hung, bất khả cựu dã.

象曰: 過涉之凶, 不可咎也.

Hung bằng quá thiệp, chỉ là mình làm mình chịu, còn có than oán đến ai đâu.

Lời Tượng Truyện đây cũng in như lời Khổng Tử: Cầu nhân nhi đắc nhân, hựu hà oán, nghĩa là cầu làm điều nhân, mà được nhân, lại oán gì nữa đâu.

 

29. QUẺ BÁT THUẦN KHẢM

Khảm trên; Khảm dưới

Quẻ này là quẻ Bát Thuần Khảm. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Trên dưới trong ngoài thảy Khảm, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Khảm.

 

TỰ QUÁI

Tự quái: Vật bất khả dĩ chung quá, cố thụ chi dĩ Khảm, Khảm giả hãm dã. 序卦: 物不可以終過, 故受之以坎, 坎者陷也.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đại Quá tiếp lấy quẻ Khảm là vì cớ sao?

Vật lí không thể quá được mãi, hễ quá rồi tất nhiên sụp vào hiểm. Vậy nên sau quẻ Đại Quá tiếp lấy quẻ Khảm. Khảm nghĩa là sụp, cũng có nghĩa là hiểm.

Theo về thể quẻ, trên dưới hai âm, một hào dương ở chính giữa, thành ra nhất dương hãm vào giữa nhị âm nên lấy nghĩa bằng Khảm hãm mà đặt tên quẻ bằng Khảm.

Lại một nghĩa: Khảm là nước, hiểm sâu không gì hơn nước, nên Khảm cũng là tượng hiểm.

SOÁN TỪ

Tập Khảm, hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượng.

習坎, 有孚, 維心亨, 行有尚.

Các quẻ Bát Thuần khác, tên quẻ chỉ có một chữ, duy quẻ Khảm này, Soán từ thêm vào chữ "Tập" mà đọc bằng "Tập Khảm" nghĩa là trên, dưới thảy là Khảm, Khảm vẫn là hiểm, hiểm đến hai lần, muốn cho rõ ý nghĩa hiểm trung hữu hiểm nên gọi bằng Tập Khảm. Tập nghĩa là lần lớp, cũng như nghĩa chữ Trùng. Tập Khảm, tức là trùng hiểm.

Người xử vào thời đại trùng hiểm là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra một cách xử hiểm thời vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm nhất dương ở chính gìữa, dương vi thực, chính giữa là tâm người ta; dương thực ở chính giữa là sẵn có lòng tín thực, tín thực tức là chí thành, tuy hoàn cảnh thời hiểm mà tâm mình vẫn hanh thông. Lòng chí thành của mình tới đâu cảm động đó, chẳng những không lo gì hiểm nạn mà lại tiến hành chắc hữu công (Hành: đi, hữu thượng; có công).

PHỤ CHÚ: Vì sao Khảm lại tượng bằng Thủy, nguyên lai, chân tính của Thủy, tất ở chính giữa lòng nước. Trên mặt nước không khỏi pha vào cặn bã, dưới đáy nước không khỏi trộn vào chất bùn đất; nên muốn tìm chân tính Thủy tất phải xem xét ở giữa dòng nước.

Quẻ Khảm nhất dương ở giữa, dương là minh, dương là thực, thực với minh ở chính giữa lòng, ấy là Thủy. Vậy nên Khảm tượng bằng Thủy.

Lại vì sao mà Khảm là hiểm, bởi vì nhất dương sụp vào giữa nhị âm, dương đầu muốn thoát ra đường nào cùng khó thoát cả nên tượng là Hiểm hãm.

Quái từ hữu phu, duy tâm hanh là dạy cho người ta bằng đạo xử hiểm; hoàn cảnh tuy hiểm mặc dầu, nhưng có lòng chí thành chất chứa trong thời tinh thần vẫn hanh thông.

Tống Nhân có câu thơ: Bình sinh tượng trung tín, kim nhật thiệp phong ba 平生仗忠信, 今日涉 風波, nghĩa là: Ngày thường giữ chất trung tín, ngày nay dầu xông pha sóng gió chẳng sợ gì.

Người Nhật Bản có câu: Tinh thành sở chí, kim thạch năng khai 精誠所至, 金石能开, nghĩa là: Những chốn tinh thành thấu tới nơi thời đá vàng cũng phải nứt nở, chính là dùng đạo hữu phu duy tâm hanh mà bước qua được hồi Khảm hiểm vậy.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Tập khảm, trùng hiểm dã. Thủy lưu nhi bất dinh, hành hiểm nhi bất thất kì tín; duy tâm hanh, nãi dĩ cương trung dã. Hành hữu thượng, vãng hữu công dã. Thiên hiểm, bất khả thăng dã, địa hiểm, sơn xuyên khưu lăng dã. Vương công thiết hiểm, dĩ thủ kì quốc. Hiểm chi thì dụng, đại hỉ tai.

彖曰: 習坎, 重險也. 水流而不盈, 行險而不失其信; 維心亨, 乃以剛中也. 行有尚, 往有功也. 天險不可升也, 地險山川丘陵也. 王公設險以守其國, 險之時用大矣哉.

Soán viết: Tập khảm, trùng hiểm dã. Sở dĩ gọi bằng Tập Khảm là vì hai lần hiểm vậy.

Thủy lưu nhi bất dinh, hành hiểm nhi bất thất kì tín.

Đây là lấy tượng quẻ thích hai chữ hữu phu. Theo như tượng Khảm thời tượng là Thủy. Hễ tính Thủy vẫn thường chảy luôn mà không bao giờ ứ lại. Đổ vào vực sâu, tràn đầy bổ rộng, vẫn là đi giữa chốn hiểm, nhưng mà đêm đêm ngày ngày như thế, năm năm tháng tháng như thế, không bao giờ mất tính tin thật. Đó là đức tính Khảm mà in như Khảm trung thực, nên Soán từ nói rằng: Hữu phu.

Duy tâm hanh, nãi dĩ cương trung dã.

Duy có chí thành thời trong lòng thường được thư thái là vì có đức dương cương trong lòng vậy.

Hành hữu thượng, vãng hữu công dã.

Hành hữu thượng nghĩa là đi tiến lên thời thoát khỏi hiểm mà có công vậy.

Thiên hiểm bất khả thăng dã, địa hiểm, sơn xuyên khưu lăng dã, vương công thiết hiểm, dĩ thủ kì quốc, hiểm chi thì dụng, đại hỉ tai.

Trên đây đã nói Khảm là tượng hiểm, nhưng hiểm có hai phương diện: Một là, hiểm thuộc về phần vô hình là hiểm của trời. Hai là, hiểm thuộc về phần hữu hình là hiểm của đất.

Trời chỉ là không khí vô hình mà người không thể nào lên tới trời được. Đó là thiên hiểm.

Đất có núi sông, cồn gò, chốn cao thời khó thể trèo, chốn sâu thời khó thể dò. Đó là địa hiểm.

Thánh nhân bắt chước hiểm của trời đất mà đặt ra một cách bằng nhân hiểm, dùng để hạn ngự ngoại vụ thời có: "câu", "hào", "thành", "quách"; dùng để kiên cố nhân tâm thời có: "chính", "hình", "uy", thưởng"; dùng những cách hiểm đó, để giữ nước nhà. Thế là thì dụng của hiểm, rất lớn vậy thay.

PHỤ CHÚ: Lời Soán Truyện tán các quẻ, chỉ tán bằng một chữ thì mà ở quẻ Khảm thời lại thêm vào chữ dụng.

Bởi vì hiểm có thì, có dụng, tỉ như: Trong nước gặp lúc hoạn nạn, trong nhà gặp lúc tai biến là hiểm chi thì. Những việc binh hình chính giáo để ngăn ngừa họa loạn, những việc trừ súc dự bị tiền gạo, thuốc thang, v.v. để phòng bị tai nạn, thảy là hiểm chi dụng.

Tổng chi, hiểm thuộc về thì là cảnh ngộ vô thường, Hiểm thuộc về dụng là công việc hữu thường. Như câu sách nói hữu bị vô hoạn 有備无患, với câu phòng hoạn ư vị nhiên 防患於未 然 thảy là hiểm chi dụng; hiểm chi thì chắc không bao giờ không, hiểm chi dụng chắc lúc nào cũng phải có, nên nói: diểm chi thì, dụng, đại hĩ tai!

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Thủy tấn chí, Tập Khảm. Quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự. 象曰: 水楊至習坎, 君子以常德行, 習教事.

Theo như tượng quẻ Khảm, Khảm trên chuyền xuống Khảm dưới, Khảm dưới hứng đỡ Khảm trên, nước lần lượt chảy tới mãi mà không cùng. Đó là tượng Tập Khảm.

Quân tử xem tượng ấy, học theo cách Tập Khảm, dùng để mà tu thân thời thường thường tu tỉnh đức hạnh của mình, một ngày như vậy, một năm như vậy, một đời cũng như vậy. Dùng để mà trì nhân thời thực tập các việc giáo dục, dạy cho nó tất phải chuyên luyện cho nó, tất phải kĩ. Đó là bắt chước theo tượng Khảm vậy.

PHỤ CHÚ: Chữ Tập trên chữ Khảm, thủ nghĩa rất hay. Tập có hai nghĩa: Một là lần lượt, ôn đi tập lại không bao giờ quên. Đức Khổng có câu: Học nhi thì tập chi 學而時習之, nghĩa là: Đã bắt chước được rồi thời phải buổi buổi ôn tập luôn. Quân tử dụng nghĩa ấy mà thường đức hạnh. Một là tập quán, ngày ngày đêm đêm, rót sâu đúc chín, khiến cho tai quen mắt luyện mà thành ra tập quán.

Quân tử có câu: Tập nhi an yên, bất kiến dị vật nhi thiên yên 習而安焉, 不見異物而遷焉, nghĩa là tập mãi thành quen mà an trí vào óc, chẳng bao giờ thấy cách khác mà dời đổi. Quân tử dùng nghĩa ấy mà tập giáo sự, chi một chữ Thường là bao nuốt hết nghĩa tu thân, chỉ một chữ Tập là bao nuốt hết nghĩa dạy dân; nước từ một giọt suối mà chảy hoài thời có ngày thành sông thành biển. Người ta cứ từ một việc tốt mà làm hoài hoài thời có ngày nên thánh hiền, ý nghĩa chữ Thường, chữ Tập, của thánh nhân, sâu xa như thế.

1. Sơ Lục: Tập Khảm, nhập vu Khảm hạm, hung.

初六: 習坎, 如雨坎審, 凶.

Sơ Lục là bản chất âm nhu mà lại ở dưới hết địa vị trùng hiểm, tượng như người sảy chân xuống vực hiểm, càng quậy cựa thời sụp càng sâu nên nói rằng: Tập Khảm. Chữ Tập này khác nghĩa chữ Tập ở trên quẻ, Tập Khảm nghĩa là quen thục cách vào hiểm; Khảm hạm nghĩa là vũng sâu nhất trong chốn hiểm.

Vì có tính chất nhu ám, thấy Khảm hiểm mà không biết đường tránh, ỷ mình quen hiểm, vào càng mám thời sụp càng sâu, nền đến nỗi nhập vu Khảm hạm. Thế tất nhiên hung.

Cổ ngữ có câu: Thiện du giả, tất tử ở thủy 善游者, 必死於水, nghĩa là những người hay nghề bơi, tất chết với vạ nước; hay nghề bơi tức là Tập Khảm, chết với vạ nước tức là nhập vu Khảm hạm mà hung. Tục ngữ có câu cơ thâm, họa chuyển thâm 幾深禍轉幾, cũng là nghĩa ấy.

Tượng viết: Tập Khảm, nhập Khảm, thất đạo hung dã.

象曰: 習坎, 入坎, 失道, 凶也.

Tượng Truyện thích Hào từ lại càng minh bạch lắm. Bởi vì Tập Khảm mà khắc họa nhập Khảm, thế là cách sở tập trái mất đường lối nên mắc hung đó vậy. (Thất đạo, sai mất đường lối).

2. Cửu Nhị: Khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc. 九二: 坎有險, 求小得.

Cửu Nhị có đức dương cương mà lại đắc trung, đã dương cương thời tài đủ hộ thân, đắc trung thời trí đủ biết tính việc, đáng lẽ không sợ gì hiểm nạn, nhưng vì hoàn cảnh Cửu Nhị chính đương ở giữa trùng hiểm, gặp lấy thì Khảm, chẳng cách gì tránh khỏi hiểm nên nói rằng: Khảm hữu hiểm.

Tòng lai, anh hùng tuy có sức đủ chống với thời thế, nhưng thời thế cũng có sức làm khốn được anh hùng, có tài cương trung như Cửu Nhị mà bị trên dưới nhị âm vây bọc, muốn làm được sự nghiệp lớn có dễ dàng đâu nên phải tích ngày lũy tháng, từ một phân một tấc gày lên, miễn cho được đôi tí cỏn con, năm chồng tháng chất, tượng như nước chảy từ một giọt bắt đầu nên nói rằng cầu tiểu đắc.

Tiểu đắc nghĩa là chỉ vừa được chuyện nhỏ mà thôi, nhưng mà tích lũy nghìn muôn cái nhỏ thời thành được một cái rất lớn, chính là một phương pháp rất hay cho quân tử ở thì Khảm.

PHỤ CHÚ: Cửu Tứ quẻ Dự với Cửu Nhị quẻ Khảm hai hào thảy dương cư âm vị. Duy Khảm Nhị có tài cương trung, đáng lẽ Khảm Nhị thành tựu hơn Dự Tứ, nhưng mà hào tứ Dự Tứ thời nói rằng đại hữu đắc còn Hào từ Khảm Nhị thời chỉ cầu tiểu đắc mà thôi. Đó mới biết chữ "thì” ghê gớm thiệt. Cửu Tứ Dự là ở thời đại vui vẻ, thuận thì thuận thế mà làm nên đại anh hùng. Cửu Nhị Khảm ở thời đại nguy hiểm nên trái thì trái thế, may chỉ làm nên một bậc quân tử, hai bên tài dương cương in nhau mà sự thành tựu thời đại tiểu khác nhau. Dịch tùy thì tùy đạo là như thế.

Tượng viết: Cầu tiều đắc, vị xuất trung dã. 象曰: 求小得, 未出中也.

Có tài cương trung như Cửu Nhị cớ sao chỉ cầu tiểu đắc mà thôi?

Bởi vì địa vị của Cửu Nhị chưa ra khỏi giữa Khảm hiểm vậy. Chữ trung nghĩa là chính giữa Khảm.

3. Lục Tam: Lai chi Khảm Khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu Khảm hạm, vật dụng. 六三: 來之坎坎, 險且枕, 入于坎審, 物用.

Lục Tam bản chất đã âm nhu mà sở xử lại bất trung chính, lấy tư cách một người như thế mà ở vào thì Khảm hiểm, ngó lên trước mặt thấy Khảm, quay lại sau lưng cũng thấy Khảm, tài đã hèn mà cảnh lại nghịch, lên lui chẳng đường nào xong, chỉ duy sụp vào hố Khảm mà thôi nên Hào từ nói rằng: Lai chi khảm khám.

Lai nghĩa là lại là lui lại xuống dưới; chi nghĩa là đi là đi lên phía trên, lui lại thấy Khảm, bước lên cũng thấy Khảm. Thế là: Lai chi Khảm Khảm, hiếm thả chẩm.

Hiểm là mặt trước ở hiện tại; chẩm là gối kê ở phía sau, trước mặt đã hiểm, sau lưng lại ké vào chốn hiểm.

Thế là: Hiểm thả chẩm.

Cảnh ngộ của Lục Tam đã như thế thời chỉ càng sụp càng sâu mà thôi.

Tuy nhiên, cảnh ngộ là thuộc về phần trời mà chống chèo với cảnh ngộ lại thuộc về phần người. Nêu sức người đủ tranh lại với trời thời còn có thể dùng được. Kìa bất trung chính mà lại âm nhu như Lục Tam, dầu có gặp cảnh ngộ gì khác nữa, cũng chẳng làm gì xong, nên Hào từ lại nói: Vật dụng. Chữ Vật dụng là bảo cho những người ở đời Khảm, chớ dùng Lục Tam này.

Tượng viết: Lai chi Khảm Khảm, chung vô công dã.

象曰: 來之坎坎, 終無功也.

Cảnh ngộ và tính chất như Lục Tam: thời chẳng những lai chi Khảm Khảm mà thôi mà kết quả chỉ là thất bại vậy. Bởi vì âm nhu lại bất trung chính, còn làm nên việc gì.

4. Lục Tứ: Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cựu.

六四: 樽酒簋貳用缶, 納約自牖, 終无咎.

Lục Tứ ở vào quẻ trên là được ở ngôi cao, lại thân cận với Cửu Ngũ là một vị quốc trưởng, tượng như một bậc đại thần cận quân. Duy ở thì Khảm hiểm mà bản thân lại âm nhu, bảo Tứ làm những việc lỗi lạc quang minh mà tế hiểm cứu đời, thiệt Tứ không làm được, may nhờ Tứ là người đắc chính, mà Cửu Ngũ với Tứ cương, nhu tương đắc nên thánh nhân lại dạy cho Tứ một phương pháp rằng: Ở đời hiểm nạn mà mình đã đứng ở vị đại thần, chỉ duy kết nạp quốc trưởng bằng chí thánh mà lại phải ủy khúc bằng cách cơ trí mà xong, lấy chí thành mà kết nạp thời không nên sùng thượng phiền văn, lấy cơ trí mà chu hoàn thời bất tất cầu chấp chính đạo. Như thế thời mới mong khai phát được chốn bế tắc cho kẻ trên, giúp đỡ được cuộc gian nguy cho thiên hạ, kết quả cũng không tội lỗi gì. Vậy nên, Hào từ nói rầng: Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cựu.

Trên đây là thích tóm đại ý, đây trở xuống thời thích nghĩa den từng câu một. Tôn là hũ dựng rượu; quỹ là đồ đựng đồ ăn; phẫu là ve sành, nhỏ hơn tôn; nhị là thêm vào, như tục ta thường nói ông Nhì hoặc thầy Nhì, v.v. Ý nghĩa cũng giống như chữ phó, chánh là phần nhiều, phó là phần ít. Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu nghĩa là chỉ dùng bằng cách giản đơn chất phác mà không cần vật tốt đồ nhiều, tượng như rượu chỉ một tôn, đồ ăn chỉ một quỹ mà dồn thêm vào chỉ dùng một phẫu mà thôi, câu ấy là nói: Cốt trọng tinh thần mà không cần vật chất, chỉ lấy chí thành cảm động mà thôi. Nạp ước nghĩa là nộp lời tin vào; ước có nghĩa như khế ước là giống đồ làm tin. Dũ là cửa sổ, cốt để lọt bóng sáng vào; dũ vẫn không được chính đại như cửa lớn mà có thể vừa lọt được bóng sáng. Nạp ước tự dũ nghĩa là đương lúc lòng người còn bế tắc, nếu mình cứ giữ một cách đường ngay mực thẳng, nhè giữa chốn bế tắc của người mà công kích hoài, tất nhiên lời nói mình khó vào mà việc cũng hỏng, âu là chịu khó mất công, rình chờ đến khi nhất điểm minh của người vừa phát hiện mà thừa cơ khai đạo, tượng như nạp khế ước mà không nạp ở cửa chính lại từ của sổ đút vào.

Theo về sự thực thời không được chính đại quang minh, nhưng cốt cho lời nói mình lọt vào tai người, mà người chịu nghe thời dầu có uốn đường, tắt lối chút đỉnh cũng không ngại gì. Hào từ đây chỉ nói bằng thí dụ hai câu trên, hai câu trên là hình dung tinh thần chân thực cảm nhân. Câu nạp ước tự dũ là hình dung phương pháp đi tắt được việc, chi là thủ đoạn xử về thì Khảm, lòng vẫn thành thực mà thủ đoạn cũng cần có cơ quyền, chính là ý thánh nhân vạn bất đắc dĩ mà phải ủy khúc chu toàn như thế.

Tượng viết: Tôn tửu quỹ, cương nhu tế dã.

象 曰 : 樽 酒 簋 , 剛 柔 際 也 .

Tượng Truyện đây chỉ cứ một câu đầu mà quán luôn toàn Hào từ, thông lệ trong Dịch nhiều như thế.

Tứ với Ngũ cương, nhu giao tế với nhau nên chỉ dùng bằng cách chân thành tương đại mà tìm cho đến lúc khai minh để thâu nạp thành ý của mình, cũng có thể được chung vô cựu vậy. Tế: giao tế; cương chỉ vào hào Ngũ: nhu chỉ vào hào Tứ.

PHỤ CHÚ: Hào từ đây với câu Ngộ chủ vu hạng ở quẻ Khuê đồng một ý tứ. Khảm là buổi Khảm hiểm, Khuê là buổi khuê li, thảy là thời đại gay go, tình cảnh khốn nạn, dầu có dụng cơ quyền mà không hại đến nghĩa lí thời tuy sở do bát chính cũng không đến tội lỗi gì. Nạp ước tự dũ, dũ thời không phải cửa chính; Ngộ chủ vu hạng, hạng thời không phải đường chính. Duy vì gặp ở thời đại gian nan nên phải do đường tắt mà đạt được chí mình, chính đúng với câu: Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng quyền.

Nếu ở về đời trị bình thời có cần gì phải do đường tắt, cách do đường tắt đó, duy ở thì Khảm Khuê mới phải dùng mà thôi.

5. Cửu Ngũ: Khảm bất dinh, chỉ kí bình, vô cựu.

九五: 坎不盈, 柢既平, 無咎.

Cửu Ngũ có tài dương cương mà lại trung chính, ở vào vị tôn mà lại đã trải qua nửa thì Khảm, cũng có thể gần ra khỏi hiểm, nhưng vì ở giữa Ngoại Quái thế là hiểm còn chưa đầy. Tuy nhiên thời đại hiểm gần lúc cuối cùng mà tài đức Cửu Ngũ cũng có thể cạy lật cho ra khỏi hiểm, chắc chẳng bao lâu thời Khảm dinh mà bình. Đến lúc Khảm đã bình thời mình ra khỏi hiểm, sẽ dắt thiên hạ ra khỏi hiểm. Thế thời vô cựu (Kí nghĩa là bệnh).

Tượng viết: Khảm bất dinh, trung vị đại dã.

象曰: 坎不盈, 中未大也.

Cửu Ngũ có tài cương trung mà ở vào vị tôn, vẫn có sức cứu tế được hiểm nạn, nhưng vì Khảm còn bất dinh nên đức cương trung của mình, chưa đến lúc quang đại vậy.

6. Thượng Lục: Hệ dụng huy mặc, chí vu tùng cức, tam tuế bất đắc, hung.

上六: 係用徽纏, 寘于叢棘, 三歲不得, 凶.

Thượng Lục bản thân âm nhu, nguyên là một người nhu ác mà lại ở vị hiểm cực, hiểm chi cực tất nhiên sụp vào hiểm rất sâu, tượng như một người bị tội nặng mà vào lao, đã trói tay bằng nhuy mặc lại đặt chân vào tùng cức (Huy mặc: giây nhạc; hệ: trói; tùng cức: đống gai; chí: đặt). Thượng Lục nhu ác mà sụp vào hiểm, nếu biết hối tội cải quá thời còn mong được ra, nhưng Thượng này không tài xuất hiểm, lại không đạo hối quá, đến nỗi lâu đã ba năm mà không được ra, thôi thời xấu quá.

Tượng viết: Thượng Lục thất đạo, hung tam tuế dã.

象曰: 上六失道, 凶三歲也.

Thượng Lục đã âm nhu mà lại hiểm cực là đi sai mất đường lối đã lâu, thời hung đến tam tuế cũng là đáng rồi.

PHỤ CHÚ: Quẻ Khảm này tứ âm vây bọc lấy nhị dƣơng, tƣợng nhƣ tứ tiểu nhân vây bọc lấy nhị quân tử. Nên Hào từ trong sáu hào, Nhị thời cầu tiểu đắc, Ngũ thời chỉ kí bình là trông mong cho quân tử đƣợc mau xuất hiểm; hào Sơ, hào Thƣợng thời hung, hào Tam thời vật dụng, hào Tứ thời chỉ đƣợc vô cựu là đau đớn cho tiểu nhân hay hành hiểm mà vô ích. Ý thánh nhân phù quân tử ức tiểu nhân là nhƣ thế, nên Hào từ Sơ, Thƣợng, thảy có chữ hung mà Tƣợng từ thảy có chữ thất đạo, cứ hai hào đầu cuối mà hai hào ở giữa cũng đủ biết.

 

30. QUẺ BÁT THUẦN LI

Ly trên; Ly dưới

Quẻ này là quẻ Bát Thuần Li.

Li hạ cũng là Nội Li,

Li thượng cũng là Ngoại Li. Trên dưới, trong ngoài thảy Li nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Li.

TỰ QUÁI

Tự quái: Hãm tất hữu sở lệ, cố thụ chi dĩ Li, Li giả lệ dã.

序卦: 陷者必有所麗, 故受之以離, 離者麗也.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li là vì cớ sao?

Khảm nghĩa là hãm, đã hãm rồi tất phải có chốn nương dựa, nên sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li. Li nghĩa là lệ. Chữ Li có hai nghĩa: Một nghĩa Li là lệ; theo về thể quẻ một nét âm ở giữa, nương dựa vào hai nét dương ở trên dưới nên học nghĩa Li là lệ.

Lại một nghĩa Li là minh; vì chính giữa nét đứt đôi, tức là giữa trống không, tượng là trung hư, hư thời sáng. Lại tượng là mặt trời là lửa, thảy là giống sáng soi nên học nghĩa Li là minh.

PHỤ CHÚ: Dịch đến quẻ Khảm, Li là cuối cùng Thượng Kinh, chúng ta nên nhận cho ra ý thánh nhân sắp thứ tự quẻ.

Vì sao mà sáu mươi tư quẻ. Càn, Khôn ở đầu hết, Khảm, Li ở trung gian. Ngầm nghĩ cho đến nơi thời có ý nghĩa rất hay. Càn, Khôn là chân thể của trời đất mà làm nguyên tổ cho âm dương nên đặt đầu hết Kinh.

Khảm, Li là trung tâm điểm của Càn, Khôn mà làm nên công dụng thủy, hỏa, bao nhiêu công dụng tạo hóa trong lưỡng gian, rặt là phát nguyên ở thủy, hỏa; thủy, hỏa thiệt là đắc thiên địa chi trung nên đặt Khảm, Li chính giữa Kinh.

Nguyên Dịch lí chỉ có nhất âm nhất dương, thuần âm thành ra Khôn, thuần dương thành ra Càn. Lấy nét chính giữa Càn mà trao đổi cho Khôn thành ra Khảm, lấy nét chính giữa Khôn mà trao đổi cho Càn thành ra Li, nên nói rằng: Khảm, Li là thiên địa chi trung.

Theo về phương hướng thời Khảm ở chính Bắc, Li ở chính Nam. Theo về thì gian thời Khảm là giờ Tí, đúng giữa nửa đêm, Li là giờ Ngọ, đúng giữa nửa ngày.

Theo về nhân tâm thời Khảm trung thực là chữ Thành; Li trung hư là chữ Minh. Trung thực nghĩa là trong lòng chắc đặc, ấy là thành. Trung hư nghĩa là trong lòng trông không, ấy là minh. Thành, minh thảy khởi tự trong lòng mà ra, đó chính là diệu dụng của Khảm, Li.

Vì chân lí là vô hình nên thánh nhân phải mượn vạch quẻ là hữu hình mà phát minh cho ta hiểu. Càn, Khôn ở đầu Kinh, Khảm, Li ở giữa Kinh là bao hàm chân lí như thế.

SOÁN TỪ

Li, lị trinh, hanh, súc tẩn ngưu, cát. 離利貞, 亨, 畜牝牛, 吉.

Nguyên lai chữ Li có nghĩa chính, phản. Nghĩa chính chữ Li là dếnh dựa; nghĩa phản chữ Li là rời lìa.

Nhưng ở đây chỉ lấy bằng nghĩa chính thời Li nghĩa là dếnh dựa. Vạn vật không vật gì không chốn dếnh dựa. Tỉ như: Loài chim dếnh dựa vào rừng, cá dếnh dựa vào nước mà đến loài người cũng thế, hoặc bạn hữu dếnh dựa nhau mà nên đức nghiệp, hoặc cha con, vợ chồng, anh em dếnh dựa nhau mà nên gia đình, hoặc loài người dếnh dựa nhau mà nên dân tộc hay xã hội, tất thảy gọi bằng hữu sở lệ.

Nói cho đến rất nhỏ thời dếnh dựa vào đường lối nào mà đi, dếnh dựa vào nghề nghiệp nào mà sống, thảy là hữu sơ lệ.

Nghĩa chữ Li lệ bao hàm rất rộng lớn, nhưng mà hễ đã có dếnh dựa thời trong lúc dếnh dựa có hai phương diện: một thời dếnh dựa vào lối chính, một thời dếnh dựa vào lối tà.

Tỉ như: Dếnh dựa vào quân tử, thánh hiền, v.v. thời là chính; dếnh dựa vào tiểu nhân, đạo tặc, v.v. thời là tà. Dếnh dựa vào chính thời dếnh dựa mà hay; dếnh dựa vào tà thời dếnh dựa mà dở. Vì cách dếnh dựa phức tạp mà lại quan hệ nhân sinh như thế nên Quái từ nói rằng: Li, lị trinh, hanh, nghĩa là: Người tất phải có chốn dếnh dựa mà cốt nhất là dếnh dựa cho được chính thời mới hanh.

Quái từ lại lấy thêm vào một nghĩa mà thí dụ bằng súc tẩn ngưu, nghĩa là: Li vốn đã minh rồi, nếu minh thái quá thành ra nước trong quá thời không cá, người minh sát quá thời không bầy, nên lại phải hết sức thu liễm đức minh của mình mà nuôi chứa lấy đức thuận của mình. Ví như: nuôi con trâu cái thời được lành. (Ngưu là thuần vật mà lại tẩn ngưu là thuận chi chí, súc tẩn ngưu là tỉ dụ bằng nuôi đức thuận). Quái từ thêm vào tượng ấy là sợ người ta quá dụng tài minh sát vậy.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ địa. Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãi hóa thành thiên hạ. Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã.

彖曰: 離麗也, 日月麗乎天, 百穀草木麗乎地. 重明以麗乎正, 乃化成天下. 柔麗乎中正, 故亨, 是以畜牝牛吉也.

Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ địa.

Li nghĩa là dếnh dựa. Tỉ như mặt trăng, mặt trời thời dếnh dựa vào thiên không, trăm giống lúa cây cỏ thời dếnh dựa vào trái đất, trong lưỡng gian không một giống gì không dếnh dựa, nhưng Soán Truyện chỉ cử vào giống rất lớn mà nói.

PHỤ CHÚ: Thầy Quy Sơn có câu rằng: Hỏa vô thường hình, lệ vật nhi hữu hình 火無常形, 麗 物而有形, nghĩa là: Lửa vẫn không hình nhất định (Li nguyên là lửa), vì có chốn dếnh dựa, ta mới thấy được hình. Chính giữa bản thân người được Khảm thủy làm tinh, được Li hỏa làm thần. Vì khí âm dương kết hợp mà thành ra hình. Khi sống thời tinh thần dếnh dựa vào hình. Đó cũng là nghĩa Li lệ.

Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãỉ hóa thành thiên hạ.

Đây là lấy đức quẻ, thích nghĩa tên quẻ, Lí có tượng là minh, trên Li, dưới Li là có tượng trùng minh.

Nhưng quẻ Li sở dĩ thành quẻ là cốt ở hào Nhị, hào Ngũ nên chỉ nói riêng về Nhị, Ngũ. Nhị, Ngũ thảy xử vào vị trung, thế là trên dưới thảy có đức minh mà lại xử vào vị trung chính là trung minh dĩ lệ hồ chính mới hóa được thiên hạ mà thành ra đời văn minh.

Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã.

Hào Nhị: hào Ngũ có tính chất nhu thuận mà dếnh dựa ở đạo trung chính, sở dĩ được hanh. Bởi vì thế nên nuôi đức chí thuận mà được cát vậy (Súc tẩn ngưu, ý là nuôi đức chí thuận vì chí thuận nên tỉ dụ bằng tẩn ngưu, chớ nhận thực rằng tẩn ngưu là trâu cái).

PHỤ CHÚ: Chữ Trung chính ở đây, nói góp cả Nhị, Ngũ, nhưng theo thường lệ ở mỗi quẻ., Lục cư Nhị vẫn trung chính đã đành, còn Lục cư Ngũ thời trung mà bất chính, cớ sao lại nói luôn chữ trung chính? Đó chính là thì nghĩa của Kinh Dịch. Ở vào thời Li chỉ cốt xem ở nơi phụ lệ, phụ lệ vào chốn trung, tức thị chính. Đạo Dịch quý trọng nhất là chữ trung, thiên hạ thường có chính mà không trung, hễ đã trung, tất nhiên chính đó vậy.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Minh lưỡng tác Li. Đại nhân dĩ kế minh, chiếu vu tứ phương.

象曰: 明兩作, 離. 大人以繼明照乎四方.

Minh lưỡng tác ở quẻ Li, cũng như "thủy tấn chí" ở quẻ Khảm. Li là hỏa là nhật, đây chuyên chỉ bằng mặt trời: Mặt trời ngày nay sáng, ngày mai sáng, đức sáng trùng điệp phát khởi hoài. Đó là tượng Li.

Bậc đại nhân xem tượng ấy sẽ tiếp tục đức minh, soi dọi ở bốn phương (Kế: nổi tiếp; kế minh: Nối tiếp đức minh).

Tỉ như đời trước minh, đời sau cũng minh; hoặc việc trước minh, việc sau cũng minh, thảy gọi bằng kế minh được cả, nhưng cớ sao chuyên thuộc về đại nhân? Bởi vì có đức như thánh nhân, có vị như bậc nguyên thủ mới có thể chiếu lâm được khắp bốn phương.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. Sơ Cửu: Lí thác nhiên, kính chi, vô cựu.

初九: 履錯然, 敬之無咎.

Xử vào thể Li, sự vật vẫn là phân tạp mà Sơ Cửu dương cương cư hạ, vả lại có tính lửa, càng nóng chảy muốn bùng lên. Tượng như người nóng nảy muốn ra đi, xâu giày nhố nhăng. (Lí: xâu chân vào giày, thác nhiên: có ý lốp xốp).

Thánh nhân thấy ở đầu thì Li, sự tình còn lộn nhộn mà tính chất Sơ Cửu lại nóng nảy cầu tiến quá hăng, e không tránh khỏi tội lỗi nên lại răn cho rằng: Kính chi vô cựu, nghĩa là: Phải kính cẩn đậm đà thời mới khỏi tội lỗi.

PHỤ CHÚ: Chữ Kính đây cũng như chữ giới thận, khủng cụ 戒慎, 恐懼 ở sách Trung Dung, dương cương mà lại li minh, vẫn là chất tốt, nhưng bắt đầu vào thì Li, trí thức chưa được giàu, duyệt lịch chưa được rộng. Nếu khinh táo võng động mà không biết giới thận khủng cụ thời tội lỗi đến ngay. Chữ Kính chi ở Hào từ chính là một vị thuốc chữa bệnh táo tiến cho người đời vậy.

Tượng viết: Lí thác chi kính, dĩ tị cựu dã.

象曰: 履錯之敬, 以避咎也.

Đức kính trong lúc lí thác cốt để tránh điều lỗi lầm vậy.

Tòng lai, tri bất minh thời hành bất thận 知不明, 不行慎, lí thác nhiên mà biết kính chi, nhân vì tường thẩm ở lúc tri mà khỏi sai suyễn ở lúc hành nên được vô cựu.

2. Lục Nhị: Hoàng li, nguyên cát.

六二: 黄離, 元吉.

Lục Nhị ở hào tốt nhất trong quẻ Li, vị Nhị đã đắc trung, Lục cư Nhị lại đắc chính, ở vào thể Li lại có đức văn minh. Bản thân Nhị đã có đức văn minh trung chính mà trên ứng với Ngũ cũng văn minh trung thuận; minh được như thế mà sở lệ lại đúng như thế, thiệt tốt lớn không ai bằng, nên Hào từ nói rằng: Hoàng li, nguyên cát. Hoàng là sắc trung mà lại có vẻ đẹp, hình dung đức văn minh trung chính, Cửu Nhị sở lệ được đúng nên dùng chữ hoàng li.

Tượng viết: Hoàng li, nguyên cát, đắc trung đạo dã,

象曰: 黄離元吉, 得中道也    

Hoàng li sở dĩ nguyên cát, bởi vì được đạo chính trung vậy. Hào Nhị vẫn kiêm cả trung chính, nhưng không cần nói chính là bởi vì có Nhị mới thành ra Li, có trung mới thành được văn minh. Trung là chú trọng ở quẻ Li, chữ chính đã nuốt vào trong chữ trung.

3. Cửu Tam: Nhật trắc chi li, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại diệt chi ta, hung.

九三: 日昃之離, 不鼓缶而歌, 則大奎之差, 凶.

Quẻ Li này hai thể thảy là tượng mặt trời, Cửu Tam ở về cuối cùng hạ thể, tượng là mặt trời ngày nay sắp lặn, mà mặt trời ngày mai chưa mọc lên nên nói rằng nhật trắc chi li. Trắc là mặt trời gần lặn; nhật trắc là buổi gần hoàng hôn. Tỉ dụ vào tâm lí người ta thời vật dục đã có hơi bịt bùng mà bản thể quang minh hầu đến ngày mờ mịt, người đến lúc ấy tất nhiên ăn ở không nhằm lẽ, ưu lạc thảy thất thường, khi không đáng vui mà vui, khi không đáng buồn mà buồn, chẳng đập trống mà hát thời khóc than vì già lẫn quá chừng. Như thế chẳng hung còn gì nữa.

PHỤ CHÚ:

Đường Thi có câu: Ngô ca, Sở vũ hoan vị tất, Tây sơn dục hàm bán biến nhật 吳歌 楚舞歡未畢, 西山欲啣半邊日, nghĩa là: Hát Ngô múa Sở dở dang, mặt trời đã nửa ngậm gương non Đoài.

Lại có câu: Thương nữ bất tri vong quốc hận, cách giang do xướng Hậu Đình Hoa 商女不知亡國恨, 隔江 猶唱後庭華.

(Con buôn biết nước mất đâu, Cách sông hát bướng mấy câu Hậu Đình).

Cổ phẫu nhi ca ở hào này là nghĩa như thế. Trong sách Tả Truyện, Triệu Mạnh thấy bóng mặt trời chiếu mà than rằng: Buổi mai không kịp tính đến buổi hôm, có hơi sức gì chờ được năm năm. Triệu Mạnh Thị Âm viết: Triêu tịch bất tương cập, thùy năng đãi ngũ 朝夕不相及谁能待 五.

Đó chính là câu: Đại diệt chi ta, chữ bất với chữ tắc hô ứng với nhau nghĩa là chẳng vui tầm vơ thời buồn tầm bậy. Tổng chi, ưu lạc giai thất kì thường, hình dung một hạng người tâm tình hôn ám, không khác gì Li ở lúc nhật trắc.

Tượng viết: Nhật trắc chi li, hà khả cửu dã.

象曰: 日昃之離, 何可久也.

Li mà đụng lúc mặt trời đã xế rồi, thế là đức minh đã đến lúc hôn, còn lấy gì lâu đặng.

4. Cửu Tứ: Đột như, kì lai như, phần như, tử như, khí như.

九四: 突如, 其來如, 焚如, 死如, 棄如.

Cửu Tứ vượt qua quẻ dưới mà bắt đầu bước vào quẻ trên, chính vừa lúc tiền minh đã tắt mà hậu minh sắp sửa tới, đương thời đại ấy, nêu được người kế thừa cho tốt vẫn có nhịp hay.

Nhưng Cửu Tứ thời trái hẳn, bản thân là dương cương, sẵn có tính táo mà lại ở vị Tứ, đã bất chính lại bất trung, thấy Lục Ngũ âm nhu ở trên mình, toan thả ngón cương cường của mình ra mà lăng bức Ngũ, tượng như thình lình chạy tới trước mặt Ngũ khí thế lồng loạt như toan đốt người.

Một người ở vào thời đại thừa kế mà láu táu vụng về, cương cường thủ họa như Cửu Tứ ấy, còn làm sao khỏi mình chết, chúng bỏ được đâu.

Cửu Tứ tương tự như Đổng Trác ở đời Hán, Nguyễn Chỉnh ở triều Tây Sơn.

Tượng viết: Đột như, kì lai như, vô sở dụng dã.

象曰: 突如, 其來如, 無所容也.

Uy bức kẻ trên như Cửu Tứ thời thiên hạ không chốn nào dụng nó được vậy.

Đột như, kì lai như là hình dung cách táo bạo, phần như là hình dung khí nóng sôi; vô sở dụng là kết quả phải tử khí.

5. Lục Ngũ: Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát.

六五: 出涕沱若, 戚嗟若, 吉.

Lục Ngũ có đức văn minh của Li, sở xử lại đắc trung, vẫn sẵn có thể tốt, nhưng vì bản chất âm nhu, đứng vào chính giữa hai hào dương, trên ép dưới đẩy là mắc vào hoàn cảnh khó khăn, duy hào Ngũ có đức minh hết sức phòng ưu lự hoạn, sẽ chống chọi với hoàn cảnh nổi nên kết quả được tốt lành. Vậy nên Hào từ nói rằng: Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, nghĩa là: Lo sợ quá riết, tượng như nước mắt sụt sùi; tính nghĩ quá sâu, tượng như thở vắn than dài mà không nghỉ. Lục Ngũ vẫn có đức đáng được tốt mà Hào từ chỉ tỏ ra một cách ưu cụ cũng chỉ vì thời thế bắt buộc nên thế (Xuất thế, nghĩa là: nước mũi chảy ra; đà là có ý chảy dầm dề; thích nghĩa là lo hung; ta nghĩa là than thở).

PHỤ CHÚ: Chữ ta ở hào Ngũ với chữ ta ở hào Tam tuy nghĩa đen in nhau, nhưng ta ở hào Tam là một hạng người mê mẩn tâm thần mà thở than, Ta ở hào Ngũ lại một hạng người tri cơ úy cụ mà thở than.

Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, li vương công dã.

象曰: 六五之吉, 離王公也.

Lục Ngũ sở dĩ được cát, bởi vì cách sở lệ của Ngũ xứng được Vương công vậy.

6. Thượng Cửu: Vương dụng xuất chinh, hữu gia, chiết thủ, hoạch phi kì xú, vô cựu. 上九: 王用出征, 有嘉, 折首, 獲匪其醜, 無咎.

Thượng Cửu ở trên cùng Nhị thể trùng minh, mà lại bản chất dương cương, chính là cương minh đến cực điểm, có đức minh thời hay soi dọi, có đức cương thời hay quyết đoán.

Vương giả nên dụng tài cương minh ấy để đi trừng ác trừ tà mà ra làm việc chinh phạt, thời tất có công tốt đẹp.

Tuy nhiên, vì cương minh quá, sợ có khi dựa vào cách tàn bạo nên lại phải uy cho vừa đắc trung, hình cho vừa đúng tội, không nên quá tay, khi ra đánh giặc dẹp loạn, chỉ bắt lấy những tay khôi thủ mà thôi (Chiết thủ: chỉ bắt những anh đầu bầy). Còn như những phe tụi nó, chẳng qua là bị hiếp tùng thời ta chẳng bắt buộc nó làm gì (Hoạch: bắt sống đƣợc; xú: loài tụi). Như thế thời vô cựu.

Tượng viết: Vương dụng xuất chinh, dĩ chính bang dã.

象曰: 王用出征, 以正邦也.

Vương giả dụng lấy tài đức Thượng Cửu: để xuất chinh, cốt để trì ác cho thiên hạ, chính lí được bang quốc là thôi. Chinh, nguyên có nghĩa là chính.

Mạnh Tử có câu: Chinh chi vi ngôn chính dã 征之為言正也, nghĩa là: Chinh được những hạng người bất chính ấy là chính.

Từ đây sắp lên, cộng ba mươi quẻ là dịch xong Chu Dịch Thượng Kinh.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

ẤU HỌC NGŨ NGÔN THI

CHU TỬ TRỊ GIA CÁCH NGÔN

TRIỆU UY HẬU VẤN TỀ SỨ