PHAN BỘI CHÂU CHU DỊCH HẠ KINH 2
41. QUẺ SƠN TRẠCH TỔN
Cấn trên; Đoái dưới
Quẻ này là quẻ Sơn Trạch Tổn. Đoài hạ cũng là Nội Đoài, Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn sơn, Đoài trạch, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Trạch Tổn.
TỰ QUÁI
Tự quái: Giải giả hoãn giả, hoãn tất hữu sở thất, cố thụ chi dĩ Tổn.
序卦: 解者緩也, 緩必有所失, 故受之以损.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Giải tiếp lấy quẻ Tổn là vì cớ sao?
Bởi vì trên ấy là quẻ Giải. Giải nghĩa là khoan nới; thường tình người đời hễ khi nguy cấp thường hay lo lắng, đã hay lo lắng thời khỏi thiệt hại, đến khi đã khoan nới thường quên lo, quên lo thời chắc có thiệt hại nên sau quẻ Giải tiếp lấy quẻ Tổn. Tổn, có nghĩa là thiệt hại, cũng có nghĩa là giảm bớt. Ý nghĩa tên quẻ thời Soán Truyện, Tượng Truyện đã thích kĩ rồi. Ở đây không cần phải thích.
PHỤ CHÚ: Quẻ này nguyên là quẻ Thái, Nội Càn biến hào Tam mà thành ra Đoài, Ngoại Khôn biến hào Thượng mà thành ra Cấn. Thế là nguyên quẻ Địa Thiên Thái, biến hai hào mà thành Sơn Trạch Tổn. Bớt hào dương ở dưới mà thêm vào trên, ở dưới tuy tổn mà trên thời được ích, cớ sao không đặt tên quẻ bằng Ích mà lại đặt tên bằng Tổn, đó thiệt là ý tứ rất hay.
Bởi vì ở trên muốn cao, tất phải dưới cho dày, trên vững nhờ dưới làm nền. Ví như đắp tường hay xây tháp, muốn tường tháp được vững, tất phải dưới nền cho dày và rộng thời tường tháp mới đứng yên,
Bây giờ khoét đất ở dưới, đưa đắp lên trên thời nền hỏng mà tường tháp phải đổ ngay. Thế thời tổn dưới ích trên là việc rất nguy hiểm nên đặt tên quẻ bằng Tổn. Hễ thời đại đã đến Tổn thời nền tảng Thái đã hỏng rồi, đó là thâm ý của thánh nhân đặt tên quẻ.
SOÁN TỪ
Tổn, hữu phu, nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng. Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng.
损有孚, 元吉, 無咎, 可貞, 利有攸往. 曷之用, 二蒉可用亨.
Tổn, hữu phu, nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng.
Theo như tượng quẻ Tổn bớt hạ Đoài mà thêm vào Thượng Cấn, bớt nét dương ở dưới mà thêm cho nét âm ở trên, có tượng là bớt của người dưới mà thêm cho người trên, bớt của phía trong mà thêm cho phía ngoài, bóc lột của dân, thêm vào cho vua quan, chỉ là tượng xấu mà thôi, nhưng Quái từ không lấy bằng tượng quẻ mà chỉ lấy nghĩa bằng tên quẻ, tên quẻ là Tổn, Tổn là giảm bớt.
Đạo lí trong thiên hạ, hễ việc gì thái quá thời phải giảm bớt cho vừa đắc trung, chỉ cốt cho đúng việc nên tổn mà tổn.
Tỉ như: Dụng độ thời bớt xa xỉ, uy quyền thời bớt lạm dụng, hình luật thời bớt hà khắc, v.v. Tổn mà được như thế thời càng tổn càng hay, nhưng trong khi giảm bớt, tất xuất ở chí thành, tất phải thuận với đạo lí mà cho được thập phần tốt lành. Lại tất phải xử trí cho đắc nghi mà không lầm lỗi. Nếu tổn mà được như thế thời có thể kiên cố mà giữ lấy hoài hoài mà lại tấn hành việc gì cũng tiện lị.
Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng.
Trên đây đã nói những việc tổn sở đương tổn, nhưng chỉ nói về đạo lí chung. Bây giờ trích cử lấy một việc trong thì Tổn khiến cho chúng ta suy rộng ra để làm các việc ở thì Tổn, nên Quái từ lại nói nghĩa trong thì Tổn nên dùng bằng thế nào.
Tỉ như: Lễ cúng hưởng yến tế chỉ cốt ở thành tín cung kính mà chẳng cần gì nhiều vật phẩm lắm. Vì thành kính tới nơi mà lễ nghi quá giản, dầu chỉ đơn bạc có nhị quỉ cũng cảm cách được quỷ thần, dùng làm việc hưởng tự như thế cũng tốt, đó là theo về thì nghĩa ở thì Tổn, chỉ nên như thế; cái đã nên tổn mà tổn thời dầu ít cũng chẳng ngại gì.
Soán viết: Tổn, tổn hạ ích thượng, kì đạo thượng hành. Tổn nhi hữu phu nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng. Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng, nhị quỷ ứng hữu thì, tổn ích nhu hữu thì. Tổn ích dinh hư, dữ thì giai hành.
彖曰: 损, 损下益上, 其道上行. 损而有孚, 元吉, 无咎, 可貞, 利有攸往. 曷之用, 二蒉可用亨,
二蒉應有時, 損剛益柔有時. 损益盈虛, 與時偕行.
Soán viết: Tổn, tổn hạ ích thượng, kì đạo thượng hành.
Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng quẻ Tổn là vì tượng quẻ Nội Quái nguyên là Càn, Ngoại Quái nguyên là Khôn; bây giờ bớt hào Tam Càn hạ mà đem lên thêm cho hào Thượng Khôn thượng. Thế là bớt dưới mà thêm cho trên, đạo ấy chỉ làm ích phía trên.
Tổn nhi hữu phu nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng.
Tổn mà lấy chí thành làm những công việc đáng tổn mà lại nguyên cát, vô cựu, khả trinh thời lị hữu du vãng. Nguyên cát nghĩa là làm cho hoàn thiện; vô cựu nghĩa là làm cho khỏi lầm lỗi; khả trinh nghĩa là làm cho thường hợp với lẽ chính, như thế thời tổn mà cũng có công hiệu, cũng là làm lị ích cho thì Tổn đó vậy.
Hạt chi dụng, nhị quỉ khả dụng hưởng, nhị quỷ ứng hữu thì, tổn cương ích nhu, hữu thì.
Trên Quái từ có nói rằng: Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng, ý nghĩa của Văn Vương là bảo cho người ta ở thì Tổn nên giảm bớt về phần văn sức mà dày thêm về phần bản chất, nhưng Đức Khổng Tử còn sợ người ta nhận lầm rằng nhất thiết văn sức dầu thì nào cũng phải bỏ, như thế thời trái với đạo Dịch nên lại nói cho rõ thêm rằng:
Hễ việc trong thiên hạ, vô bản thời bất lập, vô văn thời bất hành, văn sức có phải khi nào cũng bỏ được đâu, chỉ duy ở về thì Tổn thời văn đã thắng chất, phấn sức quá nhiều mà thành thực quá ít, ứng dụng thuộc về thì ấy phải bớt hư văn, dầu giản đơn chỉ có nhị quỉ cũng đã thích dụng, ứng dụng theo thì Tổn như thế là hay. Chẳng những văn sức có thì nên tổn mà thôi, còn suy ra cho hết đạo lí, tuy cương vẫn nên nhiều hơn nhu, nhưng đến lúc cương đã thái quá mà nhu thời bất cập, muốn cho cương, nhu vừa thích hợp với nhau, tất phải theo thì mà bớt phần cương để thêm vào phần nhu, đó cũng là cứu thì, có thì phải nên như thế.
Tổn ích dinh hư, dữ thì giai hành.
Nói tóm lại, vừa đúng với nhịp phải, lả gọi bằng thì, thì nên tổn mà tổn, thì nên ích mà ích, thì nên dinh mà dinh, thì nên hư mà hư, chỉ duy theo ở nơi thì mà lựa cách làm việc cho rập với thì, hễ đã thái quá thời phải bớt, hễ còn bất cập thời phải thêm, hễ còn kém hụt thời phải khiến cho đầy, hễ đã quá bành trướng thời nên khiến cho lưng. Bốn lẽ ấy, phải theo thì mà làm cho đúng.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Sơn hạ hữu trạch, Tổn. Quân tử, dĩ trừng phẫn trất dục.
象曰: 善下有澤, 損. 君子以懲忿, 窒欲.
Quẻ này ở dưới Cấn sơn có Đoài trạch, tượng là khoét ở bề dưới mà thêm vào phía trên cao, trạch sâu chừng nào, sơn càng thêm cao chừng ấy, nhưng lâu ngày thời chân núi phải hỏng, chân đã hỏng, tất núi phải trúc đổ. Thế là tượng quẻ Tổn. Quân tử xem tượng ấy nên nghĩ một cách tổn trong mình.
Trong mình mà nên tổn là những cái gì? Là phẫn với dục. phẫn nghĩa là hăng giận bằng khí huyết; dục nghĩa là ham muốn bằng tư tình. Người đương khi khí huyết vừa hăng lên, tất nhiên khi phẫn nộ không đúng với đạo lí, muốn cho giảm bớt cái giận, tất phải dùng bằng cách trừng. Trừng nghĩa là dằn ép khí giận xuống cho nó khỏi vùng lên nên nói rằng trừng phẫn.
Muốn cho bớt tư dục, tất phải dùng một cách bằng trất. Trất, nghĩa là đương khi tình dục mới động phải lo dằn lấp cái hạng dục không cho nó lù ra nên nói rằng trất dục.
Nói tóm lại, phẫn và dục là hai bệnh rất lớn trong mình; chữ trừng, chữ trất là phương thuốc rất hay để chữa bệnh ấy.
Phẫn nghĩa là giận, vì người có tính ố mới sinh ra giận. Dục nghĩa là muốn, vì người có tình ái mới sinh ra dục; ái, ố không phải tuyệt đối xấu, nhưng ái, ố mà đúng với thiên lí thời ái, ố đắc chính nên ố mà ố, không phải phẫn; nên áì mà ái, không phải dục; chỉ duy ái, ố mà xuất ở tư tình, hoặc vì khí huyết bậy mà sinh ra, cái không nên ghét mà ghét, ghét sinh ra phẫn, cái không nên yêu mà yêu, yêu sinh ra dục, muốn tổn hết những bệnh ấy, tất phải trừng phẫn, trất dục.
Tuy nhiên, trong hai điều đó, trừng phẫn có dễ hơn trất dục, bởi vì phẫn nộ thường hay phát lộ ra bề ngoài, nếu những người có tính ôn hòa, có khí cương quyết thời trừng phẫn không khó lắm. Duy tình dục là đầm ngấm ở bề trong, chính là nhân tâm duy nguy, nêu không phải thấu lí rất tinh, dụng công chuyên nhất thời chưa dễ trất được dục đâu. Xưa thầy Nhan tuy có lúc giận mà không giận lây đến ai, tuy có lầm lỗi mà chẳng lầm lỗi đến hai lần, Đức Khổng Tử thấy thế mà khen làm hiếu học. Chúng ta phải biết trừng phẫn trất dục tất phải học vấn thấu đáo như thầy Nhan, mới có thế làm tới nơi.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Dĩ sự suyền vãng, vô cựu, chước tổn chi.
初九: 已事, 遄往, 無咎, 酌損之.
Ở về thì Tổn, chính là thì tổn hạ ích thượng, tổn cương ích nhu. Sơ là dương cương mà thượng ứng với Tứ, Tứ là âm nhu mà cẩu ích với Sơ.
Theo nghĩa thì Tổn thời Sơ nên giúp lị ích cho Tứ, nên nói rằng: Dĩ sự suyền vãng (Dĩ sự nghĩa là nghĩ việc của mình, suyền nghĩa là lanh chóng; suyền vãng nghĩa là gấp đi lên), nghĩ việc của mình mà đi lên giùm giúp cho Tứ theo nghĩa vụ của Sơ, như thế mới không tội lỗi.
Tuy nhiên, địa vị bậc dưới mà làm ích cho người trên, người trên ích quá nhiều thời mình cũng chịu tổn quá nặng, nên phải cân lường châm chước, lựa những việc đáng bớt của mình mà làm ích cho Tứ. Tuy không nên bất cập mà cũng chẳng nên thái quá, nên nói rằng: Chước tổn chi (Chước: cân nhắc, châm chước, cũng có ý đong lường).
Tượng viết: Dĩ sự suyền vãng, thượng hợp chí dã.
象曰: 已事 遄往, 尚合志也.
Thượng nghĩa là trên, không phải thượng là chuộng. Sơ Cửu, nghĩa là phải làm cho Lục Tứ nên phải nghĩ việc mình mà gấp qua, bởi vì ở về thì Tổn, có như thế mới hợp được chí người trên vậy.
2. Cửu Nhị: Lị trinh, chinh, hung, phất tổn, ích chi.
九二: 利貞, 征凶, 弗损, 益之.
Cửu Nhị có đức cương trung, nhưng ở vào thì tổn cương ích nhu, vả Nhị chính ứng với Lục Ngũ là âm nhu bất chính. Người ở trên mình là bất chính, lại xử vào thì tổn hạ ích thượng, chắc Ngũ thường lấy những việc mà cầu Nhị ích cho.
Nếu Nhị không biết tự trọng mà giữ lấy đức cương của mình làm những cách nhu duyệt bất chính để giúp cho Ngũ, như thế thời tổn hại đức mình mà cũng chẳng ích gì đến Ngũ, nên thánh nhân răn rằng: Cửu Nhị ơi! Nhị nếu muốn làm ích cho Ngũ thời nên biết rằng: Quân tử yêu người thường lấy đức. Nhị chỉ nên lấy đức cương của Cửu Nhị, nếu không thế, Ngũ cầu Nhị làm điều bất chính mà Nhị đi ngay, tất nhiên xấu hung (Chinh nghĩa là bỏ đức cương trung của mình mà chịu Ngũ, như thế tất nhiên hung).
Tuy nhiên, Nhị giữ lấy đức trinh đó há phải không làm ích cho Ngũ đâu, hễ mình đã chính kỉ tất nhiên người cũng phải chính. Nhị không tổn hại đức cương của mình, tức là làm ích cho Ngũ đó vậy. Phất tổn mà nói ích chi cũng như nói: Bất ích chi ích.
Tượng viết: Cửu Nhi lị trinh, trung dĩ vi chí dã.
象曰: 九二利貞, 中以為志也.
Hào Cửu Nhị mà lị ư trinh vì Nhị đã sẵn cương trung thời nên cố chí giữ đức ấy, nghĩa là: Chí để nơi cương trung; trinh nghĩa là chính, nhưng Tượng Truyện lại chú trọng bằng chữ trung, bởi vì trung quý trọng hơn chính; đã được trung tức là chính, nếu chính mà thôi thời chưa chắc đã trung. Vậy nên lấy chữ trung bao chữ chính.
3. Lục Tam: Tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành, tắc đắc kì hữu.
六三: 三人行則损一人, 一人作則得其友.
Nguyên lẽ trong trời đất, lí là giống vô hình, đến hữu hình mới thành ra số, muôn việc thảy ở số mà sinh ra, nguyên ở số chỉ có nhất với nhất đối đãi với nhau, vì nhất tương đối với nhất mới thành ra nhị, đến nhị là vừa khéo, tức là lí nhất âm, nhất dương chi vị đạo trong Dịch.
Hễ đã đến tam thời không nhất âm thừa thời cũng nhất dương thừa, đã thừa tất phải bớt nên nói rằng: Ba người đi thời trừ hai người tương đối ra, dư một người, tất phải bớt người ấy đi mới đúng nguyên số; một người đi là còn thiếu một người, trái với lẽ tương đối, tất phải thêm vào một người cho đúng lẽ tương đối, thời một người kia tất nhiên được bạn.
Bởi vì nguyên lí trong vũ trụ chỉ có tương đối mà không gì tuyệt đối, có tương đối mớỉ vừa cân với nhau. Nếu có giống gì tuyệt đối thời cái giống đó thừa ra, thừa tất phải tổn. Tỉ như quân quyền đã tuyệt đối cao tất nhiên phải có dân quyền để tương đối. Bởi vì quân quyền thừa, tất phải bớt.
Lại giả như, thần quyền đã tuyệt đối trọng, tất phải có nhân quyền tương đối; khi đã có nhân quyền thời thần quyền thừa ra, thừa tất phải bớt; suy rộng ra đến vạn sự vạn vật, chỉ có nhất với nhất đối đãi cân nhau, đến nhị là vừa, nếu dư một cái mà thành ra tam tất nhiên phải tổn.
Hào từ ở đây chỉ mượn tượng quẻ, ba dương thảy đi thời bớt một nét dương là Cửu Tam: ba âm đểu đi thời bớt một nét âm là Thượng Lục, như thế là tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân. Một hào Tam đi lên, một hào Thượng đi xuống, hai hào tương đắc mà thành ra quẻ Tổn. Sơ tương đắc với Tứ, Nhị tương đắc với Ngũ, Tam tương đắc với Thượng, tổng chi là nhất tương đắc với nhất, như thế là nhất nhân hành tắc đắc kì hữu.
Chỉ theo thể quẻ mà nói, tuy có ngần ấy lời nhưng đạo lí bao hàm thiệt rộng. Vậy nên tiên thánh sư thích Hệ tử ở hào này rất kĩ. Hệ tử nói rằng: Trời với đất chỉ nhất âm, nhất dương, giao cảm với nhau mà vạn vật nhờ đó hóa thuần; nam với nữ chỉ một vợ, một chồng giao cấu tinh khí với nhau mà vạn vật nhờ đó hóa sinh.
Hào từ Dịch rằng: Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kì hữu, là nói lẽ phải trong trời đất chỉ chuyên chú vào nhất với nhất mà thôi. Nhân huân là có ý giao cảm thân mật. Thiên địa chỉ nói bằng khí âm khí dương. Hóa thuần nghĩa là tạo hóa ra các loài, loài gì cũng đậm đà, dày dặn. Chữ nam, chữ nữ đây chỉ nói bằng âm, dương, tức như trống mái, đực cái, v.v. thảy gọi bằng nam, nữ. Cấu nghĩa là kết hợp; tinh nghĩa là tinh khí; hóa sanh nghĩa là sanh nở biến hóa mãi mãi. Tục Nhật Bản gọi gà mái bằng chim gái, gà trống bằng chim trai, chính đúng với nghĩa nam, nữ ở đây.
PHỤ CHÚ: Hai chữ "trí nhất", chúng ta nên nhận ý nghĩa cho ra. Bởi vì nguyên thỉ trong vũ trụ, chỉ có một chữ zêrô mà bắt đầu thành ra có số. Số đầu tiên là nhất, đặt số nhất trên zêrô thành mười, cứ tiến lên mãi thành trăm, ngàn, vạn, ức triệu, v.v. cũng chỉ thấy ở trên mấy zêrô là số nhất, đó mới biết được nguyên lí trong vũ trụ chỉ có cái nhất, nhưng mà đã có sinh tất có thành nên lại phải có nhất nữa để tương đối với nhất, nhất tương đối với nhất thành ra nhị, đến nhị là bao bọc hết công dụng trong vũ trụ.
Tuy nói cho đến những giống phức tạp tẳn mẳn, vạn trạng thiên hình, nhưng rút cùng chỉ nhất với nhất, đó vậy. Tỉ như: Nhất âm nhất dương, nhất thiện nhất ác, nhất hùng nhất thư, nhất tẫn nhất đậu, có giống gì tránh khỏi nhất với nhất tương đối đâu, nên Kinh văn mới có hai chữ "trí nhất", theo về đạo lí vẫn là trí nhất mà kể về làm việc lại nên trí nhất lắm.
Vô luận học thuật, văn nghệ và thực nghiệp, công tác, hễ đã làm việc gì tất phải trí nhất việc ấy, nếu không trí nhất thời không làm nên. Người xưa có câu: Lòng mình không dùng hai ngả. Lại có câu: Đạo lí không hai đường phải. Lại có câu: Hễ các giống không giống nào hai bên lớn địch nhau, tất thảy là lẽ trí nhất đó vậy.
Tượng viết: Nhất nhân hành, tam tắc nghi dã.
象曰: 一人行, 三則疑也.
Hễ nhất nhân hành thời chỉ thêm vào nhất nhân nữa là vừa tương đắc, nếu ở ngoài hai người đó mà lại thêm vào một người nữa thế là tam, thời tất nhiên bên nào cũng nghi cả.
Bây giờ thiết ra một cách thí dụ cho minh bạch, chữ nhân chớ câu nệ nhân là người, ta bỏ lơ chữ nhân mà chỉ nói chữ nhất và chữ tam mà thôi. Lệ như: Chú Giáp và anh Ất cặp nhau mà đi, tất nhiên Giáp phải chuyên tâm vào Ất mà Ất cũng chuyên tâm vào Giáp; nếu đột nhiên thêm Bính vào nữa thời vì trước kia đã có Ất với Giáp rồi, bây giờ Bính biết chuyên tâm với ai, chẳng phải là nghi hay sao? Vả lại, Giáp hay Ất thấy Bính chắp vào, tất anh nào cũng phải chia lòng vào Bính mà cái lòng chuyên nhất ở lúc xưa nhân đó mà sinh ra hồ hoặc, chẳng phải là nghi hay sao?
Vậy nên, nhỏ từ nhất vật, nhất sự, lớn đến nhất đảng, nhất phái, nhất chủ nghĩa, không bao giờ tránh khỏi nhất tắc đắc nên nói rằng: Nhất nhân hành, tắc đắc kì hữu. Đọc Kinh văn thảy nên chú ý như thế, chớ nên câu nệ ở nơi mặt chữ mà bỏ mất thâm ý của thánh nhân.
4. Lục Tứ: Tổn kì vật, sử suyền, hứu hỉ, vô cựu.
六四: 損其疾, 使遄有喜, 元吉, 無咎.
Chữ suyền ở đây với chữ suyền ở hào Sơ tương ứng; Sơ với Tứ là bạn tương ứng, nhưng Sơ có đức dương cương mà ở dưới, Tứ có bệnh âm nhu mà ở trên, xử vào thì tổn hạ ích thượng, tất nhiên Sơ phải làm ích cho Tứ, vả lại Tứ cũng phải cầu ích với Sơ.
Sơ muốn làm ích cho Tứ thời nên thế nào?
Chỉ duy bớt tật âm nhu của Tứ mà lấy đức dương cương của mình giúp cho Tứ khiến Tứ chóng trừ được tật ám nhu. Như thế thời hữu hỉ mà lại vô cựu. Hỉ là mừng cho Tứ được mau thôi bệnh; tật là nết xấu bằng âm nhu; suyền nghĩa là lanh chóng, chữ "suyền vãng" ở hào Sơ nghĩa là phải đi lên mau giúp cho Tứ. Chữ "sử suyền" ở hào Tứ là khiến cho Tứ mau thôi bệnh, đồng một chữ mà công dụng khác nhau.
Tượng viết: Tổn kì tật, diệc khả hỉ dã.
象曰: 损其疾, 亦可喜也.
Tứ sẵn có tật, vẫn không lấy gì đáng mừng, nhưng vì Sơ làm ích mà giảm được bệnh cho mình thời hai bên thảy đáng mừng đó vậy. Sở dĩ có chữ diệc, nghĩa là chẳng những người bớt được bệnh mừng đã đành mà người chữa lành được bệnh cho người cũng lấy làm mừng vậy.
5. Lục Ngũ: Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, nguyên cát.
六五: 或益之十朋之龜, 弗克違, 元吉.
Lục Ngũ có đức nhu trung, ở được vị nguyên thủ, lại có bạn chính ứng là Cửu Nhị; Nhị có đức cương trung làm ích cho Ngũ mà Ngũ cũng hết lòng thuận tòng với Nhị. Ở vào thì tổn hạ ích thượng mà cương, nhu tương đắc như thế thời thiên hạ ai chẳng vui làm ích cho mình.
Thí dụ như có con rùa thiêng nặng tới mười bằng mà thình lình có người đưa tới làm ích cho mình mà mình không thể từ chối, thụ ích bằng một cách rất tự nhiên mà lại rất to lớn, thế là bao nhiêu cái ích của thiên hạ, thảy làm ích cho mình, chắc được tốt lành to lớn vậy. Hoặc ích chi nghĩa là thình lình có người đưa đến làm ích cho.
Bằng là một tên con số ở đời xưa, hai bối thời gọi một bằng mười bằng, thời chu vi lớn đến hai nghìn một trăm sáu mươi thước. Thập bằng chi quy là tỉ dụ việc ích cực kì lớn. Vi nghĩa là từ chối. Phất khắc vi nghĩa là không thể từ chối được. Làm ích đến mười bằng là việc rất lớn mà mình không thể từ chối được nên nói rằng: Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi. Thập bằng chi quy chỉ nói việc thụ ích rất lớn là được, không cần phải nói con rùa lớn làm gì.
PHỤ CHÚ: Theo về nghĩa quẻ thời tổn hạ ích thượng vẫn là xấu, có gì là tốt đâu, nhưng theo nghĩa hào thời cương trung với nhu trung, đủ hai đức ấy mà ngồi chịu thiên hạ đem ích đến cho chính là tốt lớn nhất trong thì Tổn, nên trong sáu hào, duy hào Ngũ được nguyên cát, đó chính là nghĩa tùy thì biến dịch trong Dịch.
Tượng viết: Lục Ngũ nguyên cát, tự thượng hựu dã.
象曰: 六五元吉, 自上祐也
Hào này sở dĩ được nguyên cát vì có đức nhu trung nên thu thập được lòng người, lòng người đã quy hướng vào thời lòng trời cũng phải bênh vực, cái nguyên cát đó là lòng trời giúp cho đó vậy. (Thượng, nghĩa là thượng thiên).
6. Thượng Cửu: Phất tổn ích chi, vô cựu, trinh cát, lị hữu du vãng đắc thần vô gia.
上九: 弗损, 益之, 無咎, 貞吉, 利肴攸往, 得臣無彖
Hào này ở trên hết quẻ Tổn, đương thì ích thượng, mà Thượng Cửu lại ở trên hết, tất nhiên thụ ích được quá nhiều, ích quá nhiều tất nhiên đầy, đầy tất nhiên đổ nên thánh nhân mới dạy rằng: Thượng Cửu ơi! Thượng ở vào cuối cùng thì Tổn, lại ở trên hết người ta, Tổn cực tất nhiên phải biến, chịu ích quá nhiều, tất phải lo đền giả.
Thượng Cửu nên lấy đức dương cương của mình mà tùy thì thiện xử, bỏ những việc làm tổn người mà lo những việc làm ích cho người. Như thế thời không tội lỗi, lại được chính vừa lành, ở về cuối cùng thì Tổn mà biết làm lị ích cho người, ấy là hợp với nghĩa biến thông mà lại rất đúng với đạo nhân thượng, chắc thiên hạ ai nấy cũng phục tòng, nếu có tấn hành những việc gì, hay có đi ở chốn nào chỉ thấy được lòng quy phụ mà thôi, té ra nước đó là nhà của mình.
Đắc thần là được lòng người thần phục; vô gia nghĩa là không cần nhà mình riêng mới là nhà; đắc thần vô gia tương tự câu hóa gia vi quốc, có ý là mất hẳn giới hạn nhà với nước.
Tượng viết: Phất tổn, ích chi, đại đắc chí dã.
象曰: 弗损, 益之, 大得志也.
Người ở trên hết chúng nhân mà không chịu làm việc tổn nhân, chỉ lo làm việc ích nhân, chí nguyện của quân tử đến lúc bây giờ mới thỏa thích lớn. Bởi vì quân tử không bao giờ muốn làm tổn người, chỉ duy làm lị ích cho người, ích bao nhiêu thời lòng người được vui vẻ bấy nhiêu nên nói rằng: “Đại đắc chí đã”. Chữ đắc ở đây, chính là "lạc dĩ thiên hạ", thiên hạ vui thời mình mới vui, đó là chí của quân tử.
PHỤ CHÚ: Bàn tóm hết cả quẻ Tổn, nguyên chữ Tổn có ba nghĩa: Một, nghĩa là tổn kỉ, như hào Sơ tổn kỉ mà ích cho Tứ, hào Tam tổn nhất mà thêm cho Thượng; một nghĩa là tổn nhân, như tượng quẻ, tổn kẻ dưới mà ích cho kẻ trên; một nghĩa nữa là tổn điều xấu mà ích điều lành, như ở Tượng Truyện nói trừng phẫn trất dục; ở Cửu Nhị nói lị trinh, ở Lục Tứ nói tổn kì tật, thảy là thuộc về nghĩa ấy.
Duy đến hào Thượng Cửu thời tổn đã cùng cực rồi nên biến nghĩa tổn làm ra nghĩa ích, nên Hào từ nói phất tổn, ích chi, nhưng bốn chữ phất tổn ích chi ở Thượng Cửu với Cửu Nhị văn tuy đồng mà nghĩa khác nhau xa, hào Cửu Nhị thời bảo giữ đức mình mà không tổn là vừa đủ làm ích cho người, đến như Thượng Cửu thời bảo chớ tổn người mà chỉ lo làm ích cho người.
Tóm xem cả sáu hào, vẫn ở chung trong một thì Tổn, nhưng vì nghĩa Tổn khác nhau mà cách làm Tổn cũng khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau, đó là vì tạo nhân bất đồng thời kết quả cũng bất đồng. Nếu bảo ràng tổn chỉ là tổn mà không ích gì trong thì Tổn thời thánh nhân còn tác Dịch làm gì.
42. QUẺ PHONG LÔI ÍCH
Tốn trên; Chấn dưới
Quẻ này là quẻ Phong Lôi Ích. Chấn hạ cũng là Nội Chấn, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn phong, Chấn lôi, nên tên quẻ đọc bằng Phong Lôi ích.
TỰ QUÁI
Tự quái:
Tổn nhi bất dĩ, tất ích, cố thụ chi dĩ Ích.
序卦: 损而不已, 必益, 故受之以益.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tổn tiếp lấy quẻ Ích là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Tổn, tổn ích thịnh suy là như cái vòng xây tròn, Tổn đã cùng cực tất nhiên phải ích. Vậy nên sau quẻ Tổn tiếp lấy quẻ Ích.
Theo về tượng quẻ, Tổn là phong, Chấn là lôi, lôi với phong là hai giống làm ích cho nhau. Gió mạnh thời sấm càng hung, sấm choảng thời gió càng dữ, gió sấm phụ ích cho nhau nên gọi bằng Ích.
Còn theo về nghĩa quẻ bớt hào dương ở quẻ trên, thêm cho hào âm ở dưới, quẻ trên nguyên là quẻ Càn, bớt một hào dương thành ra Tốn; quẻ dưới nguyên là quẻ Khôn, thêm vào một hào dương thành ra Chấn, thế là bớt của kẻ trên, thêm cho người dưới đã dày thời trên thêm vững nên đặt tên quẻ bằng Ích.
SOÁN TỪ
Ích, lị hữu du vãng, lị thiệp đại xuyên.
益, 利有攸往, 利涉大川.
Ở về thời đại Ích là công dụng cốt làm lị ích cho thiên hạ, thiên hạ thảy đã được thụ ích cả thời việc gì to lớn chắc cũng làm xong, dầu có gian nan nguy hiểm gì, chắc cũng cứu vớt được lanh chóng.
Nói tóm lại, vô luận quốc gia nào, xã hội nào, muốn làm nên công việc lớn, muốn tiêu trừ được hoạn nạn lớn, tất trước phải hết sức làm những việc lị ích chung. Tức như mở mang đường kinh tế cho lị khắp nhân dân, mở rộng đường giáo dục cho phổ cập xã hội, thảy là việc tổn thượng ích hạ, lúc bấy giờ hữu du vãng hay thiệp đại xuyên, thảy kết quả được viên mãn.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng há hạ, kì đạo đại quang, lị hữu du vãng, trung chính hữu khánh, lị thiệp đại xuyên, mộc đạo nãi hành. Ích động nhi tốn, nhật tiến vô cương, thiên thí địa sanh, kì ích vô phương, phàm ích chi đạo, dữ thì giai hành.
彖曰: 益, 损上益下, 民説無疆, 自上下下, 其道大光, 利有攸往, 中正有慶, 利涉大川, 木道乃 行.
益動而巽, 日進無疆, 天施地生, 其益無方, 凡益之道, 與時偕行.
Soán viết: Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng há hạ, kỉ đạo đại quang.
Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng quẻ Ích là theo thể quẻ với đức quẻ mà đặt ra. Nguyên lí của vũ trụ ba nét dương ở trên làm Càn là trời, ba nét âm ở dưới làm Khôn là đất, bây giờ bớt hào dương quẻ trên mà ích cho hai hào âm ở quẻ dưới, tất nhiên dân tình hòa thỏa, vui vẻ không biết chừng nào.
Tự mình là địa vị trên, chịu lún mình khuất phục với kẻ dưới thời đạo của mình càng rõ rệt hung. Bôn câu này là tóm thích nghĩa chữ Ích.
PHỤ CHÚ: Tổn hạ ích thượng thời thượng vẫn được ích, cớ sao tên quẻ gọi bằng Tổn; tổn thượng ích hạ thời kẻ trên vẫn có phần tổn, cớ sao tên quẻ gọi bằng Ích, chẳng phải là vu khoát viển vông lắm hay sao?
Ôi! Lí thuyết đến thế, thiệt là đúng lắm, đúng lắm. Xưa Lão Tử nói rằng: Muốn sang tất lấy người hèn làm gốc, muốn cao tất lấy đám thấp làm nền. Vậy nên xem lấy phía trước thời phía trên phải lung lay, thế là Tổn hạ thời kết quả kẻ trên cũng phải tổn; ích hạ thời kẻ trên cũng được ích, trên chỉ lo làm ích cho mình, té ra dưới bị tổn mà mình cũng chịu tổn nên đặt tên quẻ bằng Tổn. Trái lại, trên chỉ biết lo làm ích cho dưới thời dưới đã thụ ích mà cuối cùng mình cũng thụ ích nên đặt tên quẻ bằng Ích, chỉ xem ở hai chữ tên quẻ mà đạo lí vạn cổ bất dịch. Xem ở Soán Truyện đây thích nghĩa lại càng minh bạch lắm, há phải vu khoát rư?
Xưa Đường Huyền Tông làm vua nước Trung Hoa nói rằng: Hình dáng ta tuy gầy, nhưng có thể thiên hạ tất béo, chính là đúng câu Tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương đó vậy.
Lị hữu du vãng, trung chính hữu khánh.
Quái từ nói lị hữu du vãng là vì trong quẻ hào Ngũ có đức dương cương, trung chính, hào Nhị lại thấy đức trung chính mà ứng với Ngũ, đó là lấy đạo trung chính làm ích cho thiên hạ mà thiên hạ được nhờ phúc khánh đó vậy.
Lị thiệp đại xuyên, mộc đạo nãi hành.
Quái từ sở dĩ nói rằng lị thiệp đại xuyên, nghĩa là đã ở thời đại Ích, có đến lúc nguy hiểm gian nan, mới tỏ rõ ra một cách tấn hành thuận lí, trên mặt chữ đáng nói Ích đạo, nhưng vì tượng quẻ, Chấn, Tốn thảy có tượng mộc, mộc làm được thuyền tàu là đồ dùng thiệp đại xuyên nên nói rằng: Mộc đạo nãi hành.
PHỤ CHÚ: Hiệu quả của ích hạ nếu ở lúc bình thường vô sự thời ích còn nhỏ nhen, duy đến lúc hiểm trở gian nan, mới thấy được ích rất lớn.
Xưa Mạnh Thường Quân làm thủ tướng nước Tề, phát nợ cho dân huyện Triết vay, kể có hàng mấy vạn, đến khi sai người đi thâu tiền lại, khách là Phùng Hoan xin lĩnh khoán đi thu. Lúc ra đi, hỏi Mạnh Thường Quân rằng: Tớ thu được nợ thời nên mua gì đem về? Mạnh Thường Quân bảo rằng: Anh cứ xem trong nhà ta cái gì không sẵn, tùy ý anh liệu mua. Phùng Hoan ra đi, mang giấy khế nợ đầy một xe, vừa tới huyện Triết, thấy dân huyện gặp năm mất mùa đói kém, sinh kế tiêu điều, Phùng Hoan tức thì nhóm dân huyện mà nói rằng: Quan thủ tướng bảo ta ra đây là cốt để ý thăm dân tình, chở không phải cốt ra đòi nợ đâu. Bây giờ dân tình khốn khổ thế này, ta thể lòng thủ tướng, tha ráo nợ cho dân, lập tức đốt bao nhiêu khế ước ở trước mặt dân. Phùng Hoan rũ hai tay trắng về phục mệnh với Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân hỏi rằng: Sao anh về tay không chứ? Phùng Hoan thưa rằng: Tôi thấy dân huyện đói khổ quá nên khế ước tôi đốt ráo, vả xem trong nhà Ngài, bao nhiêu đồ sang vật lạ sẵn thấy thừa cả rồi, duy có một giống còn thiếu là giống nghĩa, tôi mua giống nghĩa ấy đem về hiến Ngài. Mạnh Thường Quân có ý không bằng lòng, nhưng cũng mặc nhiên mời Phùng Hoan ra nhà khách.
Chẳng bao lâu, Tề Vương mất, vua con tức vị, các quý thích đại thần, thảy ghét thế lực Mạnh Thường Quân, dèm với vua, kể hết những việc xấu của Mạnh Thường Quân, vua giận lắm, cách chức thủ tướng, hạ lệnh đuổi Mạnh Thường Quân không được ở kinh đô nữa. Mạnh Thường Quân kinh hoàng e tính mạng khó toàn. Phùng Hoan vào bàn với Mạnh Thường Quân gấp gấp trở về huyện Triết. Mạnh Thường Quân nghe lời, nửa đêm thình lình lùa xe ngựa chạy mau về huyện Triết, tới địa giới chính vừa nửa ngày, dân huyện biết nghe Mạnh Thường Quân về, già trẻ trai gái đổ ra hết để đón xe Mạnh Thường Quân, xúm nhau trước ngựa và hô lớn lên rằng: Cha huyện ta đã về, hai bên xe dân bọc có hàng mấy vạn. Mạnh Thường Quân ngó lại nói với Phùng Hoan rằng: Ngày nay tôi mới biết cái lị mà tiên sinh mua nghĩa hữu hiệu lớn như thế. Vua Tề nghe việc ấy, sợ Mạnh Thường Quân quá đắc nhân tâm mà e có ngày làm phản chăng, lập tức mời Mạnh Thường Quân trở về nước, phục vị thủ tướng như xưa, lại nghiêm trách những bọn lúc xưa dèm Mạnh.
Chúng ta thử xem việc ấy, mới biết Tổn thượng ích hạ mà lị thiệp đại xuyên chẳng phải là lời nói suông đâu.
Ích động nhi tốn, nhật tấn vô cương.
Ở vào thì Ích mà làm công việc ích, tất phải động như Chấn, tính thuận như Tốn, hễ động làm việc gì, tất thuận với đạo lí, thuận với thời thế thời những công việc ích ngày càng tiến lên mãi mà không chừng mực.
Thiên thí địa sanh, kì ích vô phương.
Bây giờ lại nói đạo ích cho được thiệt rộng, ích trong thiên hạ có gì lớn hơn công trời đất, vì rằng trời lấy khí dương làm ích cho đất cũng là bớt trên làm ích cho dưới, đất lại nhờ ơn trời mà sinh dục được vạn vật, vạn vật lại nhờ phần ích đó rộng lớn mênh mông, không thể hạn định được phương hướng nào.
Vô phương, nghĩa là không có hạn lượng, cũng như chữ vô cương, chỉ là hình dung ý quang đại.
Phàm ích chi đạo, dữ thì giai hành.
Đây lại nói tóm hết nghĩa quẻ Ích, hễ những đạo làm được cho ích, thiên địa cũng vậy, thánh nhân cũng vậy, vẫn không thì nào mà không làm việc ích, nhưng mà cái phương pháp làm cho nên ích, cái đường lối lên cho tới ích, cũng phải rập với thì mà cặp nhau đi làm đúng với thì tức là ích làm trái với thì tức là vô ích.
Tỉ như: đương mùa cày cấy mà bảo dân đi làm đường, đương mùa bão lụt mà bảo dân đi đào sông, đương hồi tật dịch mà cấp đồ ăn uống cho dân, dân đương lúc đói khổ mà cưỡng bách giáo dục cho dân, há phải không làm ích đâu, nhưng vì trái với thì thời chẳng những đã vô ích mà lại tổn nữa kia.
PHỤ CHÚ:
Ở vào thì Tổn là tổn hạ ích thượng, ở vào thì Ích là tổn thượng ích hạ, nhưng mà Soán Truyện thảy có câu: Dữ thì giai hành, chữ thì ở hai quẻ rất có thú vị. Lí vẫn nhất định mà thì không nhất định. Thì có thường, có biến mà đạo lí nhân đó mà có kinh, có quyền.
Tổn hạ vẫn không phải là hay, nhưng gặp khi quyền biến cũng phải tùy thì mà tổn hạ. Tỉ như trong nước gặp lúc binh trận, mộ của dân giúp cho chính phủ, chẳng phải là tổn hạ hay sao, nhưng chẳng qua tạm thì mà thôi. Vì thì đáng tổn mà tổn là thuộc về nghĩa quyền biến. Còn như thì đáng ích mà ích thời tổn thượng ích hạ, chính là đạo kinh thường, dầu thì nào cũng phải như thế. Thánh nhân sợ ta không hiểu nghĩa ấy, vậy nên trong hai quẻ, chung có một chữ thì.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Phong Lôi Ích, quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải.
象曰: 風雨益, 君子以見善則遷, 有過則改.
Phong, lôi hợp nhau lại mà giúp thêm thế lực cho nhau, ấy là tượng quẻ Ích, quân tử xem ở tượng ấy mà cầu việc ích ở nơi tu thân. Hễ mình thấy được việc lành mà mình chưa làm tới thời phải gấp gấp xê xích cho tới nơi chốn lành. Hễ mình biết được mình có những điểu gì lầm lỗi, phải gấp gấp sửa đổi ngay, hai câu ấy, nói tắt thời chỉ có bổn chữ: Dời mình vào sự lành là thiên thiện; chữa đổi sự lầm lỗi là cải quá.
Thiên thiện, cải quá là việc ích to lớn nhất trong thân mà tinh thần lại ở một chữ tắc, chữ tắc có hàm ý nhanh chóng và quả quyết, nhưng cải quá lại khó hơn thiên thiện. Thiên thiện, tỉ dụ như: Việc gì mình làm chưa được thiệt khéo, thấy người ta khéo hơn, mình lo nhích lên cho khéo bằng người; cải quá, tỉ dụ như: Mình có cái vết đen bây giờ mình cố mài đánh cho hóa trắng, nên công phu cải quá tất phải hết sức dũng cảm, mới làm được xong.
PHỤ CHÚ: Thánh nhân làm Dịch cốt khiến cho chúng ta đúc nên nhân cách, mà muốn đúc nên nhân cách thời chỉ xem Tượng Truyện ở hai quẻ Tổn, Ích là công việc hoàn toàn rồi. Trừng phẫn, trất dục là công phu tổn lớn nhất trong mình, Thiên thiện cải quá là công phu ích lớn nhất trong mình, chúng ta nếu làm được công phu ấy thời nhân cách đã thập phần cao thượng, suy rộng ra mà làm việc quốc gia xã hội chắc cũng đúng với đạo Tổn, Ích, nhưng chỉ tám chữ mà công phu thiệt khó hoàn toàn, ai học Dịch xin thể nhận cho kĩ.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Lị dụng vi đại tác, nguyên cát, vô cựu.
初九: 利用為大作, 元吉, 無咎.
Sơ Cửu có đức dương cương, lại làm chủ cho Nội Quái là có thể chấn động được. Vả lại, ở vào thì Ích, ở trên có bạn chính ứng với mình là Lục Tứ, Tứ ở ngôi tôn lại sẵn lòng làm ích cho Sơ, như thế là một người có tài lại gặp thì, gặp chủ, tuy nhiên địa vị còn thấp, không thể tự mình hữu vi được.
Nhưng người trên đã tín dụng mình mà ích với mình, há lẽ ngồi không mà chẳng làm việc báo hiếu rư, tất nhiên phải hết sức đem tài dương cương của mình chia vai với Tứ mà làm việc đại ích cho thiên hạ, nhưng hiềm Sơ là người ở dưới mà đỡ lấy gánh quá to, e có lúc đổ bể chăng, nên lại cần phải có đởm đại, tâm tiểu, hạnh phương trí viên, thủ đoạn cho thiệt khôn khéo, kế hoạch cho được hoàn toàn, những việc mình sở vi cầu cho được hoàn thiện, nguyên cát, tất như thế, mới được vô cựu.
Chữ nguyên cát đây không phải nói bằng kết quả, chỉ có nghĩa là làm cho được tốt lành. Thế thời nguyên cát chỉ là tạo nhân mà vô cựu mới là kết quả.
Tượng viết: Nguyên cát, vô cựu, hạ bất hậu sự dã.
象曰: 元吉無咎, 下不厚事也.
Nguyên cát, vô cựu, nghĩa là làm cho được rất phải mới khỏi tội lỗi. Hào từ như thế là răn cho Sơ Cửu, bởi vì Sơ Cửu là địa vị còn ở dưới thấp, không nên gánh lấy những việc nặng lớn vậy.
Hậu nghĩa là to lớn nặng nề làm kẻ dưới mà dám gánh việc to, nếu không nguyên cát thời làm sao được vô cựu.
2. Lục Nhị: Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, vĩnh trinh cát, vương dụng hưởng vu đế, cát.
六二: 或益之十朋之龜, 弗克違, 永貞, 吉, 王用亨于帝, 吉.
Lục Nhị âm nhu xử vào vị trung chính, bản thể lại nhu thuận; trung chính mà lại nhu thuận, nhân cách như thế, ở vào thì Ích hạ, chắc người trên ích cho rất nhiều, e có người đem cái ích thiệt to mà trao cho mình mà mình không thể từ chối được, được ích to lớn như thế vẫn không gì là xấu, nhưng còn sợ Lục Nhị âm nhu hoặc vì quá mềm mà có lúc thay đổi, nếu đổi đức trung chính thời còn ai làm ích cho nên lại răn cho rằng: Phải thường lâu dài trình độ, giữ chặt đức trung chính thời mới được cát.
Nhị mà quả nhiên được vĩnh trinh thời đem lòng thành kính trung trực mà cầu ích với trời, chắc trời cũng vui giúp cho, huống gì người nữa rư?
Nên lại thiết lời giả phỏng mà nói rằng: Vương dụng hưởng vu đế, cát, nghĩa là: Giả như Nhị mà làm đến vương thời đức trung chính đó dùng lên tế thần, Thượng đế, thần cũng hưởng cho mà được phúc cát.
Thích tóm lại, hoặc ích chi, thập bằng chi quy, phất khắc vi cũng in như Lục Ngũ quẻ Tổn. Xem nghĩa trên kia thích đã đủ hiểu.
Vĩnh trinh, cát là lời cảnh giới, nhị vương dụng hưởng vu đế, cát là lời giả thiết, ý như nói rằng: Có đức trung chính mà lại vĩnh trinh thời chẳng những người ích cho mà trời cũng làm ích cho nữa vậy.
Tượng viết: Hoặc ích chi, tự ngoại lai dã.
象曰: 或益之, 自外來也.
Tư cách một người đã trung chính, lại vĩnh trinh, như hào Lục Nhị tất nhiên người ích cho rất nhiều, bao nhiêu việc ích rặt là tự ngoài đưa đến cho mình, nên nói hoặc ích chi, tự ngoại lai dã. Chữ Hoặc là có ý nói không nhất dinh người nào. Ngoại là chỉ ở Ngoại Quái, người ở phía trên.
3. Lục Tam: Ích chi, dụng hung sự, vô cựu, hữu phu trung hành, cáo công dụng khuê.
六三: 益之, 用凶事, 無咎, 有孚, 中行, 告公用圭.
Hào này bản chất đã âm nhu mà lại bất trung, bất chính, nhân cách như thế, vẫn không đáng được ích, nhưng vì ở về thì Ích, nhờ hoàn cảnh đó làm lị ích cho Tam, mà Tam cũng đương được một phần thụ ích.
Theo về bản chất của Tam nên ích cho Tam một cách lấy họa làm phúc, gieo thân vào vòng hoạn nạn, thử sắt lấy than, thử vàng lấy đá, khiến cho anh đổi lòng sửa nết, thành ra một người có giá trị trong đời, như thế, gọi bằng ích chi, dụng hung sự; dụng hung sự nghĩa là dùng những việc răn đe trừng trị.
Dùng những việc răn đe trừng trị, mà làm ích cho Tam, Tam cũng nhờ được những việc làm ích cho mình nên Tam động tâm nhẫn tính, tăng ích những việc sở bất năng, mà không đến tội lỗi.
Tuy nhiên, bản chất Tam nguyên không được tốt, nếu miễn cưỡng vi thiện, chỉ yểm sức ở mặt ngoài thời cũng không ra gì, nên Hào từ răn rằng: Tam đã nhờ được hung sự mà làm ích cho mình rồi thời Tam phải hết sức chân thành, cực đoan tu tỉnh làm sao cho đúng với đạo trung.
Nếu đi suốt đường lối ấy, kết quả tất lòng thành tín thông đạt đến người bậc trên mình mà mình thụ ích hoài hoài.
Câu này giả thiết bằng một việc dùng ngọc khuê cáo với vương công, khuê là một thứ ngọc trắng mà trong. Cáo công dụng khuê là ý thông đạt lòng thành lên bậc trên, vì ở vào thì Ích là thế tổn thượng ích hạ, nếu Tam đã hữu phu, trung hành, tất nhiên được lòng người trên mà người trên vui lòng làm ích cho, cũng ví như dùng ngọc khuê cáo với công mà công vui lòng nhận vậy.
Tượng viết: Ích chi, dụng hung sự, cố hữu chi dã.
象曰: 益之, 用凶事, 固有之也.
Ích dụng hung sự là cốt muốn cho Tam thể lấy tấm lòng kẻ ích cho mình mà giữ lấy lòng trung chính cho bền vững.
Hai chữ cố hữu có ý ngậm bốn chữ hữu phu trung hành. Rằng: Hữu phu thời là thiệt lòng không dối. Rằng: Trung hành thời cân kéo chuông chỉnh không chếch lệch đổ bể, như thế, mới là cố hữu chi.
PHỤ CHÚ: Năm chữ ích chi, dụng hung sự, dầu mới đọc qua thiệt là khó hiểu, hung sự là việc xấu, cớ sao lại nói ích chi?
Chúng ta nghĩ cho thiệt kĩ, mới biết là rất hay. Nguyên lai, tính người ai cũng có thể làm việc lành làm được việc lành tất nhiên được phúc, được phúc tất nhiên là thụ ích, nhưng khí chất người ta có trí, ngu, minh, ám khác nhau thời cách làm ích cho người có khác nhau. Nếu gặp lấy người ngu ám như Lục Tam mà lại làm ích cho những việc bình thường, thuận thản, chắc nó lại kiêu dâm thủ họa, chẳng phải là yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau hay sao?
Vậy nên, muốn làm ích cho nó, tất phải dụng hung sự, hung sự là những việc khốn khó gay go. Tục ngữ ta có câu: "Thương con cho đòn”. Lại người xưa có câu: "Thuốc độc đắng miệng”, nhưng lị ở thôi bệnh.
Dịch đến Hào từ này lại nhớ đến lời thầy Mạnh và thầy Trương. Thầy Mạnh nói rằng: Trời toan trao sự nghiệp lớn cho người nào, tất trước làm khổ mệt tâm chí, đau mỏi xương gân, đói rét thân thể; nó toan làm việc gì thời bắt buộc cho trái lòng nó là cố khiến cho phát động những lòng lành, nín nhịn những tính xấu, mà những việc nó không hay làm được càng ngày càng tăng ích lên. Cố thiên tương giáng đại nhậm ư thị nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngã kỳ thể phu, không phạp kỳ thân, hành phật loạn kỳ sở vi, sở dĩ động tâm nhẫn tính, tăng ích kỳ sở bất năng. 故天將降大任於是人也, 必先苦其心志, 勞其筋 骨, 餓其體膚,空乏其身,行拂亂其所為; 所以動 心忍性, 曾益其所不能 Động tâm nghĩa là cảm động được lương tâm. Nhẫn tính nghĩa là nín nhịn tính xấu. Thầy Trương có nói: Nghèo hèn khốn khổ, trải bao những cảnh gay go, chính là trời báu quý mày, rèn luyện mày làm cho mày nên tư cách một con người.
Hai chữ ngọc thành đó chính là ích chi bần tiện ưu thích, tức là hung sự, lấy ưu thích bần tiện để ngọc thành cho mày, tức là ích chi, dụng hung sự, tham hợp với câu nói thầy Mạnh. Giáng đại nhậm là việc ích rất lớn mà trước phải bắt cho khốn tâm hành lự, chẳng phải dụng hung sự hay sao?
Nghĩa hào Lục Tam này chớ đọc qua mà bảo là khó hiểu.
4. Lục Tứ: Trung hành, cáo công tòng, lị dụng vi y thiên quốc.
六四: 中行, 告公從, 利用為依, 遷國.
Hào này ở về thì Ích mà lại ở quẻ trên, chính là trách nhậm phải ích cho dưới. Vả lại, địa vị mình, tuy không phải nguyên thủ của một nước nhưng thân cận với nguyên thủ thời trách nhậm lại càng nặng hung, mà hiềm vì Tứ âm nhu lại kém đức trung nên Hào từ mới dạy cho rằng: Địa vị Tứ đã quá cao, trách nhậm Tứ lại quá nặng, thời bao nhiêu việc ích hạ thì ích, chẳng Tứ ghé vai mà ai nữa.
Tứ phải hết sức sắp đặt sửa sang làm những việc gì tất phải hợp với trung đạo, giữa bản thân Tứ đã hoàn toàn được chữ trung thời chẳng những người dưới tin mà người trên cũng tín nhậm, cáo với vương công mà vương công cũng tin theo.
Tuy ở về thì ích hạ cần phải làm ích cho nước, vẫn chẳng phải dung dị đâu, nhưng cứ theo một lối trung hành, dầu việc lớn lao như việc dời quốc đô cũng có thể lị dụng đạo trung của Tứ làm một tay nương tựa mà cất nổi việc ấy. Thiên quốc nghĩa là đời quốc đô từ xứ này qua xứ khác. Như sử ta, vua Lê Thái Tổ, nghe lời Lê Chích mà thiên đô vào Nghệ An, Trần Đế gặp nạn Mông Cổ mà thiên đô vào Thanh Hóa. Lị dụng vi y thiên quốc ý nói việc Dầu to lớn như thế cũng làm nổi, thời việc nhỏ không cần phải nói, ý Kinh không phải hạn định một việc thiên quốc mà thôi đâu.
Tượng viết: Cáo công tòng, dĩ ích chí dã.
象曰: 告公從, 以益志也.
Đem tâm sự cáo với công mà công nghe theo là vì tâm chí mình chỉ cốt làm lị ích cho thiên hạ mà thôi. Ích chí phải cắt nghĩa ngược, nghĩa là chí mình chỉ ở nơi làm ích cho thiên hạ.
5. Cửu Ngũ: Hữu phu, huệ tâm, vật vấn, nguyên cát hữu phu, huệ ngã đức.
九五: 有孚, 惠心, 勿問, 元吉, 有孚, 惠我德.
Cửu Ngũ có tài dương cương, có đức trung chính mà địa vị sơ xử lại là quốc trưởng, địa vị ấy mà người tài đức ấy ở vào thời lòng sốt sắng làm lị ích cho người, thiệt là xuất ở chí thành mà không giả dối nên nói hữu phu, huệ tâm. Hữu phu, huệ tâm nghĩa là có lòng chí thành làm ơn đức. Phu là chí thành; huệ là ơn đức. Ngũ đã có lòng phu huệ, thành tắc trứ, trứ tắc minh, chắc là một người rất lành, chẳng cần hỏi cũng biết là nguyên cát. Tòng lai, lẽ trong thiên hạ, tự mình lấy chí thành cảm động người, tất nhiên người cũng lấy chí thành thân yêu mình. Lúc bây giờ trong thiên hạ ai cũng tin ngưỡng vào đức Ngũ làm ơn cho mình. Hai chữ phu huệ trên là chỉ vào bản thân Ngũ, hai chữ phu huệ dưới là chỉ vào những hạng yêu mến Ngũ; chữ ngã là chỉ vào những người nhờ Ngũ làm ích cho; chữ huệ trên, chữ huệ dưới chiếu ứng với nhau. Huệ tâm là tâm của bản thân Ngũ; huệ ngã đức là đức của Ngũ làm ơn cho các hạng người, chữ hữu phu thời nói chung cả hai bên xuất ở chí thành. Nói về phần Ngũ thời là không giả dối, nói về bên người thụ ích thời là không nghi ngờ.
Tượng viết: Hữu phu, huệ tâm, vật vấn chi hĩ, huệ ngã đức, đại đắc chí dã.
象曰: 有孚, 惠心, 勿問之矣. 惠我德, 大得志也.
Lòng thành huệ ích cho người mà đã xuất ở chí thành thời còn gì phải nghi vấn nữa. Huệ ngã đức là đức mình làm ơn cho mọi người mà người tín ngưỡng, như thế là ý chí của Ngũ được thỏa thích lắm vậy.
Câu huệ ngã đức vẫn hứng đỡ câu trên nên không cần thêm chữ hữu phu. Giả sử, huệ ngã đức mà không phải hữu phu thời lấy gì đại đắc chí được.
Hễ đọc Kinh văn nên hiểu ý ấy.
PHỤ CHÚ: Câu đại đắc chí ở Thương Cửu quẻ Tổn với Cửu Ngũ quẻ Ích văn tuy đồng nhau mà ý nghĩa khác nhau. Thượng Cửu quẻ Tổn sở dĩ đắc chí là vì ở thì Tổn mà được việc làm ích hạ nên quân tử cho là đắc chí vậy. Cửu Ngũ quẻ Ích sở dĩ đắc chí là vì ở thì Ích mà được làm ích cho tất thảy loài người nên quân tử càng đắc chí lắm.
Người xưa có nói rằng: Chí của người đời có ba hạng: một là chí ở phú quý là hạng thấp nhất, cũng gọi bằng hạ lưu; hai là chí ở công danh là bậc cao hơn, cũng gọi bằng trung cửu. Duy một hạng chí ở đạo đức mới là người cao tột mực, mới gọi bằng thượng cửu. Nhưng mà đạo đức cực điểm, tất phải phù trì tất thảy nhân loại, che chở hết thảy đồng bào, như thế thời chí đạo đức của mình, mới thập phần như nguyện. Tâm sự hào Thượng quẻ Tổn và hào Ngũ quẻ Ích thảy như thế, vậy nên Tượng Truyện chung một câu: Đại đắc chí dã.
6. Thượng Cửu: Mạc ích chi hoặc kích chi, lập tâm vật hằng, hung.
上九: 莫益之, 或擊之, 立新勿恆, 凶.
Hào này có tính dương cương mà ở hào cuối cùng quẻ Ích là ích đến cùng cực nên lòng tham cầu ích càng không mực không chừng. Đức Khổng có câu: Người mà cứ nhè vào đường lợi mà đi thời tất nhiên người oán. Thầy Mạnh cũng có nói: Nếu cứ mục đích ở làm lị mà không nghĩ đến nghĩa thời không cướp hẳn không chán. Tính cương như Thượng Cửu mà lại tham ích quá chừng, tất nhiên ai cũng ghét, còn ai chịu làm ích cho mình, chẳng những không ai làm ích cho mà thôi, e lại có kẻ choảng cho Thượng nữa.
Vì sao nên thế? Bởi người ở đời quý nhất là hằng tâm, bây giờ thượng lập tâm đã bất hằng, tất mang lấy xấu (Hằng tâm nghĩa là người có lòng thường tốt luôn luôn).
Hào từ này, Hệ tử thích nghĩa rất kỹ mà ý tứ rất bao la, xin biên dịch dưới đây:
Hệ tử nói rằng: Quân tử trong đời, đối phó với hoàn cảnh, chỉ cần thiết có ba điều: Một là cách hành động; hai là lời nói phô; ba là lời yêu cầu. Ba điều đó vẫn chung một mục đích, nhưng muốn cho mục đích tới nơi, tất trước phải có chương trình, phương châm. Chương trình và phương châm thời như thế nào, tất phải như ba câu sau này:
Làm sao cho thân mình được an ổn mà sau mới hành động, Làm sao cho lòng mình được thản dị êm đềm mà sau mới nói phô. Làm sao cho giao tình được cố kết chắc chắn mà sau mới yêu cầu.
An kỳ thân nhi hậu động, dị kỳ tâm nhi hậu ngữ, định kỳ giao nhi hậu cầu.
安其身而後動 , 易其心而後語, 定其交而後求.
Quân tử vì tu tập ba điều ấy nên được hoàn toàn. Nếu thân mình còn xử vào cảnh nguy hiểm mà vội hành động, tất nhiên dân không tin theo. Nêu trong lòng mình còn nấp cái cơ sợ hãi mà đã vội nói phô thời tất nhiên dân không hưởng ứng, không có giây dao động kết cho thân mật mà đã vội yêu cầu thời tất nhiên dân không bênh vực. Đã không ai biểu đồng tình với mình thời những kẻ làm hại mình tới ngay.
Thân chẳng an mà động, ấy là táo động, tâm chẳng dị mà ngữ, ấy là vọng ngữ, giao chẳng định mà cầu, ấy là si cầu; đủ cả táo, vọng, si chính là hạng người vô hằng tâm, còn có ai thương tới mình đâu, nên Dịch nói rằng: Mạc ích chi, hoặc kích chi, lập tâm vật hằng, hung. Chữ nguy phản đối với chữ an, chữ cụ phản đối với chữ dị, chữ vô giao phản đối với chữ định. Trong ba câu ấy rất khó hiểu là câu: Dị kì tâm, nhi hậu ngữ. Ngữ là có ý như giảng diễn khuyên dạy, cốt tác dụng bằng khẩu thiệt, cớ sao thánh nhân bảo cho dị kì tâm. Chữ dị là có ý bằng phản hòa dị.
Bởi vì lấy ngôn ngữ cảm nhân là việc đã rất thiển cận. Vậy nên ở khi trước chưa nói phô tất phải chứa sẵn một tấm lòng hòa bình thản dị, khiến cho người ta tin mình ở trước khi nói. Trái lại, trong tâm mình còn nấp một cái cơ nguy hiểm, hoặc hở một cái mui khuynh trắc, thời trước khi nói mà dân đã hoài nghi rồi, còn lấy gì cảm động được dân nữa rư? Xem câu: Cụ dĩ ngữ tắc dân bất ứng thời càng hiểu lắm.
Tượng viết: Mạc ích chi, thiên từ dã, hoặc kích chi, tự ngoại lai dã.
象曰: 莫益之, 偏辭也, 或擊之, 自外來也.
Đạo lí là cốt ở chí công, không thể thiên về phía nào, múi lị là của chung cả công chúng, không thể thiên về một phe nào, nếu không tấm lòng công ích mà chỉ thiên về lị kỉ thời những lời lẽ nhả ra rặt là thiên từ (Thiên: mếch; từ: lời lẽ). Lời lẽ mà chỉ ra mếch về phía mình thời tất nhiên người ghét mà ai chịu làm ích cho, vả lại, những người ở ngoài còn xúm nhau lại đánh nữa kìa.
PHỤ CHÚ: Quẻ Tổn và quẻ Ích, chỉ theo về nghĩa tên quẻ thời Tổn là xấu mà Ích là tốt, nhưng Hào từ Thượng Cửu quẻ Tổn rất tổt, Hào từ Thượng Cửu quẻ Ích lại rất xấu, chúng ta xem tới đó thời biết được Dịch đạo là biến hóa vô cùng, ở vào thì tổn hạ ích thượng mà đến hào Thượng Cửu là tổn chi cực thời quay lại lấy tự tổn ích hạ làm tốt nên nói rằng phất tổn ích chi, đó là biết tổn đã cực mà quay buồm chiều gió nên được cát lị.
Ở vào thì tổn thượng ích hạ nhưng đến hào Thượng Cửu thời lại lấy việc cầu ích làm xấu, bởi vì thì Ích đã cực, há lẽ cứ cầu ích hoài, vì Thượng Cửu không biết thì nghĩa ấy mà cứ gạn nước chẳng trừ cợn. Vậy nên mặc lấy hung.
Mới biết rằng: Tổn cùng thời biến, phải chịu tổn mình mà rước lấy ích; ích cùng thời biến, chớ nên quá cầu ích mà mang lấy Tổn. Kinh Thư có câu: Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích, nghĩa là, tràn đầy tất nhiên bị đổ mà mang lấy tổn. Khiêm hư thời nhiều người giúp mà thụ được ích. Xem gương ở hai hào Thượng Cửu quẻ Tổn, quẻ Ích sẽ biết đạo lí ấy rất đúng.
43. QUẺ TRẠCH THIÊN QUẢI
Đoái trên; Kiền dưới
Quẻ này là quẻ Trạch Thiên Quải. Càn hạ cũng là Nội Càn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài.
Đoài trạch, Càn thiên, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Thiên Quải.
TỰ QUÁI
Tự quái: Ích chi bất dĩ, tất quyết, cố thụ chi dĩ Quải, Quải giả quyết dã.
序卦: 益之不已, 必决, 故受之以夬, 夬者决也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Ích tiếp lấy quẻ Quải là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Ích, ích đã đến lúc cực, tất nhiên tràn đầy, đầy tất phải nứt vữa nên sau quẻ Ích, tiếp lấy quẻ Quải.
Chữ Quải có hai nghĩa: Một nghĩa, Quải là quyết liệt, cũng có ý là rách vữa; lại một nghĩa, Quải là hội quyết, có ý là nẻ toác.
Theo về tượng quẻ, Càn là trời, Đoài là nước chằm, nước chằm lên cao tột trời, tất nhiên nứt vữa khắp nơi.
Lại theo về thể quẻ, năm dương ở dưới, một âm ở trên, năm dương hùa nhau, dùng thủ đoạn cương quyết mà trừ khử một âm, tượng là một bầy quân tử, quyết khử một đứa tiểu nhân, gồm hai nghĩa ấy mà đặt tên bằng quẻ Quải.
SOÁN TỪ
Quải, dương vu vương đình, phu hiệu hữu lệ, cáo tư ấp, bất lị tức nhung, lị hữu du vãng.
夬, 揚于王庭, 孚號有厲. 告自邑, 不利即戎, 利有鈦往.
Chữ Quải đây, nghĩa là cương quyết. Quẻ này là quẻ dương thịnh âm suy, quân tử thịnh, tiểu nhân suy, vẫn là thì rất tốt, nhưng vì nhất âm ở hào Thượng, chính là đảng tiểu nhân còn chưa trừ hết, quân tử ở lúc bây giờ nghĩ cách trừ ác, phải trừ cho tận gốc thời đối với tụi tiểu nhân nên tuyên tội ác chúng nó ra trước mặt công chúng, lấy một cách chí thành mà phát hiệu lệnh.
Dương nghĩa là tuyên bố minh bạch. Vương đình tức là công triều, một chốn hội họp công chúng. Dương vu vương đình là thanh minh tội ác nó để trừng trị nó. Hiệu là lời xuất mệnh lệnh. Phu hiệu nghĩa là lấy thành tín phát mệnh lệnh; đó là những cách dự bị mà trừ cho hết những món tiểu nhân.
Tuy nhiên, sự lí trong thiên hạ, rất vô thường là cơ họa phúc, rất bất trắc là mưu tiểu nhân nên Soán từ lại răn cho rằng: Phe quân tử tuy thịnh, nhưng chớ nên kiêu, phe tiểu nhân tuy suy, nhưng chớ nên khinh nó; phe quân tử tất phải thường thường có lòng lo sợ mà tính một cách vạn toàn.
Vậy nên Quái từ nói rằng: Hữu lệ, nghĩa là có ý nguy cụ, cốt mong cho quân tử thường phòng bị tiểu nhân.
Tòng lai, trị lũ tiểu nhân in như đánh một toán giặc, toan khỏi thế công với nó trước phải lo giữ thế thủ giữa mình nên lại có lời răn: Cáo tự ấp, bất lị tức nhung, nghĩa là trước lo tự trị trong mình cho hoàn thiện mà lại không nên chuyên dùng võ lực. Tự ấp nghĩa là ấp riêng của mình, dạy cho ấp riêng mình là trước lo tự trị khiến cho tiểu nhân không chốn gián khích mà lọt vào. Tức nhung nghĩa là chuyên dùng võ lực. Bất lị tức nhung là muốn tiểu nhân an lòng quy phục; cũng như câu trong Binh Thư: Giặc đã cùng khốn thời chớ nên đuổi dài.
Mấy câu dạy như trên là dạy cho một cách hiệu thì phòng bị.
Nhưng mà tà đảng chưa hết, tiền đồ còn dài thời những việc tấn hành về tương lai càng nên làm sao cho sự nghiệp của quân tử mỗi ngày mỗi tấn tới.
PHỤ CHÚ: Năm dương khử một âm, năm quân tử khử một tiểu nhân, đáng lẽ là rất dễ mà Quái từ lại có ý rất gay go. Ở trên, quẻ Bác, năm tiểu nhân khử một quân tử, thánh nhân đã hết sức lo cho quân tử. Bây giờ quẻ Quải, năm quân tử khử một tiểu nhân mà thánh nhân lại răn đe cho quân tử, ý tứ Dịch thâm thúy biết đến chừng nào!
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Quải, quyết dã, cương quyết nhu dã, kiện nhi duyệt, quyết nhi hòa. Dương vu vương đình, nhu thừa ngũ cương dã. Phu hiệu hữu lệ, kì nguy nãi quang dã. Cáo tự ấp, bất lị tức nhung, sở thượng nãi cùng dã. Lị hữu du vãng, cương trưởng nãi chung dã.
彖曰: 夬決也, 剛決柔也; 健而說, 決而和. 揚于王庭, 柔承五刚也. 孚號有厲, 其危乃光也. 告 自邑不利即戎,
所尚乃窮也. 利有攸往, 剛長乃終也.
Soán viết: Quải quyết dã, cương quyết nhu dã, kiện nhi duyệt, quyết nhi hòa.
Quải, nghĩa là quyết. Đường đê vữa mà nước tràn ra, ta thường nói rằng: Đề quyết, chính là nghĩa đây.
Quẻ này năm hào cương quyết một hào nhu, nên nói rằng: Quải. Theo như thể quẻ, Nội Càn là kiện, Ngoại Đoài là duyệt; thời biết được đạo Quải không phải quá ở cương. Vẫn cương kiện, nhưng mà êm đềm, vẫn quả quyết, nhưng mà hòa thuận.
Dương vu vương đình, nhu thừa ngũ cương dã.
Sở dĩ phải tuyên bố tội tiểu nhân ở nơi vương đình là vì rằng một nhu mà cưỡi trên năm cương, thiệt quá nghịch lí, tội tiểu nhân như thế phải tuyên bố cho chúng nhân biết mới xong.
Phu hiệu hữu lệ, kì nguy nãi quang dã.
Sở dĩ phu hiệu hữu lệ, vì rằng phe quân tử phải để lòng phòng bị nguy cụ thời đạo mình mới quang đại được vậy.
Cáo tự ấp, bất lị tức nhung, sở thượng nãi cùng dã.
Vì sao mà lại chỉ cáo tự ấp, không nên chuyên thượng uy vũ?
Vì rằng phương pháp trị tiểu nhân không phải chuyên thượng một mặt uy vũ mà trị được. Nếu chuyên thượng uy vũ e có lúc cùng vậy. Chữ sở là đại danh từ là hứng lấy chữ tức nhung.
Lị hữu du vãng, cương trưởng nãi chung dã.
Dương đã thịnh trưởng đến năm hào, âm chỉ còn một hào thời phe quân tử gấp lo tấn hành cho riết, bao giờ toàn một nước thảy là quân tử, cũng in như một hào âm biến hóa ra Thuần Càn, mới là dương cương thịnh trưởng đạt ư cực điểm.
Chữ chung như nghĩa chữ hoàn thành.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Trạch thượng ư thiên, Quải. Quân tử dĩ thí lộc cập hạ, cư đức tắc kỉ.
象曰: 澤上於天, 夬. 君子以施祿及下, 居德則忌.
Nước chằm mà lên đến tột trời là tượng quẻ Quải. Nước đã lên tột cao, thế tất hội quyết khắp mỗi nơi, quân tử xem tượng ấy mà lo phòng bị đến lúc hội quyết, sợ tài tụ mà đến nỗi dân tán nên bố thí các thức lị lộc cho vạn dân. Sợ quên sự đề phòng mà gây ra sự hậu hoạn nên an xử vào nền đạo đức mà lại trong lòng thường kiêng kị.
Cư đức nghĩa là lấy đạo đức làm chốn an ở, cũng như nghĩa cư nhân 居仁 ở sách Mạnh Tử, chữ tắc đây như nghĩa chữ nhi; chữ kị đây cũng như nghĩa chữ kị đạn 忌憚 ở sách Trung Dung, nghĩa là kiêng sợ. Yên ở bằng đạo đức mà trong lòng kiêng sợ, như thế thời tránh khỏi họa hội quyết.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cựu.
初九: 壯于前趾, 往不勝, 為咎.
Chỉ là ngón chân; tiền chỉ là ngón chân bước lên trước.
Hào này ở dưới hết quẻ Quải, vì tính dương hằng tấn nên thủ tượng bằng tiền chỉ.
Tráng vu tiền chỉ nghĩa là hăng mạnh ở tiến hành, ở về thì Quảì mà hăng lên theo bạn quần dương để đánh nhất âm, cũng là bổn phận mình đáng làm, nhưng mà địa vị còn ở dưới thấp mà tính chất lại quá hăng nên thánh nhân răn cho rằng: Sơ vị thấp sức hèn mà cố tiến liều, sợ không cất nổi gánh là tội lỗi đó.
PHỤ CHÚ: Vãng bất thắng là vì theo địa vị Sơ mà nói, địa vị ti thấp mà muốn làm công việc quá to nên thánh nhân phải răn cho như thế. Nếu theo về toàn thể quẻ thời năm dương đánh một âm, có lẽ gì mà bất thắng, sở dĩ bất thắng là lỗi chỉ chuyên trách ở Sơ. Thế thời Sơ nên dường nào? Tất nên nuôi sức chờ thì, xem gương tứ dương ở trên, nhắm cơ hội đã tất thắng thời ta tấn lên, chắc được vô cựu.
Tượng viết: Bất thắng nhi vãng, cựu dã.
象曰: 不勝而往, 咎也.
Sức mình chưa chắc thắng mà cứ tiến, lên, tất nhiên có tội lỗi vậy.
PHỤ CHÚ: Binh Thư
có câu rằng: Hễ cách cầm quân đánh giặc, tính toán cách đánh được trước khi ra
đi, như thế thời chắc được; ra đi ở trước khi tính cách được, như thế thời chắc
phải thua 勝 在往先者, 勝. 往在勝先者, 敗.
Tức như sử nước ta, ở triều Tây Sơn, vua Quang Trung nghe giặc Mãn Thanh vào Hà Nội, ngài sắp sẵn kế hoạch trước, khiến người mang biểu ra cầu hàng với Mãn Thanh, để cho giặc sinh lòng kiêu, rồi liền chia năm đạo quân xuất kì bất ý, trực bức Long Thành, đuổi sạch mười lăm vạn quân Mãn Thanh, đó là thắng tại vãng tiên giả thắng.
Lại như nước Xiêm La, đương lúc vua Gia Long cầu viện, vội vàng khinh địch, kéo hơn mười lăm vạn binh xuống tận đất Cao Man, toan cướp Nam Kì, chẳng dè bị vua Quang Trung kéo qua từ Bắc Thành vào thẳng Nam Kì, đánh truột lên Cao Man, chỉ một trận mà quân Xiêm đổ như lá rụng, đó là vãng tại thắng tiên giả phụ.
Huống hồ bất thắng nhi vãng, còn làm gì được nên việc rư? Trên Hào từ chỉ nói vãng bất thắng là trách lỗi ở sau lúc vãng.
Tượng Truyện nói đảo lại, bất thắng nhi vãng là khuyên cho phải tính toán ở trước khi vãng. Nếu chưa nghĩ đến bất thắng mà vội vàng thời làm gì thắng được. Đó chinh là nhân vô viễn lự tất hữu cận ưu, độc giả nên xem đến thâm ý của thánh nhân.
2. Cửu Nhị: Dịch hào, mộ dạ hữu nhung, vật tuất.
九二: 惕號, 莫夜有戎, 勿恤.
Ở về thì Quải, chính là lúc quân tử quyết tiểu nhân, thành thời được phúc chung cho cả quốc gia, xã hội, bại thời họa lây cả quốc gia, xã hội nên công việc phòng bị cảnh giới chẳng bao giờ dám quên, hào Nhị dương cương đắc trung rất biết đạo lí như thế nên trong lòng thường lo sợ mà khuyên lơn cảnh cáo với chúng bạn luôn luôn (Dịch nghĩa là lo sợ; hào nghĩa là la kêu).
Hay dịch hào như thế thời chẳng những giặc phát giữa ban ngày mà không sợ đã đành, ví dù ban đêm tối tăm mà thoạt có giặc tới, cũng chẳng phải kinh hoàng lo sợ gì. (Mộ dạ nghĩa là đêm khuya; hữu nhung nghĩa là có giặc; vật tuất nghĩa là chố lo sợ).
Tượng viết: Hữu nhung, vật tuất, đắc trung đạo dã.
象曰: 有戎, 勿恤, 得中道冬.
Mộ dã, hữu nhung là việc đáng lo sợ, sao lại nói vật tuất? Bởi vì hào Nhị này vẫn sẵn được đạo trung nên ở khi vô sự mà vẫn đã thường phòng bị, đến khi hữu biến mà vẫn cứ thung dung, nếu không đắc trung sao được như thế.
PHỤ CHÚ: Hào từ chỉ có tám chữ mà đủ làm tư cách một người đại tướng. Xưa nay nhà binh sở dĩ thất bại chỉ vì hai cớ: Một là, khi chưa có giặc, chỉ lơ lửng hững hờ, ấy là không biết nghĩa chữ dịch hào; hai là, thoạt khi nghe giặc tới thời kinh hoàng, hoảng hốt, chính là không biết nghĩa hữu nhung vật tuất.
Đường sử khen một
vị danh tướng rằng: Khi ông trong quân, suốt cả ngày cứ lăm lăm như hình đương
đối địch với giặc; khi có giặc mà lâm trận thời lại khoan thai êm đềm như không
muốn đánh (chung nhật khâm khâm như đối đại địch, nãi lâm trận tắc chí khí an
nhàn như bất dục chiến 終日欽欽如對大敵, 乃臨陣則志氣安閑如不慾戰).
Đó là chỉ vì lúc vô sự mà hay Dịch hào nên lúc hữu sự mới được vật tuất, như thế là gọi bằng đắc trung đạo.
3. Cửu Tam: Tráng vu quỳ, hữu hung, quân tử quyết quyết, độc hành ngộ vũ, nhuợc nhu, hữu uẩn, vô cựu.
九三: 壯于傾, 有凶, 君子夬夬, 獨行遇雨, 若濡, 有愠, 无咎.
Văn lí hào này rất hay mà lại rất hợp với đạo lí, vả cũng đúng với cơ quyền. Người ở vào đời quân tử, tiểu nhân giao chiến thời lại nên biết nghĩa hào này. Trước thích nghĩa đen chữ một: Quỳ là xương cồn má, tức là lưỡng quyền; tráng vu quỳ, nghĩa là thần sắc cường bạo hình hiện trên nét mặt.
Quân tử quyết quyết chữ quyết trên là hoạt động từ, chữ quyết dưới là động từ, nghĩa là quân tử phải quyết bằng cương quyết.
Độc hành ngộ vũ là đi một mình ngộ lấy mưa. Nhược nhu nghĩa là như hình có dầm lấm. Hữu uẩn nghĩa là có người giận mình.
Ở vào thì Quải, năm quân tử xúm nhau mà đuổi một tiểu nhân, tiểu nhân tức là hào Thượng Lục, Cửu Tam vẫn trộn vào trong đám quần dương mà riêng một mình chính ứng với Thượng Lục. Thế là, mặt ngoài Tam vẫn một bè với quân tử mà mặt trong thời Tam chính là bạn thân với tiểu nhân, thánh nhân ghét tiểu nhân mà lo cho quân tử nên hiệu cho Cửu Tam rằng: Tam ơi! Tam muốn tốt hay xấu, chết hay sống, khôn hay dại, chỉ tại giữa bản thân Tam: Tam khôn thời sống, vống thời chết, ta bảo cho Tam rằng: Tam vẫn một phe với quân tử, nhưng Tam lại có ý làm nội điệp cho tiểu nhân, xem mặt mũi Tam tỏ ra một cách cương bạc, tuy Tam vẫn khuynh hướng với Thượng Lục kia rồi, nhưng ta vẫn trông mong cho Tam biết bênh vực lấy bè quân tử với mình.
Tuy thế mặc dầu, nhưng cách cương bạo sỗ sàng ở trước mặt, tất nhiên quân tử không ưa Tam, mà đến tiểu nhân lâu cũng chán Tam, kết quả chỉ là rước vạ vào mình mà thôi.
Ta đối với Tam vẫn xem là loài người mà ta rất thương yêu Tam: bây giờ chỉ trông mong cho Tam hóa ra quân tử thiệt. Nếu Tam có lòng làm quân tử thiệt thời Tam phải quyết bằng một cách quả quyết. Tuy lâu nay Tam đã trót làm bạn với Thượng Lục không khác gì đi riêng một lối đường mà đụng lấy mưa, e không khỏi dầm lấm vì mưa, tất nhiên trong bạn quân tử có người giận Tam, nhưng chẳng hề gì đâu; thân Tam tuy gần với tiểu nhân mà tâm Tam vẫn thường để nơi quân tử, cứ giữ lấy tinh thần quyết quyết, chắc cuối cùng thời Thượng Lục bị đánh đổ, mà đánh đổ Thượng Lục lại chính trong tay Tam. Tâm sự Tam nếu được như thế thời có sợ gì đi với ma phải mặc áo giấy đâu, như thế thời vô cựu.
Nói cho đúng, Tam làm bằng cách tráng vu quỳ thời hữu hung mà hung đó là vì Tam tự thủ. Nếu Tam làm bằng cách quân tử quyết quyết thời vô cựu, mà vô cựu đó cũng là Tam tự thủ. Thánh nhân bảo Tam có hai lối như thế, theo phúc hay theo họa, theo quân tử hay theo tiểu nhân, tùy Tam lựa lấy; những người ở địa vị Cửu Tam rất nên cẩn thận.
PHỤ CHÚ: Cửu Tam dương cương bất trung là có tính láu táu dễ mắc dại làm chính ứng với Thượng Lục là đã dở làm nội điệp cho tiểu nhân nhưng thánh nhân còn mong cho nó làm nên quân tử. Vậy nên Hào từ ủy khúc như thế đó mới là thâm ý của thánh nhân.
Tượng viết: Quân tử quyết quyết, chung vô cựu dã.
象曰: 君子夬夬, 終無咎也.
Cửu Tam vẫn chính ứng với Thượng Lục, là trong đám quân tử mà một mình đi riêng một lối, nhưng mà trong đạo tương giao cốt ở tinh thần, không cần ở hình thức. Nếu Tam thiệt có lòng quân tử quả quyết thời cuối cùng chắc không tội lỗi.
[1]. Cửu Tứ: Đồn vô phu, kì hành từ thư, khiên dương hối vong, văn ngôn bất tín.
九四: 殿无膚, 其行次且, 牽羊, 悔亡, 聞言不信.
Ở vào thì Quải mà như hào Cửu Tứ này, chất dương ở vào vị âm, bất trung, bất chính, ngồi im thời sợ bầy dương tiến cả, mình không lẽ ngồi im; muốn dậy đi nhưng vì tài lực mình đi không được mạnh nên phải chập chững lựng thựng mà thôi.
Vì vậy, Hào từ nói rằng: Đồn vô phu, kì hành từ thư. Đồn nghĩa là bàn trôn; phu nghĩa là thịt trong da mỏng; bàn trôn mà không thịt tất nhiên ngồi không dược yên; từ thư nghĩa là: chập chững; kì hành từ thư là cách đi chập chững như đứa trẻ mới tập đi.
Cửu Tứ ngồi yên lặng thời không thể ngồi an được, nhưng muốn đi mà không thể đi được chóng. Tỉ như: Một người bàn trôn không thịt, thời ngồi không an, muốn dậy đi thời đi không thể mạnh. Vì thế, thánh nhân mới nghĩ cho Cửu Tứ một phương pháp rằng: Tứ ơi! Ở đời quần dương tịnh tấn, há lẽ một mình ngồi im, nhưng vì xét tính chất không phải là bậc tài cao chân chạy, thời âu là nhường cho bầy dương lên trước mà mình tiếp gót theo sau, tượng như người chăn dê, mình cầm roi đứng sau bầy dê, bầy dê lên tới đâu, mình lên tới đấy, có lo gì đồn vô phu mà hành từ thư nữa đâu. Vậy nên nói rằng: Khiên dương hối vong (Khiên dương nghĩa là lùa bầy dê).
Hễ khiên dương tất phải nhường cho dương đi trước, nhường cho quần dương đi trước cũng in như thế. Tuy nhiên, ở thì Quải là thời thế rất hay, một phương diện thời thấy phong trào mà nóng nảy, một phương diện thời sợ thầy chê bạn trách mà cố gắng lên liều. Nếu không phải người hiểu lẽ rất minh, tính việc rất chín, dầu nghe người vẽ cho cách khiến dương mà mình có chịu tin đâu nên lại nói: Văn ngôn bất tín.
Nói tóm lại, khiên dương hối vong là tính một cách hoàn toàn cho Tứ. Văn Ngôn bất tín, lại thấy Tứ bất trung, bất chính mà e cho Tứ chẳng chịu nghe lời. Xưa nay những người làm việc đời mà có thành công, quý trọng thứ nhất là cương kiện, trung chính, hay lanh chân nhẹ bước, để đi trước được người. Nếu chẳng thế thời phải mỏng tai biết nghe mà hiểu được lẽ phải trái. Bây giờ Cửu Tứ không trơn cả hai đặc điểm đó, chỉ là một người dở dang ở thì Quải. Vậy nên Hào từ nói lưỡng dạng.
Tượng viết: Kì hành từ thư, vị bất đáng dã, văn ngôn bất tín, thông bất minh dã.
象曰: 其行次且, 位不當也; 聞言不信, 聰不明也.
Cửu Tứ chất dương, xử vào vị âm, do địa vị không xứng đáng nên mất hẳn tính cương quyết, vì vậy mà nói rằng kì hành từ thư. Tứ xử vào vị nhu là đã sụp vào vùng hắc ám, đức nghe của lỗ tai còn đâu là tỏ sáng nữa, chắc là nghe lời nói hay cũng chẳng tin. Chữ thông: công dụng của lỗ tai. Luận Ngữ có câu: Thính tư thông 聽思聰, nghĩa là lỗ tai nghe phải nghĩ làm sao cho được thông tỏ. Vì thông bất minh thời văn ngôn bất tín.
5. Cửu Ngũ: Nghiện lục, quyết quyết, trung hành vô cựu.
九五: 筧六夬夬, 中行无咎.
Cửu Ngũ ở thì Quải mà lại thân cận với Thượng Lục. Thượng Lục là tiểu nhân ở thì Quải. Ngũ thân cận với nó e không khỏi gần mực thời den.
Tuy nhiên, Ngũ vẫn là bậc dương cương, trung chính, có lẽ đâu bìu ríu với Thượng Lục mà không nhẫn tình quyết tuyệt được rư? Nên Hào từ nói rằng: Nghiện lục quyết quyết, nghĩa là một người trung chính như Ngũ há có lẽ Thượng Lục trây nhơ được rư? Chẳng qua xem nó như rau nghiện lục, chỉ quyết một quyết là đào tận gốc ngay. Ngũ mà quyết tuyệt được Thượng Lục như thế, chính là hợp với đạo trung mà không tội lỗi vậy.
Nghiện lục, có một tên gọi bằng mã xỉ. Nghiện lục ta gọi bằng rau sam, nó là một giống dễ sống mà khó khô, tính chất nó thuộc về loài âm nên ví với tiểu nhân.
Tượng viết: Trung hành vô cựu, trung vị quang dã.
象曰: 中行無咎, 中未光也.
Trên Hào từ chỉ nói rằng: Quyết quyết trung hành vô cựu, Tượng Truyện lại bổ túc cho Hào từ nên nói rằng: Cửu Ngũ tuy quyết tuyệt được Thượng Lục, nhưng nguyên đầu đã thân cận với Thượng Lục, Thế là trong lòng đã có chút tư tình dây dướng, e theo về trung đạo chưa lấy gì làm quang đại nên lấy hai chữ trung hành mà trách lại với Ngũ.
Nghĩa là, xem ở sự thực tuy đã quyết được tiểu nhân, nhưng xét đến tâm lí chưa hẳn đã quyết tuyệt chăng? Nếu tâm lí lờ mờ một phân thời thực tế đạo trung chưa được quang đại vậy.
Bởi vì tâm lí của người ta, nếu còn tư tình chút đỉnh thời mầm ác e lại có ngày phục sinh nên thánh nhân có lời răn như thế.
6. Thượng Lục: Vô hào, chung hữu hung.
上六: 無號, 終有凶.
Thượng Lục là một hào âm ở trên năm dương, chính là một tên tiểu nhân trong rừng quân tử. Thế đạo vì nó mà còn mầm nguy cơ, nhân tâm vì nó mà còn mầm bại hoại, tuy lòng nhân ái của thánh nhân, cũng không thế nào mà không ghét nó được. Nhưng may thay! Quần dương thế mạnh, cô âm lực cùng, bầy quân tử xúm nhau mà đuổi một tiểu nhân, thánh nhân quá hân hạnh cho thế đạo nhân tâm nên bảo với nó rằng: Thượng Lục ơi! Mày đã lên vị cực cao, tất nhiên phải đổ, mày đã làm việc cực ác, còn ai thương mày nữa mày chớ kêu rêu khóc lóc làm gì (Hào nghĩa là kêu rêu khóc lóc); kết quả mày chỉ là người họa thủ, tất cũng đến chết.
Tượng viết: Vô hào, chi hung, chung bất khả trường dã.
象曰: 無號之凶, 终不可長也.
Hung họa của Thượng Lục: là bởi vì đạo của tiểu nhân đã đến lúc cùng cực, còn gì lâu dài được nữa rư?
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc suốt, cả lời sáu hào nên có cặp mắt riêng mà xem Dịch lí. Quải với Phục là hai quẻ trái nhau: Phục thời năm tiểu nhân kình với một quân tử, Một quân tử là Sơ Cửu, mà trong năm âm có Lục Tứ chịu làm chính ứng cho Sơ, ấy là một tay đặc biệt trong bọn tiểu nhân nên thánh nhân quá trọng Lục Tứ mà khen cho rằng trung hành độc phục, nghĩa là: Một mình Tứ biết trở lại theo quân tử. Quải thời năm quân tử đuổi một tiểu nhân là Thượng Lục mà lại trong năm dương có Cửu Tam quay ra làm chính ứng với Thượng Lục, ấy là một tay khả nghi trong đám quân tử. Thánh nhân quá lo sợ Cửu Tam nhưng lại muốn lị dụng Cửu Tam nên khuyên lơn cho rằng độc hành ngộ vũ nhược nhu, hữu uẩn, vô cựu, nghĩa là: Một mình Tam tu đi riêng một đường, nhưng nếu Tam thiệt tốt thời cũng chẳng tội lỗi gì. Chúng ta chỉ xem chữ độc ở hai hào thuộc về hai quẻ thời biết rằng thẩm thì thức thế chính là diệu dụng trong Dịch, thánh nhân tuy trọng nghĩa lí, nhưng có phải bỏ hẳn quyền biến đâu.
Đọc suốt sáu hào quẻ Quải thời càng biết thủ đoạn thánh nhân rất cao, năm dương quyết một âm, năm quân tử quyết một âm, năm quân tử quyết một tiểu nhân mà cớ sao mọi hào không có chữ quyết. Duy Cửu Tam với Cửu Ngũ có hai chữ quyết quyết, chẳng phải là cơ quan họa phúc ở thì Quải, nắm vào trong tay hai hào ấy hay sao? Mà thiệt vẫn có thế. Sơ tuy là quân tử mà vì vị thấp tài hèn, may làm được một người vô danh anh hùng là đã tốt rồi; nên phải lo cho Sơ vãng bất thắng. Nhị vẫn là tay đại tưởng, nhưng nếu việc chưa đáng nhịp, chỉ là dịch hào mà thôi, Cửu Tứ vẫn là một vị quân tử, có giá trị trong đàn, nhưng vì khi hữu dư mà tài bất túc, chỉ vừa làm được một người đồng sự hậu viện mà thôi nên bảo rằng khiên dương hối vong.
Tựu trung duy Cửu Tam với Cửu Ngũ. Tam là bạn thân với Thượng Lục, chính là một tay làm được nội gián cho bè quân tử. Nếu Tam mà tàm sự thiệt tốt thời ông Y Doãn tựu Kiệt, Địch Nhân Kiệt thờ Chu, hưng Thương, phục Đường, chẳng phải tay Tam mà ai?
Trong khi toàn Càn chuyển Khôn, đổi sông thay núi, thiệt không thể thiếu được hạng người ấy nên thánh nhân cực tán cho rằng quân tử quyết quyết. Đến như Cửu Ngũ thời địa vị ở trên hết quần dương, chính là lãnh tụ trong đám quân tử, dụng đầu óc mà khu xử tay chân, vận tài năng mà di chuyển cả thời thế, chính là nhờ vì hạng người ấy.
Nếu người ấy mà dở thời còn ai làm nổi được việc Quải rư? Nên thánh nhân tán cho rằng quyết quyết trung hành.
Tóm trong sáu hào mà công việc quyết quyết chỉ đặt vào trên vai Cửu Tam với Cửu Ngũ. Dụng Cửu Tam là kì biến, tôn Cửu Ngũ là chính kinh. Nếu không Cửu Ngũ thời té ra rắn không đầu, sao mà đi được. Nếu không Cửu Tam: thời té ra đánh giặc không có nội công, sao mà thắng địch. Xem hai Hào từ ấy thời thủ đoạn thánh nhân càng đáng ghê.
44. QUẺ THIÊN PHONG CẤU
Kiền trên; Tốn dưới
Quẻ này là quẻ Thiên Phong Cấu. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Càn thiên, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Phong Cấu.
TỰ QUÁI
Tự quái: Quảỉ giả quyết dã, quyết tất hữu sở ngộ, cố thụ chi dĩ Cấu, Cấu giả ngộ dã.
序卦: 夬者决也, 决必有所遇, 故受之以姤, 姤者遇也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Quải tiếp lấy quẻ Cấu là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Quải, Quải, nghĩa là phán quyết. Hễ đã phán quyết xong rồi, tất biết được lành hay dữ, phải hay chăng, chắc có người mà gặp gỡ.
Vậy nên sau quẻ Quải, tiếp lấy quẻ Cấu. Cấu, nghĩa là đụng gặp. Theo về tượng quẻ, Càn là trời, Tốn là gió, Càn trên Tốn dưới, tượng là gió đi dưới trời, ở dưới trời tất thảy là vạn vật, gió đi tới đâu, thảy đụng chạm đấy, đó là một tượng mà thành được quẻ Cấu.
Lại vì từ lúc vào quẻ Thuần Càn mà âm tiêu hết, bây giờ nhất âm mới sinh ở dưới hết, âm tình cờ mà đụng lấy dương, con gái tình cờ mà đụng lấy con trai, cũng là nghĩa cấu nên đặt tên quẻ bằng Cấu.
PHỤ CHÚ: Thầy Thiệu nói rằng: Quẻ Phục tiếp sau quẻ Bác thời biết rằng trị sinh ở thì loạn đó, mà Cấu tiếp sau quẻ Quải thời biết rằng loạn sinh ở thì trị đó mà.
Vì vậy nên thánh nhân phòng bị ở khi việc chưa thấy. Quẻ Bác là quẻ năm âm bác một dương, dương bác chưa hết là đạo quân tử chưa tiêu hết, chốc tiếp sang Phục là một dương lại sinh thời là đạo quân tử đã toan trưởng rồi. Quẻ Quải là quẻ năm dương quyết một âm, âm quyết chưa được hết, cũng là tiểu nhân chưa trừ được sạch, vừa bắt liền sang Cấu thời nhất âm đã lù ra rồi, cũng là tiểu nhân đã nảy ra rồi. Thế mới biết cơ trời vận nước quan hệ ở tiểu nhân, quân tử đắp đổi thịnh suy, nhưng quân tử thời khó vun trồng mà tiểu nhân thời dễ nảy nở. Nếu xét thấu đến Dịch lí thời ghê tởm biết dường nào.
SOÁN TỪ
Cấu, nữ tráng, vật dụng thú nữ.
姤, 女壯, 勿用取女.
Quẻ này là quẻ nhất âm mới sinh ở dưới mà đụng gặp ngũ dương, ngũ dương ở trên mà nhất âm gánh đỡ nổi; âm tượng là gái, một gái mà gánh đỡ nổi năm trai, ấy thiệt cường tráng lắm.
Tòng lai, thường lí trong thiên hạ chỉ một gái địch nổi một trai, bây giờ một gái địch nổi năm trai, ấy là thể phách rất hung mạnh mà đức tính lại cực kì bất trinh, quân tử ở thì Cấu, xin chớ khinh rẻ hững hờ mà lấy phải hạng gái như thế là bởi vì lấy phải hạng gái như thế chỉ là làm hại cho trai mà thôi.
PHỤ CHÚ: Chữ nữ tráng và chữ thú nữ, chẳng qua thánh nhân xem ở tượng quẻ, vì có một hào âm mới, thành được quẻ Cấu. Nếu không một hào âm ấy thời là quẻ Thuần Càn.
Thế là nhất âm tuy thỉ sinh mà làm chủ cho quẻ cấu. Xem ở hiện tại thời âm tuy còn hèn, nhưng nghĩ đến tương lai thời âm chắc tiến thạnh, thánh nhân lo cho thế đạo, muốn lấy thiên đạo mà suy đến nhân đạo nên lấy chữ nữ thay chữ âm, kì thực thánh nhân chẳng phải chuyên dạy cho người ta bằng việc lấy vợ mà thôi.
Theo ở lí Kinh Dịch, âm là nữ mà chính là tiểu nhân, chúng ta nên hội ý của thánh nhân mà thích Quái từ rằng: Cấu, tiểu nhân tráng, vật dụng thân tiểu nhân.
Chữ nữ thay làm chữ tiểu nhân, chữ thú thay làm chữ thân, nghĩa là, một đứa tiểu nhân, dám đương địch với năm quân tử, chà chà dữ mạnh biết dường nào! Chớ thân tín những hạng ngườì ấy mà nguy hiểm.
Nếu thấy chữ nữ mà chỉ học nữ là con gái, còn gì là tinh lí của Dịch nữa đâu! Chẳng những quẻ cấu mà thôi, thảy suốt sáu mươi tư quẻ nên học bằng cách ấy.
Soán viết: Cấu, ngộ dã, nhu ngộ cương dã; vật dụng thú nữ, bất khả dữ trường dã. Thiên địa tương ngộ, phẩm vật hàm chương dã; cương ngộ trung chính, thiên hạ đại hành dã. Cấu chi thì nghĩa đại hĩ tai.
彖曰: 姤遇也, 柔遇剛也; 勿用取女, 不可與長也. 天地相遇, 品物咸章也; 剛遇中正, 天下大 行也.
姤之時義大矣哉
Soán viết: Cấu, ngộ dã, nhu ngộ cương dã.
Cấu nghĩa là đụng gặp, nhất âm mới sinh, vừa đụng gặp ngũ dương. Thế là nhu gặp cương vậy.
Vật dụng thú nữ, bất khả dữ trường dã.
Quái từ nói rằng: Vật dụng thú nữ, bởi vì nhất âm là thuộc về loài tiểu nhân, tiểu nhân đã có thế tiệm thịnh thời nên mau xa tránh nó, không nên với nó tính việc lâu dài được, đây chỉ thích lời quẻ.
Thiên địa tương ngộ, phẩm vật hàm chương dã.
Đức Khổng Tử xem ở tượng quẻ mà đặt ra nghĩa khác, không theo nghĩa Quái từ. Khí dương thuộc về trời, khí âm thuộc về đất, âm dương đã hội ngộ với nhau thời vạn vật nhờ đó mà sinh trưởng, loài gì thức ấy thảy được phát đạt rõ ràng, ấy là thiên địa tương ngộ thời phẩm vật được hàm chương (Hàm nghĩa là tất thảy; chương nghĩa là rực rỡ).
Cương ngộ trung chính, thiên hạ đại hành dã.
Lại theo như đức quẻ, Cửu Ngũ ở Ngoại Quái có đức dương cương mà lại đúng vị trung chính, đức đã thịnh mà lại gặp được vị tôn, chắc là đạo quân tử đại hành được khắp cả thiên hạ. Chữ đại ở đây chỉ về dương cương, đạo dương cương lưu hành phát triển được nên nói rằng đại hành.
Theo thể quẻ thời là âm sinh, Soán Truyện lại nói riêng bằng Cửu Ngũ mà mừng cho dương cương được tôn vị, ấy là nghĩa phù dương ức âm của Khổng Tử; dương là quân tử, quân tử đắc vị là một việc đáng mừng cho thế đạo, nên có lời tán rằng thiên hạ đại hành.
Cấu chi thì nghĩa đại hĩ tai.
Thiên địa có gặp nhau thời phẩm vật mới hàm chương, dương cương gặp vị trung chính thời thiên hạ mới thấy được đại hành. Suy cho đến mọi việc rất nhỏ, Nhân với mã có tương đắc thời mới dong ruổi được dường xa; thợ với khí có tương đắc thời bách công mới thành tựu, chẳng một việc gì mà chẳng cần có đụng gặp, như thế là thì với nghĩa của Cấu, thiệt rất lớn vậy thay nên lại tán rằng Cấu chi thì nghĩa đại hĩ tai!
PHỤ CHÚ: Cấu chi thì mà lại phải thêm vào chữ nghĩa, bởi vì quẻ Cấu là quẻ nhất âm sinh, âm từ đó mà tiến lên lần lần thời hai âm thành ra Độn, ba âm thành ra Bĩ, dần đến năm âm thành ra Bác, thiệt là một thì tiết rất đang lo, chẳng lấy gì mà đáng tán tụng được, tất phải lấy bằng nghĩa chữ Cấu, chỉ giảng rằng Cấu, nghĩa là đụng gặp, thời quan hệ với nhân sự lại rất nhiều; nhỏ từ vợ chồng gặp nhau, bạn bầy gặp nhau, thầy trò gặp nhau, lớn đến thánh hiền hào kiệt gặp nhau, mới làm nên sự nghiệp quốc gia xã hội, rước được hạnh phúc cho dân tộc dân sinh, như thế là nghĩa Cấu to lớn lắm nên nói rằng thì nghĩa.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Thiên hạ hữu phong, Cấu. Hậu dĩ thì mệnh cáo tứ phương.
象曰: 天下有風, 姤. 后以施命告四方.
Ở dưới trời có gió, gió đi tới đâu đụng chạm muôn vật, ấy là tượng quẻ Cấu. Những bậc quân trưởng xem tượng ấy mà thi hành mệnh lệnh, cáo dụ hiểu thị khắp vạn phương, cũng in như gió đi khắp dưới trời. Gió là hiệu lệnh của trời, mệnh là hiệu lệnh của hậu. Hậu là người nguyên thủ trong một nước.
Tượng Truyện lại lấy bằng tượng quẻ mà không lấy bằng nghĩa quẻ, với ý âm ngộ dương tuyệt vô quan hệ, lời các Tượng Truyện phần nhiều như thế, đó cũng là nghĩa biến dịch ởố trong Kinh văn mà cũng là lẽ biến dịch trong Dịch lí.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Hệ vu kim nị, trinh cát; hữu du vãng, kiến hung, luy thỉ phu trịch trục.
初六: 繋于金柅, 貞吉; 有攸往, 見凶, 羸豕孚蹢躅.
Quẻ này nguyên là quẻ Càn, Càn là quẻ thuần dương, dương biến ra âm mà hóa ra hào Sơ Lục nên thành ra quẻ Cấu. Vì thế cho nên bản thân Sơ tuy là nhỏ mọn nhưng có thế lực âm ngầm, thế nào cũng đến ngày trưởng thịnh, quan hệ với thế đạo rất lớn.
Quân tử ở về thì Cấu tất phải biết âm có cơ trưởng lần, chúng ta tất phải ngăn đón ở lúc mới sinh, nhổ cỏ phải nhổ từ khi cỏ mới mọc, đốn tre phải đốn từ khi tre mới măng, chính giữa lúc tiểu nhân mới ra đời thời quân tử càng nên chú ý lắm, nên Hào từ đặt ra làm hai nghĩa mà răn đe cho quân tử. Một nghĩa, hệ vu kim nị, trinh cát (Nị là cái đồ để hãm xe; kim nị là lấy sắt làm nị là một giống rất kiên cường, xe đi mà đụng nó hãm lại thời xe không đi được nữa; hệ: trói), bảo cho quân tử rằng: Phải dùng một cách mà ngăn bọn tiểu nhân, cố làm cho nó không lên được, tượng như hệ vu kim nị, nghĩa là trói xe vào cái kim nị; ngăn tiểu nhân được bền chặt như thế thời đạo trinh của quân tử mới được tốt lành. Trái lại, lỡ hụt tay mà để cho nó tiến lên được, tất nhiên thấy chuyện xấu ngay.
Bốn câu trên kia là một nghĩa chính, một nghĩa phản.
Theo về nghĩa chính thời hệ vu kim nị mà trinh cát, ấy là hạnh phúc cho quân tử. Theo về nghĩa phản thời hữu du vãng mà kiến hung thời tai họa cho quân tử.
Thánh nhân nói đến đó, nhưng còn e tởm cho Sơ Lục nên lại nói thêm rằng: Một đứa tiểu nhân kia tuy còn nhỏ mọn, nhưng các người chớ nên khinh thường nó, nó mới ra đời chưa lấy gì làm mạnh, nhưng quyết có ngày nhảy nhót lung tung, in như con heo gầy mà vẫn cố nhảy nhót. Luy nghĩa là hèn yếu; thỉ nghĩa là con heo; phu nghĩa là quyết hẳn; trịch trục nghĩa là nhảy nhót. Con heo tuy còn yếu gầy, nhưng quyết hẳn có ngày sẽ nhảy nhót.
Cầu ấy là bảo Sơ Lục tuy còn yếu, nhưng có ngày thịnh mà làm hại quân tử, quân tử phải để ý ngăn ngừa mới được.
Tượng viết: Hệ vu kim nị, nhu đạo khiên dã.
象曰: 繋于金柅, 柔道牽也.
Vì đạo âm nhu dương dắt kéo nhau lên thời quân tử phải lo đón trước, mà cách đón nó, phải cho cực kì bền chặt, nên nói rằng hệ vu kim nị là sợ nhu đạo khiên đó vậy. Khiên nghĩa là dắt kéo nhau mà lên.
PHỤ CHÚ: Lời trong Kinh văn toàn là ngôn thiển ý thâm, như Hào từ này chỉ bày vẽ cho quân tử mà gấp ngăn đón bọn tiểu nhân.
Nhưng thâm ý của thánh nhân chẳng những kiêng sợ quân tử, tiểu nhân ở hình thức mà thôi, mà kiêng sợ thứ nhất lại là quân tử, tiểu nhân ở tinh thần. Quân tử ở tinh thần là gì? Tức là thiên lí. Tiểu nhân ở tinh thần là gì? Tức là nhân dục. Há phải quốc gia xã hội có tiểu nhân, quân tử thôi đâu mà chính giữa thân ta thời quân tử, tiểu nhân lại càng ghê tởm lắm. Hễ có một tư tưởng gì đúng với thiên lí, tức là quân tử. Hễ có một tư tưởng gì xây về tình dục, tức là tiểu nhân. Chúng ta muốn ngăn đón tiểu nhân trong thân ta tất phải hết sức ngăn đón nhân dục. Tai hại thuộc về nhân dục e còn thậm hơn luy thỉ phu trịch trục; chỉ duy hệ vu kim nị thời chúng ta nghĩ bằng cách gì. Phàm ai đọc đến Kinh văn phải nghĩ đến ý ấy.
2. Cửu Nhị: Bao hữu ngư, vô cựu, bất lị tân.
九二: 包有魚, 无咎, 不利賓.
Ở vào thì Cấu là chú trọng về cách gặp nhau. Cửu Nhị mật thiết với Sơ, Sơ vẫn là tiểu nhân trong thì Cấu, nhưng vì Nhị có đức cương trung, tuy có đụng gặp Sơ mà Nhị có tài chế ngự được tiểu nhân. Sơ tiểu nhân mặc lòng, nhưng cũng bị nhốt vào tay Nhị bao bọc, Nhị chế ngự được Sơ thời Sơ cũng phải phục tòng với Nhị, tượng như Sơ là một con cá mà Nhị đùm bọc được thật chặt, cá không thể nhảy ra được. Như thế, vẫn không tội lỗi gì.
Tuy nhiên, Sơ là tiểu nhân khéo léo bợm bậy, duy tài đức Nhị mới bọc được Sơ, chỉ nên giữ nó ở bên cạnh mình, không nên thả nó ra mà dụng gặp phải người khác, sợ cho người khác không tài đức như Nhị. Nếu đụng lấy Sơ thời chắc bị Sơ quyến rũ mất.
Bất lị tân, nghĩa là chỉ gần Nhị thời không hề gì, chứ không nên cho nó gặp khách khác nữa.
Tượng viết: Bao hữu ngư, nghĩa bất cập tân dã.
象曰: 包有魚, 義不及賓也.
Sơ, nguyên là chính ứng với Tứ nhưng Tứ với Sơ còn cách nhau xa, vả tài Tứ lại thua Nhị, nên Nhị bao bọc được Sơ. Nếu Sơ lại đụng gặp Tứ tất trái nghĩa Cấu nên nói rằng bao hữu ngư, nghĩa bất cập tân dã là nghĩa Cấu của Nhị, Nhị đã gặp Sơ thời Sơ cũng nên chuyên nhất vào Nhị, nghĩa là Sơ không nên gặp khách khác nữa vậy (Tân là chỉ vào hào Tứ).
3. Cửu Tam: Đồn vô phu, kì hành từ thư, lệ, vô đại cựu.
九三: 臀無膚, 其行次且, 厲, 無大咎.
Theo lẽ thường, âm với dương không ưa nhau mà toàn quẻ duy Sơ là âm nên anh nào cũng diệt Sơ, nhưng vì Nhị đã gặp Sơ rồi nên Tam không gặp được Sơ nữa, Tam là người quá cương bất trung, đã không gặp được Sơ, cũng chẳng chịu ngồi an phận, muốn lên ứng với Thượng thời Thượng lại không phải người ứng với mình, thành ra lóng ngóng vất vả, ngồi không an ngồi, đi không xong đi, tượng như bàn trôn không thịt, ngồi đã không an, muốn đứng dậy đi thời nước đi lại khấp khểnh. Nhưng còn may Tam vẫn dương cương mà đắc chính, chắc không lẽ mê mẩn hoài. Nếu biết thế là nguy cụ mà thủ phận an thân thời không tội lỗi gì lớn.
Tượng viết: Kì hành từ thư, hành vị khiên dã.
象曰: 其行次且, 行未牵也.
Cửu Tam: sở dĩ kì hành từ thư là vì dưới không gặp được Sơ, trên không ứng được Thượng, dầu có đi ra, cũng chẳng ai khiên dẫn mình vậy.
4. Cửu Tứ: Bao vô ngư, khởi hung.
九四: 包無魚, 起凶
Chữ Ngư ở đây cũng chỉ vào hào Sơ, Sơ vẫn là chính ứng với Tứ, có lẽ đáng gặp nhau; nhưng vì Sơ đã gặp Nhị, Nhị đã thu nạp được Sơ thời Tứ hỏng mất phần, nên nói rằng bao vô ngư, tượng như một con cá ấy đã lọt vào bọc Nhị thời trong bọc Tứ có cá đâu nữa. Nguyên lai Tứ là người ở vị trên, Sơ là người ở vị dưới, người ở trên không thu phục được người dưới chẳng phải là quan mất dân, thầy mất trò, vợ mất chồng hay sao? Làm người trên mà để đến nỗi người bỏ mình, e chẳng bao lâu tất có tai nạn phát sinh.
Tượng viết: Vô ngư chi hung, viễn dân dã.
象曰: 無魚之凶, 遠民也.
Vô ngư mà mắc lấy hung chỉ vì mất đạo làm kẻ trên mà đến nỗi tự tuyệt với dân đó vậy. Chữ viễn đây là động từ, cũng như chữ viễn tiểu nhân. Theo như tượng quẻ vẫn âm là tiểu nhân mà tiểu tượng lại lấy riêng một nghĩa. Viễn tiểu nhân thời hay mà viễn dân thời dở, nghĩa Dịch biến hóa không chấp nhất là như thế.
5. Cửu Ngũ: Dĩ kỉ bao qua, hàm chương, hữu vận tự thiên.
九五: 以杞包瓜, 含章, 有隕自天.
Kỉ là tên một thứ cây, cây cao mà lớn, có thể che bọc được các cây nhỏ; qua là cây dưa, thuộc loài âm mà ở dưới thấp, có dây hay mọc leo vào cây to.
Cửu Ngũ có đức dương cương, trung chính, lại ở vào vị nguyên thủ trong một nước. Vì đức tốt mà ở vị cao, biết hay khuất kỉ hạ hiền nên quần dương giúp đỡ mà phòng ngự được tiểu nhân là Sơ Lục, tượng như lấy cây kỉ mà che bọc cây dưa. Kỉ thí dụ bằng Ngũ là người có tài đức ở ngôi cao; qua tỉ dụ bằng Sơ là tiểu nhân ở dưới thấp.
Ngũ có tài đức như thế, lại hay chứa ngậm đức tốt trong, chẳng khoe khoang lòe loẹt với người.
Đạo người đã rất tốt thời lòng trời phải chiều nghe, cơ hội nay bỗng chốc xui khiến mà sự nghiệp lớn thình lình tới trước mặt, ví như: tự trên trời nảy xuống.
Vận, nghĩa là sa nảy. Hữu vận tự thiên là hình dung thì vận tốt, chứ chẳng phải sự thực đâu.
PHỤ CHÚ: Quẻ này nguyên là quẻ Càn, vì Sơ dương hào biến động mà hóa ra âm hào thành ra quẻ Cấu. Bản thân hào Sơ trước vẫn tiềm long ở quẻ Càn, khi vào Cấu thời lại hóa ra luy thỉ. Một người vì hoàn cảnh thay đổi mà thiện, ác xa nhau đến như thế, chúng ta muốn cải lương nhân cách mà không lo cải lương hoàn cảnh xấu thời thế đạo làm sao khỏi có tiểu nhân?
Hoàn cảnh xấu là vì sao? Là vì những chế độ bất lương của xã hội, may thay ở thì Cấu này mà còn có Cửu Ngũ dương cương, trung chính, nguyên trước là ở vị phi long quẻ Càn, bốn bạn dương nhờ Ngũ dắt díu, một hào Sơ âm bị Ngũ chế ngự mà cơ họa chuyển làm phúc, vận trời phải chiều người.
Hào từ nói: Hữu vận thiên, tuy không được như phi long tại thiên, nhưng vẫn hân hạnh cho thế đạo nhân tâm; may mà có Cửu Ngũ nên nhân sự vãn hồi được khí số, há phải ngẫu nhiên đâu.
Tượng viết: Cửu Ngũ hàm chương, trung chính dã, hữu vận tự thiên, chí bất xả mệnh dã.
象曰: 九五含章, 中正也, 有隕自天, 志不舍命也.
Cửu Ngũ ngậm chứa được đức chương mỹ, há phải văn minh vỏ đâu mà chỉ đức trung chính đó vậy. Hữu vận tự thiên cũng chẳng phải chuyên ỷ vận trời, chỉ vì tâm trí cùa người không chống trái với đạo trời vậy. Mệnh nghĩa là đạo trời; xả cũng như nghĩa chữ vi, trên Văn Ngôn quẻ Càn đã có câu tiên thiếu nhi thiên phất vi; bởi vì mình phát vi thiên nên thiên phất vì mình. Vi cũng có nghĩa là trái.
6. Thượng Cửu: Cấu kì giác, lẫn, vô cựu. 土九: 姤其角, 吝, 無咎. Thượng Cửu chí cương mà ở trên hết quẻ, thí dụ bằng hình giống thú thời hào Thượng này là cái sừng, nên nói rằng: Cấu kì giác, nghĩa là ở vào thì Cấu chỉ dùng bằng cách cương trường ở trên, Cấu không nhằm cách, tất nhiên chúng phản thân li, như thế thời mang lấy xấu hổ mà không trách lỗi ai được nữa.
Chữ vô cựu đây, khác với chữ vô cựu ở mọi nơi. Vô cựu ở đây nghĩa là vô sở quy cựu, bởi vì tội lỗi mình làm ra nên không trách được ai.
Tượng viết: Cấu kì giác, thượng cùng lẫn dã.
象曰: 姤其角, 上窮吝也.
Cấu kì giác là vì Thượng Cửu này cương quá mà lại ở cuối cùng thì Cấu, Cấu đã đến cuối cùng, chỉ mang lấy xấu mà thôi.
PHỤ CHÚ: Theo về lí Dịch thời âm dương vẫn tương đối, dương chẳng phải tuyệt đối tốt mà âm cũng chẳng phải tuyệt đối xấu, chỉ tranh nhau thì với vị, trung hay bất trung, chính hay bất chính mà tốt xấu mới khác nhau.
Hào Sơ quẻ này một âm mà gánh đỡ năm dương, chẳng khác gì một vợ lấy năm chồng, một tớ mà thờ năm chủ, thiệt là một đứa tiểu nhân bại hoại đến cực điểm, nên năm dương trên thảy dòm vào Sơ làm tốt xấu. Hễ ai hạn chế được Sơ thời tốt, nhưng trong phép hạn chế Sơ thời cốt có lượng bao dung, có đức trung chính, nên Cửu Ngũ, Cửu Nhị thảy có dùng chữ bao. Vì hai hào ấy có đức cương trung nên Sơ không dám khinh lòn và oán hận gì. Sở dĩ bao hữu ngư thuộc về Cửu Nhị, bao qua thuộc về Cửu Ngũ, trì tiểu nhân mà khôn khéo như thế, còn sợ gì tiểu nhân đâu. Kìa Cửu Tam vì quá cương bất trung, Cửu Tứ vì bất trung, bất chính nên tiểu nhân bất phục.
Hễ tiểu nhân đã bất phục thời không thể tốt lành, nên Cửu Tam đồn vô phu, Cửu Tứ bao vô ngư. Vậy mới biết, trong đời không thể không tiểu nhân, nhưng phải biết thủ đoạn trì tiểu nhân thời tuy có đụng gặp tiểu nhân, cũng không hại gì.
Duy có một nghĩa chúng ta nên chú ý, chế trị tiểu nhân tất phải phòng bị ở lúc mới manh nha nên toàn quẻ Cấu chỉ có một chữ cát mà chữ cát lại phải ở dưới câu hệ vu kim nị, ý thánh nhân sâu xa biết dường nào!
Nếu ở lúc Sơ mà không biết hạn chế, chờ đến lúc cuối cùng mới toan cạy cọ thời chỉ như Thượng Cửu Cấu kì giác, lẫn mà thôi. Ở hào Sơ quẻ Khôn thời đã báo cho rằng lí sương kiên băng chí; ở hào Sơ quẻ Cấu thời vội bảo rằng hệ vu kim nị trinh. Thì tuy khác nhau mà thận thỉ phòng vi, ý in như nhau.
45. QUẺ TRẠCH ĐỊA TỤY
Đoái trên; Khôn dưới
Quẻ này là quẻ Trạch Địa Tụy. Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch Khôn Địa, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Địa Tụy.
TỰ QUÁI
Tự quái: Cấu giả ngộ dã, vật tương ngộ nhi hậu tụ, cố thụ chi dĩ Tụy, Tụy giả tụ dã.
序卦: 姤者遇也, 物遇而後聚, 故受之以萃, 萃者聚也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cấu tiếp lấy quẻ Tụy là vì cớ sao?
Trên là quẻ Cấu, Cấu nghĩa là đụng gặp, hễ vật có đụng gặp nhau mà sau mới thành bầy, đã thành bầy tất nhiên nhóm.
Vậy nên sau quẻ Cấu tiếp lấy quẻ Tụy. Tụy, nghĩa là nhóm họp. Nghĩa tên quẻ đã tường ở Soán Truyện, sẽ dịch ra sau.
SOÁN TỪ
Tụy, hanh, vương cách hữu miếu, lị kiến đại nhân, hanh, lị trinh. Dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng.
萃亨, 王假有廟, 利見大人, 亨, 利貞. 用大牲, 吉, 利有攸往.
Tụy, hanh, vương cách hữu miếu.
Tụy, nghĩa là nhóm họp, nhưng trong đạo nhóm họp, rất khó khăn và rất huyền bí là thần với người nhóm họp ở một chốn, nên Soán từ nói rằng Tụy hanh, vương cách hữu miếu, nghĩa là đã nhóm được bầy người, tất nhiên hanh thông.
Nhưng sở dĩ nhóm được bầy người, tất cốt ở chí thành mà muốn chứng nghiệm lòng chí thành, tất phải xem ở nơi cảm cách thần linh, nhóm tinh thành ở nơi tôn miếu mà tinh thần của thần lình cũng phảng phất bên tả hữu mình, ấy là thần với người nhóm nhau ở một chốn, nhà vương tới ở tông miếu là lấy tinh thành mà nhóm họp được loài vô hình đó vậy.
Lị kiến đại nhân, hanh, lị trinh.
Trên đây nói: Thần nhóm với người là thuộc về phần lí luận. Dịch chẳng phải chỉ thuyết lí mà thôi mà lại nói cho tường đến sự thực, lẽ trong thiên hạ rất khó chỉnh tề là đám đông người, người nhóm lại thời dễ sinh ra mối tranh, rất khó hoàn toàn là đám nhiều việc, hễ việc nhóm lại thời nảy ra sự rối. Vậy nên trong đám đông người nhiều việc, tất phải có người chủ tể mới xong.
Người chủ tế tức là người đầu bầy mà chính là người đại tài đại đức nên lại nói lị kiến đại nhân, hanh, nghĩa là tuy vẫn hanh thông được, nhưng tất phải lị kiến đại nhân thời đám Tụy đó mới được hanh. Tỉ như, nhóm người một đảng, tất có người đại nhân làm đảng trưởng, nhóm người một nước, tất phải có đại nhân làm quốc trưởng, thảy là nghĩa ấy.
Tuy nhiên, trong đám Tụy, há phải lị kiến đại nhân mà được hanh đâu, tất phải xem ở nơi chủ nghĩa sở dĩ nhóm có được chính đáng hay không. Nếu chủ nghĩa đám nhóm đó mà không chính đáng, tất nhiên trong đám ấy làm sao mà được tụy hanh, nên nói rằng lị trinh, nghĩa là, muốn nhóm cho được hanh thông, tất phải đường lối cho chính đáng. Trái lại, nếu nhóm họp bằng cách bất chính, thời chỉ là hữu danh vô thực, hữu thỉ vô chung, dầu có nhóm được dông người trong nhất thì, cùng chẳng làm gì nên.
Dịch lí quý trọng nhất là chữ thì, thì đã đến lúc Tụy rồi, về phương diện tinh thần vẫn nên long trọng mà phương diện vật chất cũng không thể sơ bạc. Tỉ như tế thần hoặc tiếp tân khách vẫn quý trọng thành tâm thực ý, nhưng cũng phải lễ vật phong hậu cho xứng thì, nên nói rằng dụng đại sinh, cát. Đại sinh nghĩa là cổ sanh lớn, tế hưởng mà dụng đại sinh chỉ là thiết lời cho tỏ rõ, thì nghĩa nên hậu mà hậu, như thế mới được cát.
Lại còn một lẽ nữa, người ta đã đông đúc, của đã phong phú, chính là nhịp đại hữu vi, hễ những công việc lị dân dụng, hậu dân sinh tất phải lo tấn hành tiếp tục cho sự nghiệp được lâu dài phát đạt nên lại nói lị hữu du vãng.
PHỤ CHÚ: Quái từ này xem có ý như hình tán mạn nhưng thích tóm lại thời ý nghĩa vừa minh bạch và hoàn thiện lắm.
Câu vương cách hữu miếu là cốt nhóm họp bằng tinh thần nên nói lấy tinh thành người mà nhóm họp được thần, thần còn nhóm họp được, huống còn người nữa rư? Đó là căn bản làm nên Tụy.
Nhưng mà Tụy là nhóm, nhóm mà không người đầu bầy thời Tụy không xong, nên phải lị kiến người đại tài đại đức, đó là chương trình bắt đầu làm công việc Tụy. Nhóm bầy tất phải có chủ nghĩa cho chính đảng để quần chúng theo đường lối mà đi nên lại cần phải lị trinh, như thế, tất kết quả được Tụy hanh. Lúc bây giờ lại cần phải dùng đến vật chất và sắp đặt tiến hành những công việc thiện hậu để cho Tụy tụ được lâu dài, nên lại phải dụng đại sinh, cát lị, hữu du vãng.
Tổng chi, căn bản thứ nhất là tinh thành, bắt tay vào làm thời phải có chương trình, có chủ nghĩa, toan đến lúc kết quả, lại phải kiêm có vật chất với những việc lạc lị về phần sau, chúng ta nhận suốt ý nghĩa như thế thời trên mặt chữ Kinh văn, bất tất quá câu nệ.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Tụy tụ dã, thuận dĩ duyệt, cương trung nhi ứng, cố tụ dã. Vương cách hữu miếu, trí hiếu hưởng dã. Lị kiến đại nhân, hanh, tụ, dĩ chính dã. Dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng, thuận thiên mệnh dã. Quan kì sở tụ nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
彖曰: 萃, 聚也, 順以說, 剛中而應, 故聚. 王假有廟, 致孝亨也. 利見大人, 亨, 聚以正也. 用大
牲吉, 利有攸往, 順天命也. 觀其所聚而天地萬物之情可見矣.
Soán viết: Tụy tụ dã, thuận dĩ duyệt, cương trung nhi ứng, cố tụ dã.
Tụy, nghĩa là nhóm đông được người. Theo về đức quẻ, Khôn có tính thuận, Đoài có tính duyệt, thuận với lòng người mà lòng người hòa duyệt, lại bậc trên có đức cương trung tức là Cửu Ngũ mà người ở dưới tất thảy ứng trợ cho. Vì vậy nên nhóm được đông người.
Vương cách hữu miếu, trí hiếu hưởng dã.
Câu Vương cách hữu miếu là nói về phần tinh thần, tất phải chí thành chí kính, in như con cháu hiếu đem lòng chí hành chí kính mà hưởng tổ tiên vậy.
Lị kiến đại nhân, hanh, tụ dĩ chính dã.
Trong thì Tụy mà nhóm họp bằng cách chính đạo tất nhiên trong nhóm đó có đại nhân, bầy mà có người làm chủ thời nhóm được đông mà hanh thông vậy.
Dụng đại sinh cát, lị hữu du vãng, thuận thiên mệnh da.
Sở dĩ nói dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng là vì theo thì Tụy mà ứng phó cho hợp với thì, người nhóm đã đông, sinh sản đã nhiều thời về đường vật chất không thể keo xẻn được, vả công việc phát triển phải lo tiến hoài, chỉ là thuận đạo trời mà làm vậy.
Nghĩa chữ mệnh đây kiêm cả thì với đạo, thuận theo thì trời và đạo trời tức là thuận thiên mệnh.
Quan kì sở tụ nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ
Xem đạo lí sở dĩ Tụy thời tình của thiên hạ vạn vật có thể thấy được, thiên địa có Tụy mới nên được công hóa dục, vạn vật có Tụy mới nên được việc hợp quần.
Trái lại, chỉ tan tan, tác tác, ròi rời, rạc rạc, mỗi cái mỗi đường, mỗi người mỗi nơi, tất đến nỗi tương bội, tương hại, còn gì là tình thiên địa, vạn vật đâu. Vậy nên, muốn thấy được tình thiên địa, vạn vật tất phải xem ở chốn Tụy vậy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Trạch thượng ư địa, Tụy. Quân tử dĩ trừ nhung khí, giới bất ngu.
彖曰: 澤上於地, 萃. 君子以除戎器, 戒不虞.
Quẻ này dưới Khôn, trên Đoài. Khôn tượng là đất, Đoài tượng là nước chằm, nước chằm lên trên mặt đất, tượng là nước có chốn nhóm nên đặt tên quẻ bằng Tụy.
Quân tử xem ở tượng quẻ Tụy mới nghĩ rằng: Hễ nhóm người lại đông thường sinh ra việc tranh nhau, vật nhóm lại nhiều, thường lo có lúc cướp nhau, nên muốn ngăn ngừa cho khỏi cái họa tranh cướp, tất phải trừ nhung khí, để giới bất ngu. Trừ nghĩa là chứa nhóm, cũng có nghĩa là sửa sang; nhung khí là những đồ dùng vào việc binh; bất ngu là những sự biến chẳng ngừa mà nảy ra. Chứa nhóm sửa sang những việc binh, răn đe những sự biến chẳng ngừa mà nảy ra, cốt muốn được thường nhóm mà không tan đó vậy.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Hữu phu bẩt chung, nãi loạn nãi tụy, nhược hào, nhất ác vi tiếu, vật tuất, vãng vô cựu.
初六: 有孚, 不終, 乃亂, 乃萃, 若號, 一握為笑, 勿恤, 往無咎.
Hào Sơ Lục này, chính ứng trên có hào Cửu Tứ: Tứ là dương cương, Sơ là âm nhu, cứ lẽ thời âm dương đáng tương đắc, tin cẩn nhau cho hữu thỉ hữu chung, nhưng vì thì Tụy ba âm nhóm nhau ở Nội Quái, Sơ Lục vì âm nhu chất nhược, giữ chính không được vững vàng, theo dua với hai hào âm mà làm cách nhóm tầm bậy, như thế thiệt là hữu phu bất chung. Có kẻ tin thật với mình mà mình không tin theo cho đến cùng đến nỗi rối loạn cách nhóm của mày (Chữ nãi trên là động từ; chữ nãi dưới là đại danh từ. Nãi nghĩa là mày, chỉ vào Sơ Lục). Người mình đáng tụy mà mình không tụy, thế là nhóm bậy với bầy xằng là nãi loạn nãì tụy.
Hào từ mới nghĩ giùm cho Sơ Lục một cách mà bảo rằng: Sơ kia ơi! Mày vẫn dở theo lầm bầy tiểu nhân, nhưng mày vẫn có chính ứng của mày kia mà, phỏng khiến mày biết dại mà hô hào chính ứng cùa mày, chắc có một tốp kia xúm nhau cười, nhưng mày thây kệ nó, chớ ái ngại gì, cứ giữ chủ nghĩa mình mà đi theo chính ứng thời không tội lỗi gì. Nhất ác nghĩa là một xúm người là chỉ vào bầy nhị âm; Vật tuất là có ý như chẳng quản, nó có cười cũng kệ thây; vãng nghĩa là đi theo bạn dương cương.
Tượng viết: Nãi loạn nãi tụy, kì chí loạn dã.
象曰: 乃亂, 乃萃, 其志亂也.
Nguyên Sơ Lục với Cửu Tứ là sẵn có bạn tụy rất chính đáng; vì tâm chí Sơ quá nhu nhược, dễ cho bầy nhị âm rối loạn được, chí Sơ đã loạn thời nhóm có chính đáng nữa đâu, nên nói nãi loạn nãi tụy.
PHỤ CHÚ: Từ nhược hào sắp xuống bốn câu là dạy vẽ cho Sơ Lục nhưng không chắc Sơ Lục đã làm được như thế, nên Tượng Truyện không nhắc đến bốn câu dưới.
2. Lục Nhị: Dẫn cát, vô cựu, phu nãi lị, dụng thược.
六二: 引吉, 無咎, 孚乃利, 用禴.
Lục Nhị âm nhu mà trung chính, thượng ứng với Cửu Ngũ cũng dương cương, trung chính, hai hào trung chính ứng với nhau là một đám nhóm rất tốt trong thì Tụy, nhưng còn hiềm địa vị Nhị chen vào giữa nhị âm mà Nhị với Ngũ xa nhau nên thánh nhân mới răn cho rằng: Nhị ơi! Mày phải biết, người mà mày đã định tụy đó đủ đức dương cương, trung chính, mày nên dắt kéo bạn bầy mày để lên nhóm với Ngũ thời bản thân mày được tốt lành mà chúng bạn mày tất thẩy không tội lỗi. Tuy nhiên, đạo Tụy cốt nhất là chí thành. Nếu Nhị lấy lòng chí thành và thượng ứng với Ngũ thời Ngũ cũng lấy chí thành mà hạ giao với Nhị, nhóm nhau bằng cách chí thành thời văn sức chẳng cần gì phiền, vật chất chẳng cần gì thịnh. Ví như chí thành tế thần mà dùng một cách đơn giản như lệ tế nhược là vừa xong. Nếu quả được tinh thành như thế thời có lẽ nhóm được cả thiên hạ, chẳng những Nhị với Ngũ nhóm với nhau mà thôi. Hào từ đây chỉ cốt có hai chữ, chữ "dẫn" với chữ "phu”. Dẫn là thuộc về thủ đoạn, phu là thuộc về tinh thần.
Lấy một mình mà dắt kéo cả trên dưới tởi nhóm với Cửu Ngũ là thủ đoạn rất hay. Trước khi chưa nhóm mà đức trung chính thành thực đã đủ cho người tin, đương khi đã nhóm mà trọng thành tín, giảm hư văn, càng khiến cho thiên hạ dốc lòng tín ngưỡng, đó là tinh thần rất tốt, đủ nghĩa cho cả hai chữ ấy nên được cát vô cựu.
Tượng viết: Dẫn cát, vô cựu, trung vị biến dã.
象曰: 引吉無咎, 中未變也.
Lục Nhị vẫn ứng với Cửu Ngũ nhưng ở chen vào khoảng nhị âm, bây giờ dắt cả Sơ, Tam lên tụy với Ngũ, như thế là đức trung của Ngũ không bao giờ biến vậy. Nếu đúc trung có biến thời còn dẫn được ai
3. Lục Tam: Tụy như, ta như, vô du lị, vãng vô cựu, tiểu lẫn.
六三: 萃如, 嗟如, 無攸利, 往無咎, 小吝.
Thông thường Tam với Thượng là tương ứng, nhưng Tam âm nhu, Thượng cũng âm nhu nên Tam có ý không khuynh hướng với Thượng, bởi vì địa vị Tam gần Tứ, Ngũ là hai hào dương cương nên Tam muốn cầu tụy với Tứ, Ngũ; nhưng Tứ đã ứng với Sơ, Ngũ đã ứng với Nhị thời họ đã có chính ứng của họ, lại thấy Tam là hạng người âm nhu, bất trung, bất chính nên Tứ, Ngũ chẳng thèm nhóm cùng. Tam muốn tụy nhóm bao nhiêu, lại càng âu sầu bấy nhiêu, chẳng có gì là tốt đâu (Chữ như là trợ ngữ từ). Muốn tụy mà không được nên phải than thở.
Như thế thời chỉ có một phương pháp: Ở Ngoại Quái có hào Thượng là bạn đồng loại với Tam vả lại ở vào vị tương ứng, Tam nên tấn lên cầu tụy với Thượng, cũng không tội lỗi gì. Bởi vì những người có thế lực đã không chịu ứng với mình mà có bạn cùng giao ở phương xa thời mình cũng nên kết nạp. Ở về thì Tụy mà như thế, Tụy có xấu thẹn chút đỉnh, nhưng về đạo lí phải, vẫn là vô cựu.
Tượng viết: Vãng vô cựu, thượng tốn dã.
象曰: 往無咎, 上巽也. Hào từ bảo cho Tam: phải tấn lên theo hào Thượng là vì Thượng có tính tốn thuận, Tam vãng cầu với Thượng thời Thượng cũng thuận thụ mà ứng vậy.
4. Cửu Tứ: Đại
cát, vô cựu. 九四: 大吉, 無咎.
Cửu Tứ có đức dương cương, vẫn là người tốt, nhưng sở xử lại vào vị âm, có hiềm vì bất chính, duy Tứ ở vào thì Tụy lại thân cận với Cửu Ngũ là hai hào đồng đức nên kẻ trên người dưới thảy khuynh hướng vào. Trên thời Cửu Ngũ, dưới thời quần âm, thảy xúm nhau nhóm ở trước Tứ; hoàn cảnh Tứ như thế, thời thế Tứ như thế, muốn cho được hoàn toàn mỹ mãn, há phải dễ đâu! Nên Hào từ răn rằng: Tất phải đại cát mới được vô cựu. Chữ đại cát là tạo nhân, chữ vô cựu là kết quả, nghĩa là: Trước đại cát, sau mới vô cựu, trái lại, bất cát thời hữu cựu.
Đại nghĩa là quy mô cho thiệt rộng lớn mà chớ chật hẹp; cát là hành động cho thiệt tốt lành mà chớ sai suyễn. Nếu có việc gì sai đạo trái lí, tất là nhóm không được chính, có làm gì được vô cựu nữa rư?
Tượng viết: Đại cát vô cựu, vị bất đáng dã.
象曰: 大吉無咎, 位不當也.
Hào từ sở dĩ phải có bài răn là vì dương hào ở vào âm vị, vị đã bất đáng nên nghi không được cát chăng? Phải dặn cho rằng: Có được đại cát thời mới được vô cựu.
5. Cửu Ngũ: Tụy hữu vị, vô cựu, phỉ phu, nguyên vĩnh trinh, hối vong.
九五: 萃有位, 無咎, 匪孚, 元永貞, 悔亡.
Quẻ này bốn âm khuynh hướng vào nhị dương, nhưng Tứ mới bước vào quẻ trên chứ chưa phải ở vào vị chí tôn, duy Ngũ đã có đức dương cương lại ở vị chí tôn làm một người nguyên thủ của thiên hạ, đức rất thịnh mà vị lại rất tôn, chắc người thiên hạ thảy nhóm vào mà không có gì là tội lỗi.
Vì ở kề cạnh mình có Cửu Tứ, Tứ cũng là một người có giá trị trong thì Tụy, thế lực Ngũ e chưa chắc đã thống nhất được mà nhân tình thì Tụy cũng chưa dễ thống nhất.
Ngũ tuy hữu vị mà e còn có người chẳng tín phục, nhưng điều đó chẳng lo gì, vị đã sẵn rồi thời Ngũ chỉ nên tu đức thêm, đức mình làm cho xứng đáng vị nguyên thủ mà lại lâu dài trinh cố. Bất tức, tắc cửu; cửu, tắc trừng; trừng, tắc du viễn. Tinh thành đã đến nơi thời những người xưa kia chưa phục, bây giờ cũng thảy quy phục, chẳng còn việc gì phải ăn năn. Nguyên, vĩnh, trinh, ba chữ ba nghĩa: Nguyên nghĩa là làm cho xứng đáng người nguyên thủ; vĩnh nghĩa là lâu dài mà không nghỉ; trinh nghĩa là trinh chính vững bền.
Tượng viết: Tụy hữu vị, chí vị quang dã.
象曰: 萃有位, 志未光也.
Ở thì Tụy mà lại hữu vi như Cửu Ngũ: cớ sao còn phỉ phu? Là vì chí thành tín của mình chưa quang đại vậy. Nếu đã tả ra đức nguyên, vĩnh, trinh, thế là chí quang đại rồi, chắc không còn ai phỉ phu nữa.
6. Thượng Lục: Tê tư, thế di, vô cựu.
上九: 齎咨, 涕演, 无咎.
Thượng Lục âm nhu ở vào trên hết thì Tụy mà lại thì Tụy đã đến cuối cùng, một người tư cách đã tiểu nhân mà lại xử vào thì vị như thế, muốn cầu tụy với ai mà không ai chịu tụy với mình, chỉ duy than thở khóc lóc mà không biết trách với ai. Tê tư nghĩa là than thở; thế nghĩa là khóc chảy nước mắc; di nghĩa là khóc chảy nước mũi.
Tượng viết: Tê tư, thế di, vị an thượng dã.
象曰: 齎咨, 涕演, 未安上也.
Thượng Lục ở về vị trên cao, nhưng vì tài đức quá hèn hạ, không thể ở an được dằm trên, đến nỗi tê tư thế di, chính là tình trạng của đức tiểu nhân như thế.
PHỤ CHÚ: Chữ vô cựu đây, với chữ vô cựu ở Thượng Cửu quẻ Cấu nghĩa in như nhau, vô cựu là kết quả xấu; còn vô cựu ở mọi hào ở các quẻ thời lại phần nhiều là thuộc về kết quả tốt.
Tụy vẫn là một việc rất tốt trong loài người, vô luận quốc gia nào, dân tộc nào, xã hội nào, tất phải có nhóm họp đông mới làm nên mọi việc, vậy nên Quái từ nói rằng Tụy hanh mà sáu hào không thấy chữ hung, nhưng Quái hào toàn quẻ được chữ cát cũng chỉ có ba chữ là vì cớ sao?
Là vì trong sự nhóm họp thường có hai phương diện: Một phương diện là có tài chủ động mà nhóm được người, một phương diện là bị động mà nhóm hùa theo người.
Phương diện chủ động là phần thiểu số, tất phải như Lục Nhị, Cửu Ngũ. Lục Nhị tuy vị còn thấp mà đức rất cao. Cửu Ngũ đức đã cao mà vị lại trỗi, chính như Quái từ nói rằng lị kiến đại nhân mới nhóm họp được người.
Thứ nữa cũng phải như Cửu Tứ, tài đức đã khá tốt mà địa vị lại xử gần bậc chí tôn, uy quyền trong tay, hoàn cảnh lại thuận lị, cũng có thể nhóm họp được người, chính là thời thế tạo anh hùng, mới mong làm nên sự nghiệp Tụy. Vậy nên, Cửu Nhị có chữ dẫn cát, Cửu Tứ có chữ đại cát; Cửu Ngũ có chữ hối vong.
Nếu chẳng thế, vô vị như hào Sơ, hào Thượng, bán thượng lạc hạ như hào Tam mà lại tài đức chẳng hơn ai thời chẳng những không nhóm họp được người mà muốn nhóm họp theo người cũng gay go lắm. Vậy nên hào Sơ thời nói nãi loạn nãi tụy, hào Tam thời tụy như ta như, hào Thượng thời tê tư thế di; chúng ta mới biết có đức mà không vị vẫn không làm nên Tụy, có vị mà không đức lại càng không làm được nên Tụy.
Ở vào thì Tụy mà khó tụy như thế, há phải chỉ chắc ở thời thế mà không dòm vào tư cơ trí tuệ hay sao?
Xem trong sáu hào mà chỉ hai hào có chữ cát, chúng ta sẽ hiểu.
46. QUẺ ĐỊA PHONG THĂNG
Khôn trên; Tốn dưới
Quẻ này là quẻ Địa Phong Thăng. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Khôn thượng cũng là Ngoại Khôn. Khôn địa, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Địa Phong Thăng.
TỰ QUÁI
Tự quái: Tụy giả tụ dã. Tụ nhi thượng giả, vị chi thăng; cố thụ chi dĩ Thăng.
序卦: 萃者聚也, 聚而上也, 謂之故升, 故受之以升.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tụy, tiếp lấy quẻ Thăng là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Tụy. Tụy, nghĩa là nhóm, vật đã nhóm lại, tất cứ chồng chất lên lần lần, nên sau quẻ Tụy tiếp lấy quẻ Thăng; Thăng, nghĩa là chồng chất lên cao.
Khôn là địa, Tốn là mộc, cây ở dưới đất, tất phải mọc lên, lên càng lớn, lớn càng cao. Thế là thượng thăng, nên đặt tên quẻ bằng Thăng.
SOÁN TỪ
Thăng, nguyên hanh, dụng kiến đại nhân, vật tuất, Nam chinh, cát.
升元亨, 用見大人, 勿恤, 南征吉.
Quái từ ở đây, chỉ lấy nghĩa bằng chữ Thăng, hễ đã tiến lên được, buồm theo gió thuận, ngựa ruổi đường trời, chắc là được đại thông, nhưng mà sở dĩ được nguyên hanh, chẳng những vì thời thế xui nên mà thôi, trong thời đại ấy, tất phải có hạng người đại tài đại đức mà thiên hạ tín ngưỡng là đại nhân.
Nếu quả như thế thời chẳng cần lo ngại gì. Duy có một mực tiền tiến mà sự nghiệp phát triển hoài. Nam nghĩa là mặt trước; Nam chinh, nhè mặt trước mà tiến lên hoài.
Hai chữ Nam chinh là hình dung ý tiền tiến; cát tức là tượng nguyên hanh; chớ nệ rằng Nam chinh là đi phương Nam.
PHỤ CHÚ: Quái từ trong Dịch chỉ có hai chữ nguyên hanh mà chẳng phải răn bằng lị trinh, như thế, chỉ được có ba quẻ là Đại Hữu, Đỉnh, Thăng, như ba quẻ ấy là rất đắc thì hành đạo.
Thăng là thì quân tử tấn hành không trở ngại; Đỉnh là thì quân tử được hưởng thiên lộc; Đại Hữu là thì quân tử được đại hữu vi, quân tử đắc chí không bao giờ hơn ba quẻ ấy. Vậy nên, Quái từ chỉ nói, hai chữ nguyên hanh mà không cần răn bằng lị trinh. Bây giờ ta xét đến Quái thể ba quẻ ấy, tất thảy là Cửu cư Nhị: Lục cư Ngũ: mới biết rằng: Ở trong cương mà có nhu, trong nhu mà có cương, và thảy đắc trung, cương, nhu đắc trung mà ứng với nhau, mới hay tạo thành thời thế như ba quẻ ấy, thiên thì, nhân sự, dắt nhau mà lên, há phải lời nói không rư?
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Nhu dĩ thì thăng, tốn nhi thuận, cương trung nhi ứng, thị dĩ đại hanh. Dụng kiến đại nhân, vật tuất, hữu khánh dã. Nam chinh cát, chí hành dã.
彖曰: 柔以時升, 噀而順, 剛中而應, 是以大亨. 用見大人, 勿恤, 有慶也. 南征吉, 志行也.
Soán viết: Nhu dĩ thì thăng.
Theo như thể quẻ Thăng thời Khôn là âm nhu mà tiến lên Thượng Quái, ấy là theo thì mà thăng đó vậy. Cương thượng thăng là lẽ thường, Bây giờ, trái lại, nhu mà thượng thăng là vì thì nên như thế, nên nói rằng: Nhu dĩ thì thăng. Vậy có thực thì mới nói được Dịch.
Tốn nhi thuận, cương trung nhi ứng, thị dĩ đại hanh.
Nội Tốn là có tính tốn, Ngoại Khôn là có tính thuận, Cửu Nhị có đức cương trung ứng với Lục Ngũ, Ngũ lấy đức nhu trung ứng với Nhị, ấy là tốn nhi thuận, cương trung nhi ứng, vì vậy nên được đại hanh.
Dụng kiến đại nhân, vật tuất, hữu khánh dã.
Thế đạo tuy có lúc đến thăng, nhưng mà làm nên thăng, tất nhiên do ở nhân sự. Vương công thời thăng ở vị, thánh hiền thời thăng ở đạo, có đạo thánh hiển mà lại có vị vương công, chính là bậc đại nhân ở thì Thăng. Thiên hạ thấy được bậc đại nhân ấy thời chẳng cần lo gì mà chắc có phúc khánh đó vậy. Chữ đại nhân chỉ vào Cửu Nhị, hễ có đức cương trung, mới đáng được chữ đại nhân.
Nam chinh cát, chí hành dã.
Ở vào thì Thăng mà lại kiến được đại nhân thời chí của mình tiền tiến, chắc không ai ngăn đón được nữa, nên nói rằng Nam chinh cát, chí hành dã.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Địa trung sanh mộc, Thăng. Quân tử dĩ thuận đức, tích tiểu dĩ cao đại.
象曰: 地中生木, 升, 君子以順德, 積小以高大.
Tốn ở dưới Khôn, Khôn là đất, Tốn là cây, cây mọc lên ở giữa đất, đất làm tốt cho cây, cây càng ngày càng cao lớn, thế là tượng quẻ Thăng. Quân tử xem tượng ấy, thuận đường lối mà tu đức mình, tích lũy từ lúc nhỏ mà lần cao đến tột mực (Chữ thuận đức ở đây chỉ cắt nghĩa xuôi, nghĩa là, thuận theo lối đạo đức).
Sách Sử kí có câu “thuận đức giả xương”, cũng là nghĩa ấy. Còn chữ thuận đức ở mọi nơi, phần nhiều cắt nghĩa ngược lại, nghĩa là đức thuận.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện ở đây rất hay là chữ tích. Hệ tử đã nói rằng: Việc lành không chứa trữ, không đủ thành được danh. Nếu muốn thăng mà không tích thời không bao giờ thăng được.
Tích, nghĩa là chồng chứa lại, ví như trèo thang, tất bắt đầu trèo từ bậc dưới hết mà trèo dần lên hoài thời dầu thang dài đến mấy bậc cũng lên tới nơi. Ví như đắp tháp, tất bắt đầu đắp từ nền dưới hết mà tích lớp đắp hoài thời tháp dầu cao mấy tầng cũng xây nên, cho nên công nghiệp làm thăng, tất trước phải tích tiểu.
Bây giờ nói tới sự nghiệp cao đại, chúng ta ai chẳng muốn làm, mà nói tích tiểu thiện thời lại chẳng ai muốn làm, té ra cất chân một bước mà muốn vượt tới mười bậc thang, sắp đất một hòn mà muốn xây nên mười tầng tháp, thiệt là vô lí. Vậy nên, muốn xây một lâu đài Thăng, tất phải lấy thuận đức tích tiểu làm nền tảng vậy.
Xưa Lưu Huyền Đức có nói rằng: Chớ khinh điều thiện nhỏ mà không làm. Sách Trung Dung có câu: Đạo của quân tử, ví như lên cao, tất khỉ tự chốn thấp là nghĩa chữ tích ở đây.
HÀO TỬ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Doãn thăng, đại cát.
初六: 允升, 大吉.
Sơ Lục tính chất âm nhu, ở dưới thể Tốn làm chủ cho Tốn là người rất có đức tốn thuận, đương ở thì Thăng mà hay tốn thuận với hai dương ở trên mình, nhờ bạn dương cương mà dắt mình lên. Thế là vì có lòng tin theo mà thăng được, tốt lành rất lớn đó vậy.
Tượng viết: Doãn thăng đại cát, thượng hợp chí dã.
象曰: 允升大吉, 上合志也.
Ở đầu thì Thăng mà được doãn thăng đại cát là vì có hai hào dương ở trên, đồng chí với Sơ vậy.
PHỤ CHÚ: Hào Lục Tam quẻ Tấn có chữ chúng doãn vì có hai âm ở dưới tin mình mà mình tấn được, Sơ Lục quẻ Thăng, có chữ doãn thăng vì ở trên có hai dương tin mình mà mình thăng được.
Chúng ta xem ở chữ doãn; doãn nghĩa là tin, bạn âm tin nhau mà được hối vong, dương với âm tin nhau mà được đại cát. Thế mới biết, trong xã hội, vô luận hạng người nào, hễ đã đồng công cộng sự với nhau, tất có tin nhau mới mong có hiệu quả. Trái lại, nghi nhau, ghét nhau mà mong làm sự nghiệp tấn thăng, té ra muốn bay mà xén mất cánh, muốn đi mà cắt quách chân, có làm gì nên. Vậy nên, Tượng Truyện kết thúc lấy chữ Hợp chí.
2. Cửu Nhị: Phu nãi lị dụng thược, vô cựu.
九二: 孚乃利 用禴, 無咎.
Cửu Nhị chính ứng với Lục Ngũ; Cửu Nhị dương cương mà ở dưới, Lục Ngũ âm nhu mà ở trên, tính chất khác nhau, bên minh bên ám, địa vị khác nhau, bên tôn bên ti, thế mà chung nhau làm sự nghiệp Thăng ở thì Thăng. Nếu không phải cảm nhau bằng cách chí thành thời kẻ trên nghi kẻ dưới, kẻ dưới né kẻ trên, chẳng bao giờ thăng được nên Hào từ nói rằng: Nhị đã ứng với Ngũ: Ngũ tuy nhu nhược mặc lòng, Nhị nên lấy đức dương cương mà giùm giúp cho Ngũ; cần phải hết lòng chí thành mà cảm cách với người trên, tất nhiên người trên cũng lấy chí thành mà tín nhậm mình.
Thành ý đã cố kết cả hai bên thời ngoại sức phiền văn chẳng cần dùng đến, tỉ như tế thần mà chỉ lấy chí thành cảm thần, lễ vật rất đơn sơ như tế thược, nhưng hữu thành thời hữu thần, không cần gì lễ vật ráo.
Phu, nghĩa là chí thành; lị dụng thược nghĩa là trọng chí thành, không cần văn sức. Như thế thời được vô cựu.
Tượng viết: Cửu Nhị chi phu, hữu hỉ dã.
象曰: 九二之孚, 有喜也.
Cửu Nhị lấy chí thành mà cảm cách được Lục Ngũ: thời chẳng những vô cựu mà thôi lại còn bố thí được ân trạch khắp thiên hạ là việc đáng vui vẻ lắm vậy.
3. Cửu Tam: Thăng hư ấp.
九三: 升虛邑.
Dương hào ở dương vị, vẫn là đã đắc chính, lại ở trên hết Nội Tốn là Tốn chi cực; có tài dương cương mà lại pha vào đức tốn thuận nên tam âm ở trên thảy thuận theo với mình; ở vào thì Thăng mà sức lên của mình đã giỏi, người dắt mình lên lại đông, thăng tới đâu cũng được một cách dễ dàng, tượng như vào một ấp bỏ trống không ai ngăn cản.
Tượng viết: Thăng hư ấp, vô sở nghi dã.
象曰: 升虛邑, 無所疑也.
Cửu Tam có tài dương cương, có đức tốn thuận mà lại đông bạn, gặp thì, thăng quá dễ dàng như nhập vô nhân chi ấp, thiệt không nghi ngại gì nữa.
4. Lục Tứ: Vương dụng hanh vu Kì Sơn, cát, vô cựu.
六四: 王用亨于岐山, 吉, 無咎.
Lục Tứ có đức nhu thuận đắc chính, lại ở vào thể quẻ trên, địa vị mình lại ở gần Lục Ngũ, như ở vào đời phong kiến thời chính là vua một nước chư hầu, trên giúp sự nghiệp thăng cho thiên tử, dưới dắt quần hiền mà thăng tiến với mình, đưa dân một nước lên cõi thanh bình. Ngày xưa vua Văn Vương đã từng dùng đạo ấy mà hanh thịnh ở Kì Sơn nên Hào từ nói rằng: Vương dụng hanh vu Kì Sơn.
Người ta ở vào địa vị Tứ mà nếu được như thế thời cũng in như vua Văn Vương, đã cát mà lại vô cựu.
Tượng viết: Vương dụng hanh vu Kì Sơn, thuận sự dã.
象曰: 王用亨于岐山, 順事也.
Vương dụng hanh vu Kì Sơn chỉ là thuận theo thì nên thăng mà thăng, trên thời thuận với việc người trên, dưới thời thuận với việc người dưới, thuận theo như nghĩa vụ của mình, thảy là một việc thuận mà thôi.
PHỤ CHÚ: Hào từ này vẫn rất tốt, đáng có chữ Thăng như mọi hào, cớ sao không có chữ Thăng?
Bởi vì hào Tứ bức cận với Ngũ; Ngũ là địa vị rất tôn, nếu giữa bản thân Tứ mà còn có chữ Thăng thời thăng vào đâu, tất phải đánh đổ Ngũ, nên Hào từ không có chữ Thăng, cốt để tránh khỏi họa bức thượng nên Tượng Truyện lại thêm vào hai chữ thuận sự thời ý nghĩa lại càng rõ lắm. Nguyên lai, Dịch lí thường ở chốn không chữ. Xem như Hào từ không chữ Thăng, chúng ta đọc Dịch nên để ý vào chốn ấy.
5. Lục Ngũ: Trinh cát, thăng giai.
六五: 貞吉, 升階.
Lục Ngũ bản chất tuy âm nhu, nhưng ở vào vị dương cương mà lại đắc trung, ở dưới có Cửu Nhị là bậc hiền thần, có đức cương trung, đem lòng phu tín mà giúp đỡ cho Ngũ. Chắc hay trinh cố mà chuyên nhậm hiền thần, tất nhiên được cát, vả lại các bậc hiền thần ở dưới thảy làm bậc thềm cho Ngũ lên vậy.
Trinh cát thăng giai nghĩa là giữ được trinh thời cát mà lên dễ như bước lên thềm vậy. Giai nghĩa là bậc thềm; thăng giai là thí dụ một cách lên rất dễ, cũng như thăng hư ấp ở hào Tam.
Tượng viết: Trinh cát thăng giai, đại đắc chí dã.
象曰: 貞吉, 升階, 大得志也. Trinh cát mà thăng được giai, lúc bây giờ chí mình ra làm việc thiên hạ, sẽ dắt người thiên hạ lên, mới là thỏa thích lắm vậy.
PHỤ CHÚ: Trên kia Soán từ nói Nam chinh, cát, thời Soán Truyện nói: Chí hành dã, ở Hào từ đây Tượng Truyện lại nói: Đại đắc chí dã. Hai chữ chí đó chỉ có một chữ, nhưng chúng ta phải biết, chí đó là chí gì?
Xưa nay, quân tử ở về thì Thăng, mục đích Thăng há phải muốn lên ngồi cao rư! Dắt thế đạo cho lên tháp đại đồng, đẩy nhân loại cho lên đài cực lạc, thế mới đạt mục đích Thăng của quân tử. Nói cho đúng, chí tại thiên hạ mà không phải chí tại thân gia nên nói rằng đại đắc. Nếu chí tại thân gia thời ty bỉ nhỏ mọn lắm làm sao mà gọi bằng đại được rư!
6. Thượng Lục: Minh thăng, lị vu bất tức chi trinh.
上六: 冥升, 利于不息之貞.
Thượng Lục ở trên hết quẻ Thăng, thế là thì Thăng đạt ở cực đỉểm, nhưng vì tính chất âm nhu hôn ám, thăng đã cực rồi mà còn cầu thăng hoài, tâm sự của Thượng thiệt là người hôn minh ở thì Thăng vậy. Lòng cầu thăng bất dĩ như thế, thiệt chẳng đi đâu mà lị, nhưng quân tử xử vào thì vi ấy thời lại có một cách rất hay, đổi lòng cầu thăng bất dĩ mà chuyển làm lòng tự cường bất tức, chẳng cầu thăng ở nơi địa vị mà chỉ cầu thăng ở nơi đạo đức, đạo đức trinh chính chẳng bao giờ nghỉ, dụng lòng cầu thăng vào chốn ấy thời lại rất hay.
PHỤ CHÚ: Thăng đã đến cực rồi mà còn cầu thăng, lấy tâm sự ấy mà thiệp thế thời không gì là hay, nhưng xây vào việc tu đức thời lại rất hay. Trung Dung khen vua Văn Vương thuần diệc bất dĩ 純亦不已, khen bậc thánh nhân chí thành bất tức 至誠不息, thảy là lị vu bất tức chi trinh 利 于不息之貞.
Vị mà cầu thăng không thối thời là tiểu nhân cực điểm; đạo đức mà cầu thăng không thối thời là quân tử cực điểm, cũng một tâm sự tác dụng mà thánh, phàm khác nhau xa, ai ngờ Hào từ phát huy ý nghĩa như thế, mới biết thì nghĩa của Dịch chẳng bao giờ tuyệt đối xấu, chỉ cốt độc giả biết biến thông mà thôi.
Tượng viết: Minh thăng tạì thượng, tiêu, bất phú dã.
象曰: 冥升在上, 消, 不富也.
Ở trên hết quẻ mà còn minh thăng, tất nhiên thăng cực tất giáng, trưởng cực tất tiêu, còn có gì thêm được nữa. Chữ tiêu là ngậm ý chữ giáng, tức là tiêu; chữ phú đây là không phải danh từ, chỉ là động từ, phú là gia thêm vào; không lên thêm được nữa, tức là bất phú. Chẳng thăng được nữa, tất phải giáng.
47. QUẺ TRẠCH THỦY KHỐN
Đoái trên; Khảm dưới
Quẻ này là quẻ Trạch Thủy Khốn. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Khảm thủy, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Thủy Khốn.
TỰ QUÁI
Tự quái: Thăng nhi bất dĩ, tất khốn, cố thụ chi dĩ Khốn.
序卦: 升而不已必困, 故受之以困.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Thăng tiếp lấy quẻ Khôn là vì cớ sao?
Trên kia là quẻ Thăng. Thăng, nghĩa là lên, lên mãi không thối, tất nhiên phải khốn. Tỉ như Thăng đã lên bậc cuối cùng mà còn cứ trèo lên, tất nhiên phải té mà chết.
Vậy nên sau quẻ Thăng, tiếp lấy quẻ Khốn. Khốn cũng có nghĩa là khốn khổ.
Theo về thể quẻ, Đoài âm ở trên, Khảm dương ở dưới; Ngoại Quái, nhị dương ở dưới nhất âm, Nội Quái, nhất dương sụp vào giữa nhị âm, thảy là dương cương bị âm nhu che lấp. Thế là quân tử sụp vào tay tiểu nhân, thiệt là thế đạo đương lúc cùng khốn nên tên quẻ đặt bằng Khốn.
SOÁN TỪ
Khốn hanh trinh, đại nhân cát, vô cựu, hữu ngôn bất tín.
困亨貞, 大人吉, 無咎, 有言不信.
Ở về thì Khốn, theo như mắt thế tục, thấy Khốn thời chỉ là Khốn, có gì là thông thái đâu. Nhưng theo về mắt thánh hiền thời Khốn lại là hanh nên nói rằng: Khốn, hanh. Khốn hanh là có nghĩa một là thân mình tuy khốn, nhưng thì cùng mới thấy tiết nghĩa, cảnh nghịch mới thấy phẩm người, thân tuy khốn mà đạo mình vẫn hanh thông, đó là một nghĩa. Lại còn một nghĩa bao nhiêu cảnh cùng khốn là hòn đá mài của tạo hóa mài luyện anh hùng, mà cũng là lò lửa nóng của thiên nhiên để đức nung chí sĩ, càng khốn tâm hành lự đến bao nhiêu lại càng tăng ích sở bất năng đến bấy nhiêu, nhân giữa lúc thất bại mà đức nên cái khuôn mẫu thành công, chính là khốn mà hanh đó vậy.
Nhưng mà lẽ khốn, hanh đó há phải aì nấy cũng thấy đâu, tiểu nhân đụng Khốn thời biến tiết ngay, dung nhân đụng Khốn thời càng trụy lạc, nên tất phải hạng người có lòng trinh chính, có tài đức đại nhân, mới đương được cảnh Khốn, chống được thì Khốn, mà làm được khốn nhi hanh, như thế thời cát mà vô cựu. Nên nói rằng: Trinh, đại nhân, cát vô cựu, nghĩa là có đức trinh, có tư cách đại nhân, mới hay đương thì Khôn mà cát lại vô cựu. Trái lại, nếu hạng người bất trinh và tiểu nhân, tất nhiên hung vả hữu cựu.
Trên đây nói cho rõ nghĩa khốn hanh, nhưng mà chỉ nghĩa đặc biệt về phần quân tử, đây lại dạy một cách cho hạng người phổ thông.
Hễ thế đạo đã đến thì Khốn tất nhiên cường quyền lồng loạt, công lí tối tăm, dầu có nói phô biện bạch cũng chỉ chịu oan ngậm khuất mà thôi. Nghĩa là dầu có nói phô những lẽ chính trực cũng chẳng thân được, người ta ở thì ấy chỉ nên kín lặng giữ miệng là hay. Chữ "Thân" phản đối với chữ "Khuất" (Thân, nghĩa là ngay duỗi).
Công lí đã không ngay duỗi được thời còn nói làm gì. Hữu ngôn bất thân là răn cho người ở thì Khốn, không nên đua nói.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Khốn, cương yểm dã, hiểm dĩ duyệt, Khốn nhi bất thất kì sở hanh, kì duy quân tử hồ. Trinh, đại nhân cát, dĩ cương trung dã; hữu ngôn bất tín, thượng khẩu nãi cùng dã.
彖曰: 困剛掩也, 險以説, 困而不失其亨, 其唯君子乎. 貞, 大人吉, 以剛中也; 有言不信, 尚口 乃窮也.
Soán viết: Khốn, cương, yểm dã.
Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng Khôn, bởi vì Khảm dương ở dưới, Đoài âm ở trên. Thế là quân tử dương cương, bị tiểu nhân che bịt. Thì ấy chính là quân tử đạo Khốn nên đặt tên quẻ bằng Khốn. Yểm nghĩa là che sụp.
Hiểm dĩ duyệt, Khốn nhi bất thất kì sở hanh, kì duy quân tử hồ.
Đây là thích nghĩa chữ Khốn hanh. Theo về thể quẻ, hạ Khảm là hiểm, thượng Đoài là duyệt. Thế là trong hiểm mà vẫn cứ hòa duyệt. Theo ở hoàn cảnh thời vẫn là Khốn, nhưng mà trong tâm lí thời vẫn thản nhiên tự đắc, xem bằng một cách rất hanh thông. Thế là ở hanh thông không bao giờ mất. Được như thế, chắc chỉ bậc quân tử mà thôi.
PHỤ CHÚ: Quái từ nói rằng Khốn hanh, đây Soán Truyện lại nói rằng kì duy quân tử hồ. Thế thời hai chữ Khốn hanh chẳng phải riêng về quân tử hay sao?
Thiệt có thế, người thường khốn ở cảnh thời khốn đến cả tâm. Khốn ở chí thời khốn đến cả đạo; chỉ duy quân tử, cảnh tuy khốn mà tâm vẫn hanh, thì tuy khốn mà đạo vẫn hanh.
Tức như: Đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái bảy ngày mà đánh đàn, đọc sách không ngớt tiếng. Vua Văn Vương bị tù ở Dữ Lí chín năm mà cắm đầu diễn Dịch không ngớt bút, chẳng phải là Khốn mà hanh hay sao?
Tuy nhiên, có địa vị như Văn Vương, có tài đức như Khổng Tử mà gặp lấy cảnh tuyệt lương, bị tù, mới gọi bằng Khốn. Nhân vì có cảnh Khốn ấy mới tỏ rõ ra thánh nhân mới gọi rằng: Khốn nhi hanh.
Nếu những hạng người địa vị tài học thiên vạn bất cập hai người ấy thời Khốn là sự thường mà cũng không thế nào hanh được.
Vậy nên Soán Truyện nói rằng: Kì duy quân tử hồ. Câu nói ấy chẳng bênh riêng gì quân tử nhưng vẫn trông mong cho loài người ai nấy cũng làm quân tử.
Trong thì Khốn, chẳng ai là tuyệt đối không khốn, nhưng mà Khốn hanh thời hiếm quá.
Trinh đại nhân cát, dĩ cương trung dã.
Thông thường, người ta xử vào thì Khốn, chẳng biến tâm dịch tiết, tất chán đời bỏ mình.
Như Dương Hùng, ủy thân với Vương Mãng Giả Nghị đau khóc mà đến nỗi chết, đó là vì cố không đủ đức cương trung. Thiếu đức cương thời không gan chống nổi hoàn cảnh; thiếu đức trung thời hay chạy cuồng vào lối quá khích. Chỉ duy một hạng người có đức cương lại có đạo trung mới được cát. Vậy nên, Khốn mà vẫn cứ trinh, Khốn mà vẫn cứ tỏ ra cách đại nhân, nên Quái từ nói rằng: Trinh đại nhân cát.
Chữ đại nhân ở đây không phải đại nhân ở quẻ Càn mà chính là đại nhân ở quẻ Bĩ.
Lục Nhị quẻ Bĩ có câu rằng: Đại nhân bĩ hanh, tức là đại nhân cát ở quẻ Khốn.
Hữu ngôn bất tín, thượng khẩu nãi cùng dã.
Ở vào thì Khốn, chính là thì hữu cường quyền vô công lí, dầu mình có biện bạch, cũng chẳng thế nào thân được lẽ phải, âu là câm miệng cho rồi, nếu cứ đua miệng chi là thêm khốn cùng.
Thượng khẩu nghĩa là đua miệng. Hai chữ ấy rất nhiều nghĩa. Tỉ như: Múa miệng để lấy tiếng, xảo ngôn để cầu người thương, hoặc là bới móc tội người để mong mình khỏi tội, hoặc dùng hai lưõì để mong lừa phỉnh người, thảy gọi bằng thượng khẩu, nhưng đến lúc cuối cùng chỉ thêm vào khốn cùng mà thôi nên nói rằng: Thượng khẩu nãi cùng dã.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Trạch vô thủy, Khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.
象曰: 澤無水, 困. 君子以致命遂志.
Theo như tượng quẻ thời Trạch ở trên, Thủy ở dưới nên thành ra tượng Khốn.
Chằm để dựng nước, bây giờ nước mót xuống dưới mà chằm phải khô nên tượng quẻ là Khốn.
Quân tử xem ở tượng ấy mà nghĩ ra được đạo lí ở thì Khốn. Đạo quân tử đã đến khốn cùng, muốn cứu dân mà dân không thể cứu đặng, muốn thương nước mà nước không thể thương xong, thời chỉ duy có một phương pháp: Sinh bình sở chí như thế nào? Sát thân thành nhân, xả sinh thủ nghĩa là chí gốc của mình ở lúc sinh bình.
Bây giờ rủi đụng vào cảnh ngộ khốn cùng thời chỉ duy bỏ liều cả sinh mạng của mình để cho thỏa chí nguyện của mình. Như thế là trí mệnh toại chí.
Trong Luận Ngữ có câu: Kiến nguy thụ mệnh 見危授命, nghĩa chữ trí ở đây cũng như nghĩa chữ thụ. Trao sinh mệnh của mình hiến cho quốc dân xã hội, ấy là trí mệnh, chỉ cốt cho thành chí giữ đạo của mình, ấy là toại chí.
Trí nghĩa là trao vứt; toại nghĩa là làm cho đến nơi; mệnh là quyền ở trời sắp đặt cho mình; chí là quyền sở hữu của mình, muốn sao được vậy.
Bỏ vứt mạng mình mà hoàn thành chí mình là một phương pháp rất hay cho quân tử ở thì Khôn, cho nên Luận Ngữ nói rằng: Kiến nguy thụ mệnh, nghĩa là thấy đến thì nguy thời trao quách mệnh mình.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện trong Dịch chẳng qua mượn tượng hữu hình để tỏ rõ lí vô hình, nhưng có nhiều lúc ý vị.
Như tượng quẻ Khốn, quẻ Cách: Đoài trên, Khảm dưới mà nói rằng trạch vô thủy. Bởi vì thủy nên ở trên trạch, bây giờ trạch trồi lên trên thủy là thủy lậu mà trạch phải khô, như thế là chằm không nước, chẳng phải Khốn là gì.
Đến như Đoài trên, Ly dưới là quẻ Cách thời Tượng lại nói trạch trung hữu hỏa. Bởi vì trong chằm chỉ nên đựng nước mà bây giờ lại có lửa, chẳng phải biến đổi lạ thường hay sao, nên gọi bằng Cách.
Tổng chi, Khôn với Cách thảy thuộc về thì biến, như Khốn là lúc cùng, chưa kịp biến. Cách thời trải qua lúc biến mà làm cho đến thông. Xem vào ý nghĩa Tượng Truyện, chằm mà khô hết nước thời là Khốn, giữa chằm mà bỏ lửa vào thời là Cách; xem ở chữ hữu với chữ vô hình dung được Khốn, Cách rất rõ.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Đồn Khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất địch.
初六: 殿困于株木, 入于幽谷, 三歲不覿.
Đồn là bàn trôn là giống để mà ngồi. Châu mộc là ngùm cây trụi, cây không nhánh lá chỉ trồi gốc ra, gọi bằng châu mộc. Cốc là hang, u là tối, địch là trông thấy, cũng có nghĩa là xáp mặt.
Ở vào thì Khốn mà Sơ Lục là âm nhu, lại ở dưới quẻ, chính là ở vào đáy hạng Khốn.
Theo như thể quẻ thời Sơ lại là ở dưới hết khoản hiểm, phỏng như chính ứng của Sơ là hào Cửu Tứ mà giúp đỡ được Sơ thời hãy còn khá, nhưng khốn nạn thay! Tứ đã bất trung, bất chính mà lại sụp vào dưới lưới âm nhu. Tứ ở thì ấy, thử thân bất độ, độ hà thân 此身不渡, 渡何身. Tội nghiệp cho Sơ muốn ngồi yên chịu Khốn thời không chốn ngồi, toan nhúc nhích để tìm người cứu mình thời tiền đồ càng trông càng mờ mịt, tượng như bàn trôn mình bị khốn ở gốc rồi mà lại sụp vào trong lỗ hang kín, lâu tới ba năm mà không thấy được người cứu mình.
Tượng viết: Nhập vu u cốc, u bất minh dã.
象曰: 入于幽谷, 幽不明也.
Người ở vào thì Khốn, chắc ai cũng tất thảy khốn, há riêng gì mình Sơ đâu mà Hào từ hào Sơ lại xấu đạt ở cực điểm là vì cớ sao?
Tùng lai, người ta sở dĩ chống chọi được hoàn cảnh chỉ cậy có óc thông minh, biết đường họa mà tránh, biết đường phúc mà tìm, biết người phải mà theo, biết người vơ mà cự thời dầu có rủi đụng phải Khốn nữa, còn có thể rút chân ra được. Kìa Sơ Lục âm nhu hôn ám, bản thân vẫn đã bất minh, tượng như châu mộc là chốn không đáng ngồi mà anh đặt trôn ngồi; u cốc là chốn không nên xuống mà anh đặt chân xuống, bất minh đến như thế, còn mong gì đến cơ tốt nữa đâu. Hào từ chỉ nói kết quả mà Tượng Truyện nói thêm ba chữ u bất minh là truy nguyên cho đến tạo nhân. Vì tạo nhân đã u bất minh nên kết quả tất phải khốn đến tận kiếp.
2. Cửu Nhị: Khốn vu tửu tự, chu phất phương lai, lị dụng hưởng tự, chinh, hung, vô cựu.
九二: 困于酒食, 朱敝方來, 利用亨祀, 征凶, 無咎.
Cửu Nhị dương cương đắc trung, vẫn là người tài đức kiêm bị mà ở trên có Cửu Ngũ đồng đức tương ứng. Nếu ở vào thời đại khác thời sung sướng biết chừng nào, nhưng vì ở vào thì Khốn mà khốn một cách khác người thường, nhờ ơn vua lộc nước, ăn no uống say mà lại có tất đỏ tới nơi, nhưng mà trong thời tự vấn lương tâm mình, ngoài thời thấy thương sinh thảm trạng. Vì thì gian, vận ách mà còn nhiều nỗi bực tức, trông đến mâm cỗ mà đau lòng, thấy đến cân đai mà rát ruột, những điều mắt tục lấy làm sướng ghê mà lòng Cửu Nhị cho là khổ cực, nên nói rằng Khốn vu tửu tự, chu phất phương lai.
Tửu tự là những đồ thịnh soạn mà Ngũ cho Nhị; chu phất phương lai là những tụi quan trường kéo đến với Nhị.
Chu phất nghĩa là bít tất đỏ là đồ phẩm phục các quan. Tửu tự, chu phất là những giống làm khốn cho Nhị. Hai câu ấy hình dung tấm lòng cương trung của Cửu Nhị: đau đáu vì đạo mình còn ách mà trông thấy những vật sung sướng xác ở trước mắt, không lấy gì mà đổi buồn làm vui được.
Tuy nhiên, ở về thì Khốn, có đức cương trung như Cửu Nhị thời tuy ân trạch chưa khắp đến nhân dân, nhưng tinh thành đã có lẽ thấu đến thượng đế. Vậy nên Hào từ lại mượn việc tế tự mà đặt ra lời thí dụ rằng: Có tâm sự tinh thành như Nhị thời đem hưởng tế thần linh, chắc thần linh cũng chiếu giám cho, nên lại nói lị dụng hưởng tự. Hưởng tự nghĩa là tế tự để hưởng quỷ thần.
Duy còn một lẽ lại phải lo cho Nhị. Nhị đã được hưởng vật chất sung sướng, tất nhiên muốn động tác hữu vi, nhưng khốn nạn thay thời đại này là chưa phải thời đại hữu vi kia mà, xin Nhị hãy ôm lòng tinh thành yên lặng mà chờ thì, họa may khốn cực mà hanh chăng nỏ. Nếu Nhị quá chừng nóng sốt mà vội vàng kiếm cách tấn hành, tất có tai họa, nhưng mà dầu có tai họa cũng là theo thì nghĩa, đã ăn của đời phải làm việc đời, vẫn là vô cựu.
Tượng viết: Khốn vu tửu tự, trung hữu khánh dã.
象曰: 困于酒食, 中有慶也.
Cửu Nhị vì có đức cương trung mà ở vào thì Khốn, chưa thỏa được tấm lòng tế thế an bang, thấy được mặc tốt, ăn ngon cũng lấy làm đau đớn, tấm lòng Nhị như thế, dầu người chẳng ai hiết mà trời đất đã chứng cho, chắc thế nào cũng có phúc khánh đó vậy.
PHỤ CHÚ: Khốn vu tửu tự, chu phất phương lai là hình dung khổ tâm của quân tử. Tục ngữ có câu: “Khi vui non nước cũng vui, khi buồn sáo nhịp đờn đôi cũng buồn”, chính là ý nghĩa như mấy câu ấy.
Lị dụng hưởng tự, trung hữu khánh dã là đoán sẵn hạnh phúc về tương lai, lòng thành thấu đến trời nghe, bây giờ chưa phúc, phúc về ngày sau. Đó là an ủy cho Cửu Nhị. Câu chinh hung, vô cựu lại là quá lo cho Cửu Nhị, bởi vì một người cương trung như Cửu Nhị tất không nỡ lòng sung sướng mà cứ ngồi yên nên Hào từ lại phải căn vặn như thế.
3. Lục Tam: Khốn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, hung.
六三: 困于石, 據于蒺藜, 入于其宫, 不見其妻, 凶.
Tật lê là bụi gai; cung là ở nhà.
Lục bản chất âm nhu mà xử vào vị Tam, lại bất trung, bất chính ở vào thì Khốn mà địa vị Tam lại là Khảm hiểm chi cực, tấn lên đã bị Khốn mà không tấn được, thối xuống không chốn ngồi yên nên nói rằng: Khốn vu thạch, cứ vu tật lê; thạch là chỉ vào hào Tứ. Tam muốn tấn lên mà bị sức Tứ áp bức, tượng như bị đá dàn mà không thể ngấc đầu lên được. Tật lê là chỉ vào hào Nhị. Tam muốn thối xuống mà bị thế lực Nhị quá mạnh, Tam ở trên Nhị, ngồi không thể an, tượng như đặt trôn ở trên gai.
Tiến thối đã cùng đường, muốn quay lại về nhà thời lại đụng người chủ trong nhà mà mình thương yêu, cũng mất đâu chẳng thấy được. Cung là chỉ vào địa vị Tam, thê là chỉ vào bản chất Lục.
Hào từ này, Hệ tử thích kỹ lắm, tiện dịch vào đây. Hệ tử nói rằng: Quân tử làm việc, tuy vẫn không kể thành bại, nhưng tất phải kể theo đạo lí. Nếu kể như theo đạo lí, vẫn không phải chuyện mình đáng khốn mà cố lăn vào chịu khốn, thân mình khốn mà cố lăn xả vào chịu khốn, thân mình khốn đã đành mà lại mang tiếng bất trí, bị chúng cười mình là vô năng.
Quân tử bảo thân tất phải kén chọn chốn mình đáng dựa, nếu xem nơi tình thế hiện thời với đôi bên quan hệ, thấy được người kia không phải là người mình đáng dựa mà khinh đem thân dựa vào, tất có ngày núi gió đổ mà nguy đến thân.
Danh đã nhục, thân lại nguy, thì giờ chết đã tới sau lưng, còn mong gì được thấy mặt vợ nữa rư. Thế còn gì xấu hơn nữa.
PHỤ CHÚ: Ở vào thì Khốn, khốn cũng là sự thường, nhưng tất phải lựa lọc đạo lí, xem có phải chốn mình đáng khốn hay không. Nay Tam là âm mà muốn theo với Tứ là dương nên bị khốn với Tứ. Như thế là phi sở khốn nhi khốn, nên Hào từ nói rằng: Khốn vu thạch. Thạch sức nặng áp được mình mà mình ghé đầu vào nên đến nỗi danh nhục. Ở vào thì Khốn phải tìm chốn y cứ cũng là lẽ thường, nhưng tất phải trông nom thời thế, tri kỷ tri bỉ, xem có phải người mà mình đáng y cứ hay không? Bây giờ Tam là âm mà cưỡi trên Cửu Nhị là dương. Nhị đâu có chịu để cho Tam cưỡi rư? Nên Hào từ nói rằng: Cứ vu tật lê. Tật lê là giống gai đâm được mình mà mình ghé lưng dựa vào, ấy là phi sở cứ nhi cứ, tất đến nỗi thân nguy.
Xem sử Tàu, như Thái Ung ở đời Hán vì khóc thây Đổng Trác mà mang vạ sát thân. Dương Hùng vì tụng công đức Vương Mãng mà mang vạ nhảy lầu tự tử, kết quả bị uổng một đời văn sĩ làm bia cho miệng thế chê cười, rặt là phi sở khốn nhi khốn, đen nỗi danh nhục.
Lại như: Sử nước ta, Nguyễn Chỉnh bỏ Lê, Trịnh mà về với Tây Sơn, cuối cùng Tây Sơn diệt Trịnh thời Chỉnh cũng bị nghi, kết quả Chỉnh cũng bị chết với Tây Sơn.
Lại như: Lê Văn Chất, danh tướng của Tây Sơn, sau phản Tây Sơn theo vua Gia Long, kết quả bị Nguyễn triều tru di tam tộc. Đó rặt là phi sở cứ nhi cứ mà đến nỗi thân nguy.
Xem văn lí Hào từ ngó như hình thiển cận mà đến Hệ từ giải thích lại đủ hết cơ nghi xử thế, với đạo lí tồn thân. Thánh nhân học Dịch như thế, há phải dòm ở mặt chữ mà thôi rư?
Tượng viết: Cứ vu tật lê, thừa cương dã, nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, bất tường dã.
象曰: 據于蒺藜, 承剛也, 入于其宫, 不見其妻, 不祥也. Cửu Nhị là dương cương đắc trung mà Lục Tam âm nhu lại cưỡi trên nó, có khác gì lót gai mà ngồi nữa rư, nên nói rằng: Cứ vu tật lê, kết quả đến nỗi vào nhà mình không thấy được vợ mình là vì tạo nhân chẳng tốt nên kết quả chẳng lành đó vậy (Tường nghĩa là lành).
PHỤ CHÚ: Toàn văn Hào từ Lục Tam chỉ một chữ hung là sự thực, còn bốn câu trên thảy là lời thí dụ, chúng ta chỉ xem Hệ từ thời giải thích rõ lắm.
4. Cửu Tứ: Lai từ từ, khốn vu kim xa, lẫn, hữu chung.
九四: 來徐徐, 困于金車, 吝, 有終.
Cửu Tứ tuy bản chất dương cương nhưng ở vào địa vị Tứ thời lại bất trung chính, vẫn biết tài đức anh như thế, lấy một mình xử vào cảnh Khốn e không xong. Nên Tứ trông mong vào bạn chính ứng với mình là Sơ Lục gấp tới giúp đỡ mình. Chẳng dè việc khó bằng lòng, hành vi cách trở, trung gian có Cửu Nhị thế lực quá lớn còn đè ép Sơ, Sơ đương bị khốn ở dưới cùng mà Tứ lại bị chết vì Cửu Nhị; nên nổi hai bên muốn thân mật với nhau nhưng còn phải dùng dằng mà nước bước quá chậm trễ; thế là lai từ từ mà bị khốn với kim xa. Từ từ là có ý lẩm chẩm; kim xa là chỉ vào Cửu Nhị, Nhị ở dương cương nên tỉ dụ bằng xe sắt.
Than ôi! Hai bên vẫn chính ứng với nhau mà chỉ vì sợ một người có thế lực, đến nỗi phải chịu khốn mà lại phải từ từ, trông người lại ngẫm đến ta, thiệt đáng lấy làm xấu hổ, nên Hào từ có chữ lẫn. Tuy nhiên, Tứ đã dốc lòng ứng với Sơ, Sơ bản lai cũng là ứng với Tứ: hai bên vẫn lí tráng, từ trực, kết quả tất liên hợp với nhau.
Lúc đầu tuy khó khăn mà cuối cùng chắc thoát khỏi nạn, xưa nay tà bất thắng chính là lẽ tất nhiên, há phải Nhị ngăn đón được Tứ, Sơ mãi rư? Nên Hào từ lại nói rằng hữu chung.
Tượng viết: Lai từ từ, chí tại hạ dã, tuy bất đáng vị, hữu dữ dã.
象曰: 來徐徐, 志在下也, 雖不當位, 有與也.
Cửu Tứ: tuy bị ngăn đón vì Cửu Nhị nhưng chí Tứ cố ứng với Sơ ở dưới, nhưng sở dĩ lai từ từ là vì vị Tứ cư nhu là bất đáng vị. Tuy nhiên, Tứ cố ý cầu Sơ thời cuối cùng tất được Sơ là bạn giúp mình.
5. Cửu Ngũ: Tị ngoạt, khốn vu xích phất, nãi từ hữu duyệt, lị dụng tế tự.
九五: 劓刖, 困于赤敝, 乃徐有説, 利用祭祀.
Cửu Ngũ là dương vị chí tôn ở trong thì Khốn mà lại có đức cương trung, vẫn là một người giải khốn, nhưng khốn vì thời đại éo le, những hạng người thân ái với mình, trên dưới thảy đều khốn, tượng như một hạng người trên bị hình tị mà mũi thụ thương, dưới bị hình ngoạt mà chân bị thương (Tị là hình hớt mũi; ngoạt là hình khoét chân).
Ngũ đã xử vào hoàn cảnh Khốn mà thượng, hạ câu thương, lúc bây giờ hào âm nhu ở trên là Thượng Lục, toan ra tay đè ép mình; hào dương cương ở dưới mình là Cửu Tứ lại toan cất trật mình. Những bọn đó làm hại mình đã đành mà thậm đến một người rất thân tín mình là Cửu Nhị mà mình đã từng đem xích phất đến cho nó cũng chỉ đứng trông mỏi mắt làm thêm khốn cho mình mà thôi. Chữ xích phất ở đây tức là chữ chu phất ở Cửu Nhị, cũng có nghĩa là bít tất đỏ. Sở dĩ khốn vu xích phất há phải Cửu Nhị không thương Cửu Ngũ đâu. Nhị với Ngũ vẫn đã đồng đức không lẽ bỏ nhau, nhưng vì hoàn cảnh gay go, tình cách, thế cấm mà chưa dám tiếp hạp cho mau; nhưng Nhị đã cương trung mà Ngũ cũng cương trung, tất dần dà bao lâu cũng có ngày bắt tay hả dạ (Từ là có ý thủng thẳng; duyệt là có ý vui mừng).
Tuy nhiên, tâm lí Nhị, Ngũ như thế mà đụng lấy thời thế như kia: từ hữu duyệt mặc lòng, nhưng cũng chẳng qua tỏ tấm lòng thành thiệt mà thôi, sự thế đã như thế thời chỉ có một cách ôm giấu lòng tinh thần, hữu thỉ hữu chung in như đem lòng thành kính mà cảm động thần minh: Tinh thành sở chí, kim thạch năng khai 精誠所志, 金石能開, chắc lâu ngày cũng được phúc nên lại nói rằng: Lị dụng tế tự, nghĩa là lị dụng tấm lòng thành kính ở lúc tế tự mà xử vào thì Khốn, chờ khi trời bênh thần hộ, mới có thể hữu vi (Chữ tế tự ở đây ứng với chữ hưởng tự ở Cửu Nhị).
Tượng viết: Tị ngoạt, chí vị đắc dã, nãi từ hữu duyệt, dĩ trung trực dã, lị dụng tế tự, thụ phúc dã.
象曰: 劓刖, 志位得也, 乃徐有説, 以中直也, 利用祭祀, 受福也.
Tị ngoạt là trên dưới thảy thụ thương, thì đã đến thế còn chắc gì đắc chí nữa. Dần dà rồi cũng được vui mừng là vì có đức cương trung mà lại ngay thẳng đó vậy. Đụng thời thế như thế, chỉ duy giữ chặt lòng chí thành, đau đời thương dân in như lòng thành thờ thần thời cuối cùng chắc cũng thụ phúc đó vậy.
PHỤ CHÚ: Chữ thụ phúc ở Cửu Ngũ với chữ hữu khánh ở Cửu Nhị thảy là một ý tứ, nhưng mà phúc khánh chẳng phải thuộc về phần hưởng thụ mà chỉ thuộc về phần tinh thần, thời thế dầu chưa đại hữu vi nhưng xét lại lòng mình và việc mình làm, trên không thẹn với trời, dưới không thẹn với thương sinh, ngoài không thẹn với non sông, trong không thẹn với tâm sự. Thế là phúc khánh ở thì Khốn.
6. Thượng Lục: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột, viết: động hối, hữu hối, chinh cát.
困于葛蠤, 于跪脆, 日: 動悔, 有悔, 征吉.
Thượng Lục, ở về cuối cùng thì Khốn, tất nhiên Khốn chi cực, nhưng mà thường lí trong thiên hạ, vật cùng tắc phản, sự cực tắc biến. Khốn mà đến cùng cực rồi, lẽ tất phải thông nên nói rằng: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột. Cát lũy là ngùm dây sắn; niết ngột là khấp khểnh, gập ghềnh. Hoàn cảnh bị ràng buộc như chẳng chịt vào ngùm dây sắn, lại đi đứng vào chốn khấp khểnh gập ghềnh.
Như thế là Khốn đã cực rồi, nhưng mà nhân lực có lẽ hồi được thiên vận, anh hùng có khi tạo nên thời thế, chăng cần gì lo, chỉ cốt nhất là can đảm cho lớn mà lại có trí khôn ngần nghĩ cho sâu xa. Hễ có làm việc gì, tất lòng tự hỏi lòng mà nói rằng: E động mà có hối chăng? (Ba chữ này là miêu tả cái tinh thần ăn năn suy nghĩ). Ở vào hoàn cảnh khốn cực tắc biến mà hay biết hữu hối như thế thời từ rày sắp đi, chắc hành động được tốt.
Tượng viết: Khốn vu cát lũy, vị đáng dã; động hối, hữu hối, cát hành dã.
象曰: 困于葛蠤, 位當也; 動悔, 有悔, 吉行也.
Thượng Lục sở dĩ khốn vu cát lũy là cách xử trí của mình chưa đúng đạo thoát Khốn vậy. Nếu biết được như thế mà hối quá tự tân thời gặp lúc Khốn cực tắc thông, chắc tiến hành được tốt nên nói rằng: Động hối, hữu hối, cát hành dã.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc suốt Quái từ, Hào từ quẻ Khốn mà sinh ra hai mối cảm tưởng: Quái từ nói rằng khốn hanh, trinh, đại nhân cát mà sáu hào thời hai hào hung, một hào lẫn, dư các hào, hào nào cũng có chữ khốn, chỉ duy Thượng Lục có chữ cát. Thế thời người ta trong vũ trụ, chẳng ai là chẳng bị chinh phục vì hoàn cảnh chung, đó là một cảm tưởng.
Nhưng mà người đứng giữa trời đất, tất phải có trí lực đảm lực, phách lực mà chiến thắng với hoàn cảnh riêng, đó lại là một cảm tưởng.
Lí do bởi vì sao? Chinh phục hoàn cảnh chung, tất phải nhờ trợ lực ở nơi xã hội. Xã hội còn đương sụp vào vùng mù đen mây tối, dầu thánh hiền hào kiệt cũng không thể cậy một sức mình mà đánh đổ được hoàn cảnh tối tăm.
U bất minh như Sơ Lục, bất tường như Lục Tam, tài hèn trí ám thối chẳng nói gì bọn họ. Ví dù có đức cương trung như Cửu Nhị, có tài có vị như Cửu Ngũ, nhưng cũng chẳng khỏi khốn với hung, tất phải chỗ thì Khốn đã cùng, vận hanh sắp tới, toàn thể xã hội đã gặp nhịp đêm tàn đông rạng, đông hết xuân về mới được hai chữ chinh cát, nhưng xem đến Hào từ vẫn còn nói rằng: Động hối, hữu hối, thời khổ tâm thâm lự biết chừng nào mới thấy được thiên hạ thoát được vòng khốn nạn. Như thế thời chiến thắng được hoàn cảnh chẳng phải là khó lắm hay sao?
Nhưng chúng ta đã sinh gặp lúc hoàn cảnh chung ấy thời bản thể mình cũng là một phần tử trong hoàn cảnh ấy, phần chung mà không chiến thắng được, còn có lẽ đổ tội cho xã hội. Chứ như phần riêng mà không chiến thắng được thời đổ tội với ai?
Cột đá giữa dòng sông lớn, tùng bá giữa tiết trời đông, chính là nghĩa vụ riêng của phần chúng ta. Chúng ta dầu không có sức chiến thắng hoàn cảnh chung, nhưng há lẽ chịu hàng phục với hoàn cảnh riêng hay sao? Đã không chịu hàng phục với hoàn cảnh riêng thời nên thế nào?
Xin xem ở Quái từ có chữ trinh, đại nhân, với Soán Truyện có câu kì duy quân tử hồ! và câu dĩ cương trung dã; nhân mấy câu ấy thời ta cứ lo giữ đạo trinh chính mà bao nhiêu đường xiêu lối vậy ta chớ đút chân vào, ta cứ giữ lấy đức cương trung mà dầu bao nhiêu sấm sét chông gai, ta không chịu biến tiết. Như thế là khốn nhi bất thất kì sở hanh, dầu hoàn cảnh chung khốn đến bao nhiêu mà hoàn cảnh riêng tư, bản thân không bao giờ nao núng, thân tuy khốn mà đạo mình vẫn hanh, chẳng phải là đại nhân quân tử hay sao? Nếu may mà đặt thân mình vào địa vị Cửu Nhị, Cửu Ngũ thời chỉ dùng cách tinh thành cảm thiên địa, chính khí thông thần minh, như câu lị dụng tế tự, lị dụng hưởng tự mà thánh nhân đã thí dụ cho ta hiểu.
Sách Quản tử có câu: Tư chi tư chi, hựu trùng tư chi, tư chi bất đắc quỷ thần thông chi 思之思之 ,又重思之,思之不得鬼神通之, nghĩa là: Nghĩ hoài, lại thêm nghĩ hoài, dầu nghĩ không đạt được chăng thời có quỷ thần thông đạt cho.
Hễ những ai thương nòi tiếc giống, cảm cảnh đau đời thời có phương pháp như trên là hay nhất, chẳng may mà gặp lúc vô khả nại hà, cực bất đắc dĩ thời đã có câu trí mệnh toại chí ở Tượng Truyện, thiệt là một cái kim chỉ nam cho chúng ta ở thì Khốn, còn sợ gì không chiến thắng được hoàn cảnh nữa rư?
48. QUẺ THỦY PHONG TỈNH
Khảm trên; Tốn dưới
Quẻ này là quẻ Thủy Phong Tỉnh. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Thủy Phong Tỉnh.
TỰ QUÁI
Tự quái: Khốn hồ thượng giả, tất phản hạ, cố thụ chi dĩ Tỉnh.
序卦: 困乎上者, 必反下, 故受之以井.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khốn tiếp lấy quẻ Tỉnh là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Khốn, Khốn ở sau Thăng, Thăng lên cuối cùng tất nhiên Khốn, Khốn ở chót vót cao, tất ngã mà nảy xuống dưới. Vậy nên, sau quẻ Khốn tiếp lấy quẻ Tỉnh (Tỉnh, nghĩa là giếng, giếng là một chốn thấp hơn hết).
Theo như tượng quẻ, Khảm tượng là nước, Tốn tượng là gỗ, vả lại Tốn có nghĩa là vào, đồ gỗ dùng vào dưới nước mà đưa nước lên, tượng là như múc nước giếng.
Lại như tượng sáu vạch, vạch Sơ đứt đôi, tượng như lỗ nước mạch chảy lên, chính giữa hai nét dương là nét liền, tượng là lòng giếng trữ nước, trung gian có một hào âm là cái lòng rỗng để lấy nước. Lại lên nữa là hào Ngũ cũng là nét dương là tượng cái đồ để đậy miệng giếng, trên hết một nét đứt rỗng là tượng cái miệng giếng nên đặt tên quẻ bằng Tỉnh.
SOÁN TỪ
Tỉnh, cải ấp, bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh. Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, luy kì bình, hung.
井, 改邑不改井, 無喪無得, 往來井井. 汽至, 亦未繙井, 羸其瓶凶.
Tỉnh, cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh.
Toàn văn quẻ này, chỉ mượn bằng một sự vật mà thí dụ vào đạo lí nên Quái từ mỗi câu thảy ngậm một ý nghĩa ngoài chữ. Đây chỉ theo giữa mặt chữ mà giải thích cho rõ nghĩa đen, còn ý nghĩa với đạo lí thời xin độc giả phải nhận kỹ sẽ hiểu.
Tỉnh là giếng, hễ đã có làng xóm ở chốn nào, tất chốn ấy có người ăn nước; có người ăn nước, tất phải có giếng, nhưng làng xóm có khi thay đổi mà giếng ở đâu thời thường ở đấy, chẳng bao giờ thay đổi. Giếng vì thường thường ở nhất định như thế mà thường thường có nước mạch chảy ra hoài nên nước đi mà không thấy kiệt, chứa lại mà không thấy tràn ra, thiệt là không mất cũng không được. Hai câu ấy là nói bản thể của giếng.
Còn những công dụng của giếng thời những kẻ qua, người lại tất thảy là thấy giếng mà nhận bằng giếng. Hễ muốn được nước uống, tất phải lại giếng ngay.
Táng nghĩa là mất; đắc nghĩa là được; vãng nghĩa là qua là người múc được nước rồi mà đi; lai nghĩa là lại là người toan múc nước mà tới; cải ấp bất cải tỉnh nghĩa là chốn ở vẫn nhất định; vô táng vô đắc nghĩa là đức tính của giếng vẫn hữu hằng; vãng lai tỉnh tỉnh là công dụng của giếng đầy khắp mà lại xuất ở vô tâm.
Người vãng chẳng bao giờ giếng có cự, người lai cũng chẳng phải giếng có mời, giếng chỉ lo làm hết công việc của giếng mà thôi nên nói rằng: Tỉnh tỉnh (Tỉnh tỉnh nghĩa là tỉnh kì tỉnh).
PHỤ CHÚ: Chỉ mấy câu ấy mà suy vào triết học rất có thú vị, đạo trời đất ở giữa vũ trụ, mặc dầu cuộc đời bể dâu, thói đời sốt lạnh mà trời đất vẫn cứ y nhiên. Thế là cải ấp bất cải tỉnh. Ấp là nhân tạo, tỉnh là thiên nhiên, biến đổi là nhân tạo, không biến đổi là thiên nhiên. Đó là nguyên lí của tạo hóa.
Nguyên lai, vẫn có sẵn là thuộc về phần hữu tượng nên không bao giờ mất là vô táng.
Nguyên lai, chỉ hư không là phần vô hình nên không bao giờ thấy được là vô đắc.
Nhưng mà đã vô táng thời cần gì nói đắc? Vì có táng, mới nảy ra đắc. Đã vô đắc thời cần gì nói táng? Vì có đắc mới nảy ra táng. Vô táng, vô đắc, chính là đạo lí rất tự nhiên, vừa rất hữu thường. Tuy nhiên, chân lí vừa bất dịch vừa tự nhiên như thế nhưng mà công dụng lại rộng khắp phi thường, dọc từ xưa tới nay, ngang từ đông chí tây, chẳng một sự một vật gì mà chẳng sinh hoạt trong vòng chân lí ấy, kết quả trời vẫn là trời, đất vẫn là đất; vạn vật đội ơn che chở mà quên cả ơn trời đất, lại là công dụng xuất ở vô tâm, có khác gì vãng lai tỉnh tỉnh nữa đâu.
Ngẫm nghĩ mấy câu ấy, không khác gì câu ở sách Trung Dung: Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo 天命之謂性, 率性之謂道.
Nguyên lí trời phú dữ cho ta mà gọi bằng tính, không bao giờ thay đổi, thế là bất cải tính. Chân tính đó, theo về Phật học thời cũng gọi bằng Phật tính; bất sinh, bất diệt, tức là vô táng, vô đắc; noi theo tính ấy mà gọi bằng đạo. Kẻ dĩ vãng, người phương lai cũng chỉ đi vào đường ấy mà thôi là vãng lai tỉnh tỉnh.
Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, luy kì bình, hung.
Trên đây nói thiên đạo là thuộc về lí tưởng với tự nhiên, bây giờ lại nói về nhân sự là thuộc về phần thực tế và đương nhiên, cũng chỉ thí dụ bằng người múc nước giếng.
Trước hãy thích nghĩa chữ một: Ngật cũng như nghĩa chữ cơ, nghĩa là sắp sửa; duật cũng như nghĩa chữ ngạnh, nghĩa là dây gàu múc nước; huy nghĩa là đổ bể; bình là cái bình đựng nước.
Hễ làm một việc gì, tất làm cho đến thành công, vô luận thờ một chủ nghĩa gì, hay mưu một sự nghiệp gì, tất phải làm cho tới nơi, mới thấy được kết quả của việc ấy. Nếu giữa đường mà vứt quách, hoặc gần tới mà nghỉ bỏ, thời tuy chưa thất bại mà cũng gọi là thất bại. Tỉ như người đi múc nước giếng mà sắp sửa tới nơi, nhưng chưa kịp dòng dây gàu xuống giếng mà thình lình vỡ nứt cái bình đựng nước, té ra công đi tới giếng hoàn toàn hỏng ráo, chẳng uổng công lắm hay sao?
Chúng ta xem mấy câu thí dụ ấy thời biết được chương trình làm việc phải có ba đoạn: Đoạn thứ nhất là phải dò thăm cho ra giếng. Đoạn thứ hai là phải cô công đi cho tới giếng và dụng công dòng dây xuống giếng, bao giờ múc được nước mới thôi. Đoạn thứ ba là trong thì gian ấy, phải hết sức cẩn thận giữ gìn vật liệu khí cụ mình làm, chớ để nửa đường đổ bể; nếu không luy kì bình thời nước chắc về tới nhà, chẳng phải là thành công hay sao?
Đau đớn thay! Nước chưa kịp múc xong mà bình đã vữa đổ, công phu đi tới giếng hóa ra dã tràng xe cát bể đông. Vậy nên làm việc thiên hạ cần phải có đại đởm mà cũng cần phải có tiểu tâm, đó là thâm ý Quái từ dạy cho chúng ta vậy.
Soán viết: Tốn hồ thủy nhi thượng thủy, Tỉnh, Tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã; cải ấp bất cải tỉnh, nãi dĩ cương trung dã. Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, vị hữu công dã; luy kì bình, thị dĩ hung dã.
彖曰: 巽乎水而上水, 井, 井養而不窮也, 改邑不改井, 乃以剛中也. 汔至, 亦未繙井, 未有功 也,
羸其瓶, 是以凶也.
Soán viết: Tốn hồ thủy nhi thượng thủy, Tỉnh, Tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã.
Tốn, nghĩa là nhập; nhập nghĩa là vào, đồ mộc đưa vào nước mà đưa nước lên là tên nghĩa quẻ Tỉnh. Tỉnh là giếng. Giếng nuôi người ta mãi mãi mà chẳng bao giờ cùng.
Cải ấp bất cải tỉnh, nãi dĩ cương trung dã.
Cải ấp bất cải tỉnh là vì đức giếng hữu thường nên công dụng được rộng lớn, quân tử mà có đức được như thế, tất hạng người có đức cương trung như Nhị, Ngũ đó vậy. Toàn quẻ duy hào Nhị, hào Ngũ dương cương đắc trung. Bởi vì có đức cương trung nên cũng hữu thường như đức giếng.
Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, vị hữu công dã, luy kì bình, thị dĩ hung dã.
Tiết thứ hai, Quái từ lại mượn việc người gánh nước mà thí dụ bằng nhất thiết làm việc đời, hễ việc làm chưa nên cũng như chưa làm, tuy có đến tận giếng mà chưa dòng dây gàu xuống giếng cũng như chưa có công dụng gì mà vừa mất bình đựng nước, còn kể gì được công gánh nước nữa rư. Vì thế mắc hung đó vậy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Mộc
thượng hữu thủy, Tỉnh. Quân tử dĩ lạo dân khuyến tướng. 象曰: 木上有水, 井, 君子以勞民勸相.
Đại Tượng ở đây lại lấy một nghĩa đặc biệt mà không lấy nghĩa bằng nước giếng. Vì xem ở thể quẻ, Tốn là mộc, Khảm là thủy, thủy ở trên mộc, nghĩa là ở trên cây có nước. Cây là một giống sinh vật, hấp thụ tất thảy khí ở dưới đất thành ra tân dịch mà đưa lên trên ngọn cây, nên trên cây thường hay có giọt nước ở đầu giọt lá. Thế cũng như nước mạch trong giếng chảy ra, mới đặt tên quẻ bằng Tỉnh.
Quân tử xem tượng ấy mới biết rằng: Loài người sinh trưởng với nhau, cũng cần phải có nuôi nhau làm người trên tất phải nuôi dân nên thường phải yên ủi phủ tuất dân luôn luôn.
Chẳng những nuôi dân mà thôi mà lại cần phải khuyến hiểu cho dân, bày vẽ cho bằng cách giúp đỡ lẫn nhau (Lạo là an ủy, phủ tuất; tướng là giúp đỡ lẫn nhau). An ủi dân, lại khuyến dân giúp đỡ nhau là công phu tỉnh dưỡng của quân tử đời xưa Hạ, Thương, Chu đặt ra phép tỉnh điền để nuôi dân, nuôi dân tám phu, chung nhau cày một tỉnh ruộng, mỗi tỉnh chín khoảnh, mỗi một khoảnh trăm mẫu, chung quanh tám khoảnh chia cấp cho tám phu, gọi bằng tư điền, chính giữa một khoảnh gọi bằng công điền, tất thảy gọi bằng một tỉnh; tỉnh vuông chín trăm mẫu, tám phu cày chung với nhau tám trăm mẫu, ra vào thường cặp bạn với nhau, cân sức hợp tác; mùa cày cấy, cày cấy giùm nhau; mùa gặt hái, gặt hái giùm nhau; đụng có người nào đau thời các người kia phải làm đỡ cho người ấy; tám khoảnh ruộng tư làm xong, lại hùa nhau cả tám phu cày làm ruộng công, lúa ruộng công bao nhiêu thời nạp lên quan, để nuôi quan, dân không bao giờ phải đóng góp mà quan thời chỉ cậy sức dân cày ruộng công mà được ăn lương, chứ chẳng phiền dân phải đóng góp, mà lại đến lúc mùa màng thời quan phải đi tuần thị, thấy dân có thiếu thốn thời phải bổ trợ cho dân, hoặc gặp lúc thiên tai thủy hạn thời phải xuất của công cứu cho dân, như thế gọi bằng lạo dân khuyến tướng.
Tự đời Tấn, vì tệ quân chủ chuyên chế, bỏ phép tỉnh điền mà lập ra phép phú thuế, nghĩa lạo dân khuyến tướng từ đó đã mất hẳn mà dần dà tư bản chủ nghĩa mới phát sinh; dân sinh bây giờ ngày càng cùng khôn, ước ao có một ngày khôi phục tỉnh điền, như thuyết phân điền chế sản của thầy Mạnh Tử.
Phân điền, nghĩa là quân phân điền địa cho dân, khiến cho không ai nhiều ai ít. Chế sản nghĩa là hạn chế tài sản cho dân, khiến cho không ai thừa ai thiếu.
HÀO TỪ VÀ TlỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Tỉnh nê, bất thực, cựu tỉnh vô cầm.
初六: 井泥不食, 舊井无禽.
Toàn nghĩa sáu hào quẻ này chỉ thủ tượng bằng giếng, giếng là có công nuôi được người, mà sở dĩ nuôi được người là vì có nước mạch, nước mạch thường có hơi ấm, thuộc về dương nên trong quẻ phải lấy hào dương mà thí dụ bằng tuyền. Tuyền tức là nước mạch. Hễ hào âm nhu tức là giếng không nước mạch, đã không nước mạch thì sao gọi bằng giếng được.
Sơ Lục âm nhu mà lại cư hạ, bản chất đã hèn hạ, trên lại không người kéo dắt mình, không thể nào làm được công dụng nuôi người, tượng như giếng không nước mạch mà chỉ thấy những bùn nên không ai tới múc nước ăn. Giếng đã không ai tới múc nước, tất nhiên lâu ngày thành giếng bỏ, chẳng những người không ngó tới mà dầu loài cầm có khát chăng nữa cũng không tới ngó làm gì. Hào từ này chỉ nói một hạng người hèn hạ mà tính nết lại dơ bẩn không khác gì giống bùn, chính là một hạng người bỏ trong đời mà thôi.
Tượng viết: Tỉnh nê bất thực, hạ dã; cựu tỉnh vô cầm, thì xả dã.
象曰: 井泥不食, 下也, 舊井无禽, 時舍也.
Tỉnh nê bất thực là phẩm cách mình quá ty hạ vậy; cựu tỉnh vô cầm là bị trong đời chê bỏ vậy. Chữ thì ở đây khác với chữ thì ở Kinh văn. Chữ thì ở mọi nơi là mùa là buổi là giờ, tổng chí gọi bằng thì; còn chữ thì ở đây chỉ nghĩa là người trong đời (Thì xả nghĩa là người trong đời không ai dùng mình).
PHỤ CHÚ: Ở về thì Tỉnh, nếu đã thiệt tỉnh rồi thì ai nỡ bỏ đâu, nhưng Sơ Lục vì sao mà bất thực? Vì sao mà thì xả? Cái đó chỉ nên tự trách bản thân Sơ Lục, Sơ đã như giếng không nên giếng, còn ai dụng đến mình nữa đâu.
Vậy nên, chúng ta trong đời, muốn cho đời quý trọng mình, trước hết phải bồi dưỡng lấy nhân cách mình.
Đức Khổng Tử đã nói rằng: Người ở đời chớ lo không ai biết đến mình, mà chỉ lo làm sao cho xứng đáng được người ta biết. Như hào Sơ Lục này vẫn không tư cách khả tri làm sao mong được người tri mình.
2. Cửu Nhị: Tỉnh cốc, thiệc phụ, úng tệ lậu.
九二: 井谷, 射鲋, 甕敝漏.
Công dụng của giếng là cốt đưa nước lên trên giếng được mà lại cần người ở trên giếng múc lên cho. Vậy sau giếng mới có công dụng. Cửu Nhị tuy có tài dương cương, nhưng mà ở về hạ thể, trên không có người ứng viện cho mình, vả người thân cận với mình là Sơ Lục lại là người vô dụng. Vậy nên, không làm nổi được công việc nuôi người, tượng như giếng trong hang, mạch nước tuy có chốn chảy ra, nhưng chỉ lách tách năm bảy giọt bắn vào trên lưng con phụ, in như chum nứt vữa mà nước mót ra. Như thế, thiệt là không công dụng Tỉnh. Nói cho đúng, thời chỉ giếng không thành giếng mà thôi.
Tượng viết: Tỉnh cốc thiệc phụ, vô dữ dã.
象曰: 井谷, 射鲋, 無與也.
Cửu Nhị vẫn không đến nỗi vô tài, nhưng vì ở trên không người ứng viện với mình. Tỉ như có ít nhiều nước mạch mà không người ở trên múc lên cho, thế là vô dữ, nên Hào từ nói: Tỉnh cốc thiệc phụ. Vô dữ, nghĩa là không người giúp mình.
PHỤ CHÚ: Ở vào thì Tỉnh mà hạng người như Sơ với Nhị thảy là người vô công ở thì nhưng nguyên nhân thời khác nhau. Sơ là tài bất kham dụng nên Hào từ nói rằng: Tỉnh nê. Nhị có tài, lại bị khốn với hoàn cảnh nên Hào từ nói rằng: Tỉnh cốc.
Giếng mà bùn là đồ bỏ đi đã đành, chứ giếng mà ở hang thời còn có nước mạch, chẳng phải là tuyệt đối vô dụng, nên Tượng từ ở hào Sơ thời nói rằng thì xả mà ở hào Nhị thời nói rằng vô dữ là có ý thương tiếc cho Nhị.
3. Cửu Tam: Tỉnh điệp, bất thực, vi ngã tâm trắc, khả dụng cấp, vương minh, tịnh thụ kì phúc.
九三: 井渫不食, 為我心惻, 可用汲, 王明, 並受其福.
Cửu Tam bản chất dương cương, ở vào vị chính, lại đụng ở vào trên địa vị Nội Quái, chính là một hạng người có tài dụng đời mà lại sẵn có tấm lòng tế thế, in như giếng mạch tốt, nước trong, đáng lẽ người ta múc ăn mới phải, mà ai dè địa vị còn ở Hạ Quái như nước giếng chưa múc lên trên thành ra chưa ai ăn đến nước giếng ấy. Vì thế nên nỗi những người đi đường, ai cũng than thế cho giếng trong trẻo thế này mà không ai dùng tới. Ngã là chỉ vào Cửu Tam; tâm trắc nghĩa là trong lòng lấy làm đau. Người đi đường mà đau lòng là vì Cửu Tam có tài mà chưa gặp thì đó vậy.
Tuy nhiên, lẽ trong thiên hạ, đã sinh ra tài ở một đời là cốt để làm việc một đời ấy. Giếng đã trong sạch như Cửu Tam chắc người ta cũng đến dùng nước giếng ấy, múc lên mà ăn, hoặc có một ngày gặp bậc vương minh xuất hiện, lúc bây giờ người trên dùng tài mà người dưới được nhờ; người dưới có tài thời người trên được nhờ, hai bèn thảy chịu phúc khánh (Vương minh nghĩa là vị vương lại có đức minh).
Trái lại, vương mà ám thời giếng này cũng chỉ bất thực mà thôi. Nói tóm lại, giếng trong là Cửu Tam, người dùng nước giếng ấy là vương minh.
Tượng viết: Tỉnh điệp bất thực, hành trắc dã, cầu minhvương, thụ phúc dã.
象曰: 井渫不食, 行測也, 求明王, 受福也.
Giếng trong sạch mà không người dụng để ăn cũng như trong xã hội có bậc tài đức mà không ai dụng tới nơi, thiệt là một việc đáng đau đớn cho xã hội nên đến nỗi hành trắc. Hành trắc nghĩa là người đi đường trông đến giếng mà xót ruột vì đời không có vương minh. Đức Khổng Tử nói rằng: Minh vương không dậy trong đời thời ai là người chịu tôn dụng mình. Vì đau đớn cho bậc tài trí không được dụng vậy, trông mong cho có vương minh thời thiên hạ thảy được thu phục vậy.
PHỤ CHÚ: Hào từ này chú trọng ở chữ "tâm trắc" và chữ "vương minh". Cửu Tam tỉnh điệp là bổn phận của Tam đã đành tốt rồi, nhưng tài trí của Cửu Tam vẫn là tài trí chung của xã hội, thứ nhất là trông mong cho xã hội nhiều người hữu tâm. Nếu xã hội đã nhiều người tâm trắc Cửu Tam thời giống đó há lẽ bỏ không hoài hoài?
Tức như: Có dân Ấn Độ thời thánh Cam Địa chẳng phải là người trót ở tù, có quốc dân Trung Hoa thời Tôn Trung Sơn chẳng phải là người trọn đời làm bô khách. Chính lẽ vì xã hội tâm trắc quá nhiều nên kết quả cũng được dụng cấp. Thứ nữa là có vương minh, tất có Thành Thang thời Y Doãn mới làm nên phạt Kiệt cứu dân, có Uy Liêm đệ nhất thời Tỉ Sĩ Mạch mới làm nên phú cường cho nước Đức Ý Chí. Nếu không vương minh như hai người trên đây thời giếng trong đó ai dụng cấp rư. Vì vậy, Tượng Truyện lại nói hai chữ "hành trắc", chữ cầu đặt trên chữ vương minh, ý tứ thánh nhân há phải chỉ nói giếng mà thôi.
4. Lục Tứ: Tỉnh
thu, vô cựu. 六四: 井鹙, 无咎.
Thu là ghép gạch ở tư bề giếng, với lòng giếng làm cho nước giếng được trong sạch mà không gợn.
Lục Tứ tuy là bản chất âm nhu nhưng thượng tiếp Cửu Ngũ là một bậc dương cương, trung chính mà lại ở ngôi tôn. Tứ lại ở vị đắc chính, nhờ thế lực của Ngũ mà làm xong bổn phận của mình.
Tượng như giếng nước mạch vẫn chẳng bao lăm mà trau dồi thấy ra tử tế, không đến nỗi tỉnh nê như Sơ Lục, tuy không công gì lớn mà không tội lỗi.
Tượng viết: Tỉnh thu vô cựu, tu tỉnh dã.
象曰: 井鹙无咎, 脩井也.
Tỉnh thu mà được vô cựu, nghĩa là giếng này tuy không công gì lớn, nhưng thường hay tu lí thời cũng không đến nỗi thành giếng bỏ. Theo tài chất của Lục Tứ được như thế là hay rồi.
5. Cửu Ngũ: Tỉnh liệt, hàn tuyền thực.
九五: 井冽, 寒泉食.
Hễ nước giếng quý nhất là trong veo lạnh buốt mà lại múc lên được cho người ăn. Cửu Ngũ dương cương, trung chính, tượng như mạch nước giếng rất trong nên nói rằng tỉnh liệt. Liệt nghĩa là trong veo lạnh buốt.
Ngũ lại ở vào quẻ trên, đứng vào địa vị chí tôn, tượng như nước giếng múc lên trên mặt giếng mà người ta được ăn nên lại nói hàn tuyền thực.
Thích tóm lại, Ngũ đã dương cương, trung chính lại ở ngôi tôn nên ơn trạch được dầm thấm khắp thiên hạ. Thí dụ vào giếng là giếng đã có chất trong sạch lại có công lớn nên Hào từ được như thế.
Tượng viết: Hàn tuyền chi thực, trung chính dã.
象曰: 寒泉之食, 中正也. Tỉnh đến Cửu Ngũ mới có hàn tuyền thực là vì Ngũ có đức trung chính, đức Ngũ tốt hơn hết ở thì Tỉnh, chính là một cái giếng rất tốt đó vậy.
6. Thượng Lục: Tĩnh thu, vật mạc, hữu phu, nguyên cát.
上六: 井收, 勿幕, 有孚, 元吉.
Thu nghĩa là múc nước lên; mạc là che trùm. Công dụng của giếng là cốt đưa nước lên khỏi miệng giếng. Tỉnh đạo đến đó vừa hoàn thành là nước giếng đã múc lên rồi thời nên để cho tất thảy người dùng, chớ nên che trùm lại (Chữ vật ở đây là có ý cấm chỉ. Vật mạc là cấm chỉ che trùm lại).
Bởi vì cái giếng đó nên đưa làm của công mà không để làm riêng của một nhà, hễ ai muốn múc thời tùy ý múc. Hiền nhân quân tử đem tài trí mình làm ích lị cho thiên hạ cũng như thế nên nói rằng: Tỉnh thu vật mạc.
Tuy vậy đã đành, nhưng công việc tế thế an dân, há phải một chốc một lát mà làm nên được đâu, tất phải làm mãi mãi mà không cùng, in như cái giếng kia, mạch chảy mãi mà không hết, người múc luôn mà không cùng kiệt.
Như thế thời công dụng giếng mới hoàn thành, nên nói rằng: Hữu phu nguyên cát. Hữu phu, nghĩa là hữu thường mà không thay đổi; nguyên cát nghĩa là được lành lớn.
Thích tóm lại, giếng đã đến lúc người múc đông, ấy là tỉnh thu; nên đưa làm giếng chung cho thiên hạ mà không nên che đậy, ấy là vật mạc, thường thường như thế mãi mãi mà không biến dịch, ấy là hữu phu. Công dụng giếng đến lúc bấy giờ, mới hoàn toàn mỹ mãn, ấy là nguyên cát. Còn ý tứ ở ngoài mặt chữ thời quân tử đem tài đức ra gánh việc đời là tỉnh thu.
Hễ lị ích cho thiên hạ thời cứ làm mà chẳng bao giờ tiếc công riêng lị là vật mạc. Đã xuất lực nhậm lao, lại chí công bác ái dầu trăm năm cũng như một ngày là hữu phu. Công việc cứu đời đến lúc hoàn toàn mỹ mãn là nguyên cát.
Tượng viết: Nguyên cát tại thượng, đại thành dã.
象曰: 元吉在上, 大成也.
Ở trên hết quẻ mà được nguyên cát, bởi vì công dụng của giếng cốt đưa nước lên trên. Bây giờ đã đến vị trên hết, ấy là công dụng Tỉnh đã đến lúc đại thành rồi.
PHỤ CHÚ: Thông lệ các quẻ trong Dịch, đến hào cuối cùng là hào Thượng, thường thủ nghĩa cực thời phải biến, như Thái chi cực thời có chữ mệnh loạn, Dự chi cực, Thăng chi cực thời có chữ Minh dự, Minh thăng. Hễ đến hào Thượng, thường hay vì cực mà tốt hóa ra xấu. Duy quẻ Tỉnh, quẻ Đỉnh, không thủ nghĩa bằng cực mà thủ nghĩa bằng chung.
Tỉnh chi chung là nước đã múc về nhà; Đỉnh chi chung là đồ ăn nấu đã chín nên đến hào Thượng là thành công. Tượng Truyện hai hào ấy đều có chữ tại thượng là muốn cho độc giả hiểu ý ấy. Đó cũng là một biến lệ trong Dịch. Bây giờ lại bàn tóm cả sáu hào quẻ Tỉnh, văn lí rất tiếp tục, ý nghĩa rất chiếu ứng với nhau.
Bởi vì: Tên quẻ Tỉnh là mượn một vật mà ngụ vào đạo lí, đầu đuôi sáu hào là chỉ nói cái giếng, có thể chia làm ba đoạn:
Một là: Hào Sơ, hào Nhị ở về đoạn dưới. Sơ lại ở vào đáy giếng mà có bùn nên nói rằng: Tỉnh nê. Nhị có cao hơn Sơ chút đinh nên nói rằng: Tỉnh cốc.
Hai là: Tam: Tứ ở vào đoạn giữa, vừa đúng khoảng trung tâm giếng, bùn ở Sơ đã lắng trong nên thấy được Tỉnh điệp. Cốc ở Nhị đến đó đã tu lí nên mới thấy được Tỉnh thu.
Ba là: Duy Ngũ, Thượng là về đoạn trên, nhưng Ngũ chưa lên tận miệng giếng thời công dụng của giếng chưa được hoàn thành. Đến hào Thượng, nước đã lên khỏi giếng, nước giếng đã tràn qua miệng giếng là công dụng của giếng đến đó mới hoàn thành.
Vậy nên, trong sáu hào, hào Thượng được tỉnh thu nguyên cát. Xem suốt sáu hào thời bảo văn lí rất hay vẫn rất đúng mà bảo rằng: Lí luận với sự thực chẳng bao giờ trái nhau cũng rất đúng.
Hiểu hay không hiểu, quyền tại độc giả.
49. QUẺ TRẠCH HỎA CÁCH
Đoái trên; Ly dưới
Quẻ này là quẻ Trạch Hỏa Cách. Li hạ cũng là Nội Li, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Li hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Hỏa Cách.
TỰ QUÁI
Tự quái: Tỉnh đạo bất khả bất cách, cố thụ chi dĩ Cách.
序卦: 井導不可不革, 故受之以革.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tỉnh tiếp lấy quẻ Cách là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Tỉnh. Tỉnh, nghĩa là giếng, hễ nước giếng trữ quá lâu ngày thời gợn bụi tích lại ngày thêm nhiều mà mất nguyên chất trong sạch, nên đào giếng tất thường phải có cách, nghĩa là tát sạch nước cũ đi để cho nước mạch mới ra, tục gọi bằng khảo giếng, chính là nghĩa chữ Cách. Vì Tỉnh đạo tất phải có Cách.
Vậy nên sau quẻ Tỉnh, tiếp lấy quẻ Cách. Ý nghĩa chữ Cách, chỉ là thay những giếng cũ mà làm ra giếng mới, có nghĩa là biến cách mà cũng gọi bằng cải cách, canh cách, nên học nghĩa Cách là thay, Cách là đổi cũng thông, Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng Cách thời đã tường ở Soán Truyện.
SOÁN TỪ
Cách, dĩ nhật, nãi phu, nguyên hanh, lị trinh, hối vong.
革, 已日乃孚, 元亨利貞, 悔亡.
Cách chỉ, nghĩa là đổi cũ, hễ việc gì đã cũ, giống gì đã cũ, tất phải Cách, vì có hai có: Một là, theo về lịch sử, cái gì đã lâu ngày tất có tích tệ, tích tệ lâu ngày mà không đổi thời tệ bệnh không thế nào trừ. Vậy nên phải Cách. Hai là, theo về hoàn cảnh, hoàn cảnh ở hiện tại, đã khác hẳn với hoàn cảnh ngày xưa, muốn cho thích hợp với xã hội hiện tình, tất phải đón rước triều lưu mới lạ, mà đã muốn đón rước triều lưu mới lạ, tất nhiên những cái cổ hủ phải bỏ đi. Vì hai cớ như trên nên trong việc đời không bao giờ khỏi Cách.
Vì vậy mà trong Dịch phải có quẻ Cách. Cách, cũng là một việc rất tầm thường. Tỉ như, áo đã rách tất phải may áo mới, nhà đã cũ tất phải dựng nhà mới. Chỉ nói qua như thế, vẫn chẳng lạ lùng gì, nhưng bàn đến sự thực thời há dễ đâu, chỉ Cách ở một thân, một gia mà còn không cẩu thả làm nên, huống chi Cách đến một quốc gia, một xã hội thời gay go khốn nạn biết dường nào.
Bởi vì bao nhiêu việc cũ thời tập quán đã sẵn mà bỗng chốc thay đổi thời nhân tình kinh nghi, vả lại, nền tảng mới chưa đắp xong mà thốt nhiên đánh đổ nền tảng cũ thời nhân tình khủng cụ. Huống gì việc Cách đó há phải một mình mà làm xong! Tất nhiên phải cầu trợ với đại đa số nhân, mà khốn nạn thay! Nhân tình chỉ là quen thường thủ cựu mà ít người thông hiểu; thường nhân chỉ vui khi nên việc mà khó tin lúc bắt đầu. Nặng nể thay việc Cách! Khó khăn thay việc Cách! Thế thời chúng ta nên nghĩ làm sao? Chỉ duy lựa ở thời thế, xét ở nghĩa lí, quả nhiên thì đã đến Cách, việc đã nên Cách thời ta phải Cách. Trải bấy lâu ngày, nghĩa lí đã rõ rệt, thời thế cũng theo chiều, bây giờ nhân tâm phải theo phục; nghĩa là Cách đã trải bấy lâu ngày thời người mới tin.
Tuy nhiên, tin hay không tin là quyền tại lòng người, nhưng sở dĩ người tin hay không tin thời chỉ căn bản ở nơi công việc Cách.
Chúng ta khi bắt đầu ra làm việc Cách, tất phải hết sức ngần nghĩ cho đến hai lẽ này: Vì cái cũ đã hoại loạn mà phải Cách, tất phải tính cái làm mới đó, có chắc là nguyên hanh không? Đó là cân nhắc về phía thời thế. Vì cái cũ xiêu lệch bất chính mà phải Cách, tất phải nghĩ bây giờ làm ra Cách đó, có đúng hợp với đạo chính hay không? Đó là châm chước về phần nghĩa lí.
Nếu lựa được thời thế mà chắc rằng Cách thời đại thông, xét về nghĩa lí mà chắc rằng Cách thời lợi ở chính đạo, thời ta cứ việc Cách.
Cách mà hợp với thời thế, quả nhiên nguyên hanh. Cách mà đúng với đạo lí, quả nhiên lị trinh. Lúc bây giờ tệ cũ đổi sạch, nghiệp mới dựng nên, lòng người đã tín phục mà việc cùng tốt lành, chắc không phải ăn năn.
PHỤ CHÚ: Soán từ ít thấy chữ hối vong, duy quẻ Cách mới thấy chữ hối vong.
Bởi vì việc trong thiên hạ, không gì dễ hơn việc Cách mà cũng không gì khó hơn việc Cách. Cách mà đáng thời vẫn không sợ gì, 1ỡ ra Cách mà không đáng thời chẳng những hiện tại đã nhiều nỗi khó khăn lại gây mầm họa cho tương lai, thêm ngăn đón con đường tấn bộ, thiệt ăn năn không biết chừng nào! Mà huống gì sự thế đã đến lúc thất bại, dầu ăn năn cũng không ích gì. Tả Truyện có câu: Tê khả phệ hồ, nghĩa là việc đã hư hỏng, dầu cắn rốn mà kịp nữa rư! Tục ta thường nói: Phệ tê hà cấp, chính là hối cũng vô ích. Vậy nên Quái từ hết sức trịnh trọng về việc Cách mà kết thúc lấy hai chữ hối vong.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Cách, thủy hỏa tương tức, nhị nữ đồng cư, kì chí bất tương đắc, viết Cách. Dĩ nhật, nải phu, Cách nhi tín chi. Văn minh dĩ duyệt, đại hanh dĩ chính, Cách nhi đáng, kì hối nãi vong. Thiên địa Cách nhi tứ thì thành, Thang, Võ cách mạng, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân, Cách chi thời đại hĩ tai.
彖曰: 革, 水火相息, 二女同居, 其志不相得, 曰革. 以日乃孚, 革而信之. 文明以說, 大亨以正,
革而當, 其悔乃亡. 天地革而四時成, 湯武革命, 順乎天而應乎人, 革之時大矣哉.
Soán viết: Cách, thủy hỏa tương tức, nhị nữ đồng cư, kì chí bất tương đắc, viết Cách.
Đây là lấy tượng quẻ thích nghĩa tên quẻ. Quẻ này Đoài trên, Li dưới. Đoài là nước chằm, Li là lửa, lửa nhen thời nước phải khô, nước xối thời lửa phải tắt, thủy hỏa chung nhau tất phải biến Cách, đó là thủ nghĩa thủy, hỏa tương tức.
Lại còn mượn một tượng nữa: Đoài là con gái út, Li là con gái giữa, hai người con gái chung nhau một chốn. Nhưng tâm chí hai người đó xu hướng bất đồng mà không sẵn lòng hợp tác với nhau. Đó là thủ tượng nhị nữ đồng cư, kì chí bất tương đắc, vì tượng như thế tất phải biến Cách nên đặt tên bằng quẻ Cách.
PHỤ CHÚ: Chữ tức có hai nghĩa: Tức là tắt là nghĩa chữ tức ở đây; một nghĩa tức là đẻ ra là sinh ra.
Phật học thường có chữ diệt tức là theo về nghĩa trên. Nhà tư bản thường dùng chữ sinh tức, lị tức là theo về nghĩa dưới, nhưng trong vật lí, hễ một việc này tắt thời có việc khác sinh ra; hễ một giống này chết thời có giống khác nảy ra.
Tằm chết mà sinh ra bướm; khương trùng chết mà con ve sinh ra. Vậy nên trong chữ tức ngậm có hai nghĩa, có diệt tức mà sau mới sinh tức, hai lẽ đó tuần hoàn luôn luôn mà không bao giờ nghỉ. Tổng chi, cũ không đổi thời mới không sinh. Vì vậy mà phải Cách, chỉ tranh nhau Cách mà được hay Cách mà thua thời lại quan hệ ở nơi thế lực cũ, mới. Duy có một lẽ chúng ta rất nên biết, thế lực cũ chỉ là thế lực hiện thành, hiện thành tất lần lần xây vào tiêu cực; thế lực mới là thế lực tiềm dưỡng, tiềm dưỡng thời có lẽ lần lần tích cực.
Nếu làm Cách mà biết trước được tiềm dưỡng thế lực, quyết không bao giờ không thành công. Xem như trên Quái từ đã có chữ "nãi phu" lại có chữ "hanh lị" thời biết được cũ thế nào cũng diệt tức, mới thế nào cũng sinh tức, việc đã đáng Cách còn sợ gì mà chẳng Cách.
Dĩ nhật, nãi phu, Cách nhi tín chi.
Hễ những việc cải cách, há bỗng chốc mà người đã tin rư? Lòng người đã chẳng tin thời việc Cách đó không kết quả.
Vậy nên, trong khi làm Cách, tất phải lập chương trình cho tốt, kén chủ nghĩa cho tinh, dám chắc rằng: Trải bao nhiêu ngày thời chắc lòng người tin, nghĩa là Cách mà lòng người tin đó, nghĩa câu: Dĩ nhật nãi phu là như thế.
Văn minh dĩ duyệt, đại hanh dĩ chinh, Cách nhi đáng, kì hối nãi vong.
Đây lại lấy đức quẻ thích lời quẻ, quẻ có thể Li, Li là văn minh, quẻ có thể Đoài, Đoài là hòa duyệt; lấy đức văn minh mà soi xét sự lí, lấy tính hòa duyệt mà thỏa thuận với lòng người, sự lí đã soi xét được rạch ròi mà nhân tâm cũng thỏa thuận thời những việc Cách đó chắc cũng được đại thông mà được trinh chính.
Hai câu trên đây là căn bản của người làm Cách; chữ minh, chữ duyệt là thuộc về phần tài đức. Nếu chẳng minh thời chẳng lấy gì mà liệu nhân, liệu sự, tri kỉ, tri bỉ. Nếu chẳng hòa duyệt thời lấy gì mà liên kết quần chúng mà được đại đa số biểu đồng tình, thời làm gì nổi được việc Cách.
Bây giờ phía trong thời chứa trữ đức minh, phía ngoài thời hiển hiện ra tính duyệt, đó là căn bản của người làm Cách.
Nhưng lại phải dò cho hết đường đi nước bước cho chắc được đại thông, chủ nghĩa mục đích cho hợp với chính đạo (chữ hanh, chữ chính là thuộc về quy mô), đủ như hai câu trên đây, thế là Cách mới đáng bao nhiêu việc, mà phải ăn năn nhất định không còn.
Quái từ sở dĩ nói hối vong mà không nói vô hối là vì cớ sao?
Nguyên lai, việc đời sở dĩ có Cách là chỉ vì những việc hủ bại về ngày xưa, nhiều việc đáng hối là thuộc về phần dĩ vãng. Vì thế mà bây giờ phải Cách.
Nếu Cách mà lại hư hỏng, Cách mà chẳng thành công thời lại nảy ra vô số việc hối về tương lai.
Thánh nhân vì lo
cho như thế nên nói rằng: Cách nhi đáng kì hối nãi vong. Than ôi! Nặng nề thay
trách nhiệm Cách! To lớn thay sự nghiệp Cách! Cách mà không đáng, âu là không
Cách còn hơn. Bởi vì chẳng Cách thời chỉ là hối về dĩ vãng, còn nói rằng: Lai
giả khả truy 來者可追.
Trái ỉại, hối vì Cách mà chẳng đáng thời là hối luôn đến tương lai, thành ra cái vạ sa chân với chẳng lại. Chúng ta nên nhận kỹ chữ đáng với chữ hối vong. Nghĩ làm sao cho đáng, với hối vong rư? Nếu chúng ta nghĩ chưa ra, xin chớ vội bàn chuyên Cách
Thiên địa cách, nhi tứ thì thành, Thang, Võ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân. Cách chí thời đại hĩ tai.
Khổng Tử thích Quái từ xong, lại nghĩ ngầm đến đạo Cách mà biết rằng: Tạo hóa sở dĩ thành công, loài người sở dĩ bất tuyệt, tổng chi, phải nhờ bằng Cách; tức như trời đất biến dịch luôn, bốn mùa thay đổi hoài, có như thế thời vạn vật mới sinh trưởng thành tựu. Nếu trái lại, trời chẳng thay rét sang ấm, chẳng thay Hạ sang Thu, chẳng thay Đông sang Xuân thời làm sao nên được công tạo hóa. Vì vậy nên nói rằng: Thiên địa cách nhi tứ thì thành.
Tức như, một quốc gia, một xã hội, đã hủ bại đạt ở cực điểm mà còn để nằm im hoài. Tỉ như, Hạ chẳng Cách làm Thương, Thương chẳng Cách làm Chu thời thương sinh bách tính lúc bấy giờ, e thảy chết vào trong tay tàn ác của Kiệt, Trụ. Vậy Thang phải đuổi Kiệt mà cách mạng Hạ, Võ phải đánh Trụ mà cách mạng Thương. Thang, Võ sở dĩ phải cách mạng như thế, cũng chỉ là thuận với đạo trời mà ứng với lòng người.
Thiên nghĩa là trời. Thời thế đã đến lúc đáng Cách, chiều thời thế mà Cách, đó là thuận với thì trời.
Nhân nghĩa là lòng người. Nhân dân khốn khổ, thì cuộc đảo điên, lòng người đã trông mong cho được Cách. Chiểu lòng người mà Cách, như thế là ứng với người.
Xưa nay, những công việc cách mạng, tất thảy là trời kéo đặt ở đường trước mà người xui giục ở đường sau, thuận ứng mà làm, chẳng bao giờ cãi trời chống người mà làm nên. Lớn lao vậy thay là thì Cách!
Bởi vì công việc ở thì Cách, chẳng phải một "nghĩa" hay một "dụng" mà thôi, Cách tất phải có mục đích lẫn thủ đoạn. Mục đích tất là hay vì chữ nghĩa, thủ đoạn giỏi là diệu vì chữ dụng nên nói một chữ thì là bao bọc cả chữ nghĩa với chữ dụng. Nếu chỉ nói một chữ nghĩa, té ra có mục đích mà không thủ đoạn; nếu chỉ nói một chữ dụng thời té ra có thủ đoạn mà không mục đích.
Tổng chi nghĩa với dụng đã nhốt vào trong chữ thì mà thì thời dòm vào đâu? Chỉ dòm vào nhân với thiên, dòm vào thời thế với hoàn cảnh mà biết được thiên, dòm vào tâm lí quần chúng mà biết được nhân. Thiên, nhân đã thảy thuận ứng, tức là thì đáng Cách.
PHỤ CHÚ: Hai chữ cách mệnh ở đời bây giờ đã thành một danh từ ở đầu miệng người, nhưng hỏi đến cách mệnh là, nghĩa làm sao? Thời chưa ai giải thích một cách cho xứng đáng.
Bây giờ xin theo ý nghĩa Dịch mà giải thích ra sau này: Cách nghĩa là thay đổi; mệnh nghĩa là chính lệnh. Thay đổi một quốc gia, một triều đình hoặc một chính phủ, tất thảy là thay đổi chính lệnh cũ mà thì hành chính lệnh mới.
Chỉ chứng vào Thang, Võ thời nghĩa hai chữ cách mệnh, chỉ có ngần ấy, nhưng theo học thuyết đời nay thời cách mệnh chỉ giảng bằng một chữ cách là đủ.
Ti như: Ở trong một gia đình, đổi một tập quán cũ mà thay vào tập quán mới thời gọi bằng gia đinh cách mệnh. Ở trong dân tộc, đổi một chủng tộc kia mà thay vào chủng tộc này thời gọi bằng dân tộc cách mệnh. Đổi một chế độ hủ bại xưa mà thay vào chế độ mới thời gọi bằng quốc gia cách mệnh. Đổi một giai cấp cũ mà thay vào giai cấp mới thời gọi bằng xã hội cách mệnh, như những loại ấy, v.v. thời không việc gì không nói được cách mệnh. Như thế thời chỉ nói một chữ Cách là đủ, dầu thêm chữ Mệnh vào cũng thừa.
Tỉ như: Luân lí cách mệnh, chức nghiệp cách mệnh, công nghệ cách mệnh, kinh tế cách mệnh, học thuật cách mệnh, so đọ với quốc gia cách mệnh, chính trị cách mệnh thời một bên đúng với chữ mệnh mà một bên thời không dây dướng gì đến chữ mệnh, chẳng qua chúng ta tiện miệng nói quen thời nói luôn cách mệnh cũng được.
Nói tóm lại, hễ đánh đổ cái cũ, sắm sửa cái mới; đạp đổ nền cũ, gây dựng nển mới; khua đuổi anh cũ, thay vào anh mới, tất thay là cách mà cũng nói được là cách mệnh.
Tượng viết: Trạch trung hữu hỏa, Cách. Quân tử, dĩ trì lịch minh thì.
象曰: 澤中有火, 革. 君子以治厤明時.
Ở giữa nước chằm có lửa, tất nhiên hai giống phải đánh nhau, lửa mạnh hơn thời khô được nước; nước mạnh hơn thời tắt được lửa, đó là tượng tranh đấu, tranh đấu tất phải biến Cách.
Quân tử xem vào tượng ấy mà nghĩa ra một việc biến Cách, sự đã rất to, lí lại rất rõ, chẳng gì bằng năm tháng thay đổi, quân tử mới bắt chước tượng Cách mà làm ra phép lịch, hoặc dùng lịch Thái dương, hoặc dùng lịch Thái âm, để cho minh bạch thứ tự bốn mùa. Đó là biến Cách thuộc về thì gian rất chóng vánh.
Ngày thời có buổi mai, buổi đêm là Cách thuộc về một ngày; tháng thời có ngày hối, ngày sóc, ngày huyền, ngày vọng là Cách thuộc về một tháng; Năm có Xuân, Hạ, Thu, Đông là Cách thuộc về một năm; dài cho đến một vũ trụ, một thế kỉ mà năm tháng vận hội lần lần thay đổi cho đến vô cùng; đó lại là Cách thuộc về thì gian rất lâu dài.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Cửu: Củng dụng hoàng ngưu chi cách.
初九: 鞏用黄牛之革.
Biến cách là một việc rất lớn, tất phải có thì, có vị, có tài; đủ ba cái ấy mà còn phải thẩm thận kĩ càng, dòm trước ngó sau, mới dám bắt đầu hành động. nếu không như thế, chưa có thể thành công. Huống gì chỉ có thì mà thôi mà vị thời quá thấp, tài lại quá hèn, chớ vội nói Cách.
Như Sơ Cửu này, kể theo vị thời vị còn ở dưới thấp, kể bằng tài thời cương mà bất trung, tuy ở vào thì Cách, nhưng còn là Cách chi sơ; chính là lúc thì cơ chưa thành thục. Thì còn lỡ dở mà lấy một hạng người vô tài vô vị như Sơ Cửu mà bảo làm công việc biến cách, chẳng nguy hiểm lắm hay sao? Nên Hào từ răn cho rằng: Sơ mày quá cương táo, vị lại quá thấp, vả trên không người ứng viện, Sơ chớ nên vội nói chuyện Cách, chỉ nên dằn tính cương táo mà giữ bằng một cách trung thuận; giữ được trung thời khỏi mắc bệnh cương táo; giữ được thuận thời khỏi mắc lỗi trái thì.
Sơ mà biết cẩn thận như thế, lại giữ được bền dai, thiệt là đáng may cho Sơ đó, tượng như dùng da trâu vàng mà bó thiệt chặt, nên nói rằng: Củng dụng hoàng ngưu chi cách.
Chữ cách ở đây chỉ có nghĩa là da; hoàng là thí dụ bằng đức trung; ngưu là thí dụ bằng tính thuận; củng nghĩa là buộc chặt. Bền chặt đạo trung thuận, tượng như bó buộc mà dùng da trâu vàng.
Tượng viết: Củng dụng hoàng ngưu, bất khả dĩ hữu vi dã.
象曰: 鞏用黄牛, 不可以有為也.
Sơ Cửu, kể về thì thời mới bắt đầu vào thì Cách; kể về vị thời ở dưới hết quẻ, kể về tài thời cương mà bất trung, tất thảy là không thể hữu vi nên chỉ củng dụng hoàng ngưu chi cách mà thôi.
2. Lục Nhị: Dĩ nhật, nãi cách chi, chinh, cát, vô cựu.
六二: 已日乃革之, 征吉, 無咎.
Ở vào thì Cách đã đến vị Nhị là cơ hội Cách đã tới nơi mà bản thân Lục Nhị nhu thuận đắc trung, đắc chính, ở vào chính giữa Nội Li, lại làm chủ cho văn minh, ở trên có Cửu Ngũ là dương cương cư tôn cũng có đức trung chính mà ứng với Nhị.
Vì có đức trung chính nên không chênh lệch, vì có đức văn minh nên không lầm tối.
Vì trên có Ngũ ứng với thời quyền thế lại trong tay mình, đủ cả mọi việc hay như thế. Thì đã đến rồi, vị đã có rồi, tài đã sẵn rồi, bắt tay làm việc Cách đáng lẽ không ngại gì, nhưng mà phá hoại dương lúc bắt đầu mà kiến thiết còn chưa thấy hiện. Bảo rằng: Bỏ nền cũ, dựng nền mới, há phải nóng nảy mà làm nên rư? Lại tất phải sắp đặt trong bấy nhiêu ngày, thảm đạm kinh dinh, no tuần đủ tháng, thấy được kẻ trên tín dụng, kẻ dưới phục tòng, bây giờ mới thẳng tay cách cố mà dựng nên nền đỉnh tân. Lành thay! tốt thay! Tài như vậy, đức như vậy, lại được cả thì với vị mà còn đón trước, nhắm sau, Dĩ nhật nãi cách, thiệt là một thủ đoạn rất giỏi ở thì Cách.
Lúc bây giờ thẳng bước tiến lên, sấm theo gió lướt, thành công tác tạo, núi tốt sông tươi. Thế là chinh, cát mà lại vô cựu.
PHỤ CHÚ: Lục Nhị với Cửu Ngũ là hai hào rất tốt ở quẻ Cách mà lại đồng đức ứng với nhau, đức xứng theo vị, vị xứng theo tài, tài lại đúng theo thì, nhưng mà Hào từ còn có câu dĩ nhật nãi cách chi, tấn hành bằng một cách rất cẩn trọng. Vậy mới biết: Cách là một việc rất nhu yếu trong xã hội, lại là một việc rất gian nan trong xã hội. Khí chưa nên Cách mà chưa Cách như Sơ Cửu, chính là đương buổi tiềm dưỡng mà chờ ngày hữu vi. Khi đáng Cách mà Cách, tất phải như Lục Nhị, đủ ngón kinh quyền mới khỏi thất bại. Huống gì thời thế chưa thành thục, mà tài, đức với vị Nhị còn thua Ngũ xa.
Than ôi! Cánh muỗi mà khiến đội non, chân hôn mà khiến bơi bể, chẳng nguy hiểm lắm hay sao! Nên thánh nhân không dám khinh dị nói Cách mệnh.
Tượng viết: Dĩ nhật cách chi, hành hữu gia dã.
象曰: 已日革之, 行有嘉也.
Tài,đức, vị, thì thảy đều đủ như Lục Nhị mà còn chờ dĩ nhật nãi cách chi thời tấn hành chắc có công tốt. Gia nghĩa là có công tốt, cũng có nghĩa là đáng khen.
3. Cửu Tam: Chinh, hung, trinh, lệ, cách ngôn tam tựu, hữu phu.
九三: 征凶, 貞厲, 革言三就, 有孚.
Cửu ở vị Tam là dương cương bất trung, vì ở vào thì Cách, lại đứng vào vị trên hết Nội Quái, nhân lòng người mong mỏi nên Tam cũng nóng nảy bằng cách tấn hành. Tuy nhiên, xưa nay làm Cách há phải tài cương, tính táo mà làm nên được rư? Nên Hào từ răn cho rằng: Tam ơi! Nếu chỉ dùng cách liều mà tấn hành thời chỉ làm hại cho việc Cách mà thôi. Ta bảo cho Tam phải nên thế này. Giữ chủ nghĩa cho trinh chính, lại thường nguy cụ tiểu tâm luôn luôn. Như thế là căn bản làm việc Cách đã vững vàng, nhưng chương trình kế hoạch cũng chẳng phải sơ suất mà nên. Tài tất phải nhóm họp bạn đổng tâm, châm chước cơ thành bại, sơ đi phúc lại, những kế hoạch dụng ra làm Cách đó, một lần chưa chín thời hai, hai lần chưa chín thời ba, tính toan sắp đặt đến ba lần, chắc không có điều gì là khuyết điểm (Cách ngôn là những mưu kế thuộc về việc; cách ngôn tam tựu, nghĩa là thành tựu đến lần thứ ba). Thì đã đến trung gian ở thì Cách mà kế hoạch chương trình, lại thu xếp sắp đặt được viên mãn thời công việc Cách được kết quả chắc chắn.
Chữ phu ở đây không học nghĩa phu là tin mà học nghĩa phu là chắc chắn, cũng ý là khả tất.
Tượng viết: Cách ngôn tam tựu, hựu hà chi hĩ.
象曰: 革言三就, 又何之矣?
Hựu hà chi ý như cách hà vãng hồ, nghĩa là cách ngôn mà đã đến tam tựu là đã thẩm thận đến mực rồi, còn lại thêm bằng cách gì nữa!
Tượng Truyện nói thêm vào như thế là sợ thẩm thận thái quá, bàn bạc phân vân, sẽ mắc phải bệnh nghị luận đa nhi thành công thiểu nên lại răn rằng: Vừa đến tam tựu là đúng mực rồi, còn lại thêm bằng cách gì nữa. Đó là ý Tượng Truyện bổ túc cho Hào từ.
4 Cửu Tứ: Hối vong hữu phu, cải mệnh, cát.
九四: 悔亡, 有孚, 改命吉.
Hào Cửu ở vị Tứ, theo như quẻ khác đáng lẽ là hữu hối, nhưng mà Dịch lí tùy thì biến hóa nên Cửu Tứ bỏ nghĩa thường như mọi hào mà thủ nghĩa bằng cách đặc biệt.
Hễ làm việc Cách ở thì Cách, quá ư nhu thời không dám nói Cách, quá ư cương thời ham làm Cách mà hay hỏng việc. Duy hào này Cửu cư Tứ là có cương mà pha vào nhu, có nhu mà giúp với cương, năng cương, năng nhu, mới là diệu dụng ở thì Cách, nên Hào từ nói rằng: Cửu Tứ, hối vong, chính vì giữa bản thân Cửu Tứ mà chắc những việc đáng ăn năn như trước kia, tất thảy khỏi ráo. Vả lại, Cửu Tứ này đã vượt khỏi trung đoạn Cách mà lên tới chung đoạn. Thế là Cách đã đến nhịp gần thành công. Trải thì giờ Cách đã khá lâu, chắc công việc Cách đã khá lắm, chương trình kê hoạch cũ e phải châm chước theo thì mà sửa đổi, nhưng trong lúc sửa đổi đó, chưa chắc trong đảng phái hay xã hội toàn thể đã thừa nhận hay chưa, nên lại phải dày thêm đức chí thành của mình, khiến cho đại đa số tin rằng những việc cải cách đó rặt là hữu lị nhi vô hại, vị công phi vị tư.
Thế là hữu phu rồi, bây giờ ta cải mệnh thời chắc được cát.
Cải, nghĩa là sửa đổi, hoặc chương trình cũ còn lược mà bây giờ phải thêm tường, hoặc thủ đoạn cũ đã quá xưa, bây giờ phải dụng thủ đoạn mới (Mệnh là chương trình kế hoạch mà người trên xuất phát cho người dưới tuân theo, gọi bằng mệnh lệnh).
Tượng viết: Cải mệnh chi cát, tín chí dã.
象曰: 改命之吉, 信志也.
Cải mệnh mà được cát là vì tinh thần của người chủ Cách, trên dưới thảy tin theo rồi vậy. Chí nghĩa là tâm chí (Tín chí là tin ở nơi tinh thần, chỗ không phải tin ở hình thức đó vậy).
5. Cửu Ngũ: Đại nhân, hổ biến, vị chiêm hữu phu.
九五: 大人虎變, 未占有孚.
Quẻ Cách đã lên tới Ngũ là thì Cách đã thành thục được chín phần mà Ngũ lại có tài dương cương, có đức trung chính, đứng vào vị nguyên thủ trong đời Cách. Như thế, thiệt xứng đáng một bậc đại nhân. Lấy một người đại tài đại đức xử vào vị chí tôn, đem thân ra làm việc Cách cho thiên hạ, đi tới đâu thời thấy công dụng biến hóa đó làm việc gì thời thấy thành hiệu rõ ràng, in như con cọp đã đến lúc thay lông, đổi vẻ nên nói rằng: Đại nhân, hổ biến. Hổ là giống muông có văn thái, đến lúc thay lông lại càng rực rỡ nên thí dụ bằng công việc Cách đã hoàn thành. Hổ không phải thí dụ vào đại nhân mà thí dụ vào thiên hạ ở thì ấy. Thiên hạ nhờ đại nhân ra tay biến Cách mà chốn nào chốn nấy rực rỡ văn minh. Như thế là hổ biến.
Đại nhân làm nên công việc hổ biến như thế, há phải chờ đến khi kết quả mà thiên hạ mới tìn rư? Đức trung chính chất chứa đã lâu ngày, tài dương cương uẩn súc đã lâu ngày nên khi mới bước chân lên vũ đài mà thiên hạ đã tín ngưỡng, chính là đã sẵn lòng tin trước khi chưa bói kia vậy.
Chiêm nghĩa là bói, thường tình hay chờ bói mới tin nên mượn chữ vị chiêm mà tỏ rõ ý tin sẵn, trước lúc chưa bói mà đã quyết tin như thế.
PHỤ CHÚ: Vị chiêm ở hào này in như vua Thành Thang khi chưa đánh Hạ đuổi Kiệt mà quân của vua Thang tới đâu thời thất gia tương khánh mà bảo với nhau rằng: Chờ vua ta, vua tới thời ta sống lại.
Lại như, vua Lê Thái Tổ nước ta, khi chưa về tới Thăng Long mà quân vua đi tới đâu, từ Tân Bình tới Nghệ Thanh, tất thảy trống cờ đón rước. Cách mệnh mà được như thế, còn chờ gì bói nữa đâu!
Tượng viết: Đại nhân hổ biến, kì văn bính dã.
象曰: 大人虎變, 其文炳也.
Đại nhân hổ biến, nghĩa là đại nhân làm nên việc Cách thời thiên hạ ở lúc bấy giờ in như cọp đã thay lông mà văn chương rực rỡ vậy.
6. Thượng Lục: Quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện, chinh hung, cư trinh, cát.
象曰: 君子豹變, 小人革面, 征凶, 居貞.
Hào từ Thượng Lục vừa tiếp lấy Cửu Ngũ, mà nói cho đến lúc cuối cùng thì Cách nên Hào từ không chú trọng chữ Lục mà chỉ chú trọng vào chữ Thượng, Thượng là cách chi trung. Cách đạo đến bây giờ đã dạt ở cực điểm, người thiên hạ đến lúc đó chia làm hai hạng, hạng người từ bậc trung sắp lên mà gọi bằng quân tử, đạo đức đầy đủ, chưa là bậc thánh cũng là bậc hiền, trí thức mở mang, đổi lốt cũ mà thay ra lốt mới, tất khắp thảy hạng người này, in như con báo thay lông mà vẻ vang rực rỡ; còn một hạng người nữa, phần nhiều là bậc hạ ngu mà gọi bằng tiểu nhân, tới lúc bây giờ họ bị lùa đuổi vì làn sóng mới, tuy không biến hóa đến gan ruột, nhưng cũng thay đổi ở ngoài mặt mà đi vào lối lương thiện.
Thời đại Cách mà đã đến lúc ấy, thuộc về xã hội quân tử, tỏ rõ ra vẻ mới văn minh, mà xã hội tiểu nhân cũng thay hết những lối hủ bại. Cách đạo đến đó là đã hoàn thành rồi, trên đường kiến thiết đã chỉnh đốn được hoàn toàn thời những món phá hoại như thuở xưa, bây giờ phải tấp dẹp cho yên lặng, chỉ nên thủ thành mà không nên canh động nữa.
Nếu trái lại, Cách đã thành rồi mà lại còn canh cách nữa thời chẳng những hoại mất nghiệp hiện thành mà lại gây nên những môì hậu hoạn, ấy là chinh thời hung mà thôi.
Quân tử ở thì bây giờ, chỉ có chữ trinh thời cát. Cư trinh nghĩa là yên ở vào lối chính đạo. Chữ trinh này với chữ trinh ở Quái từ gốc chỉ một lẽ. Lúc đầu bắt tay vào làm Cách đã cốt ở lị trinh, đến khi cuối cùng thì Cách cũng chỉ là cư trinh. Trung gian dầu trải bao nhiêu thì giờ, dụng bấy nhiêu thủ đoạn, nhưng một chữ trinh đó hữu thỉ hữu chung, triệt thủ triệt vĩ, mới là Cách đạo chi chí thiện.
Vậy nên cuối cùng quẻ Cách phải có lời răn rằng: Cư trinh, cát. Kìa như Viên Thế Khải đánh đổ Mãn Thanh, dựng thành Trung Hoa Dân Quốc là Cách thành rồi mà còn biến canh quốc thể, dựng triều Hồng Hiến, kết quả thân danh lưỡng vong.
Kìa Nã Phá Luân đánh đổ nền quân chủ, khai quốc hội, dựng hiến pháp, chẳng phải là Cách đã thành rồi hay sao mà quay lại còn xưng đế tự hùng? Kết quả cũng thân danh lưỡng bại. Cái gương hai người đó thiệt là chinh hung.
Đọc ba chữ "cư, trinh, cát" càng bội phục ông Hoa Thịnh Đốn, bát niên huyết chiến, đánh đổ quân chính phủ nước Anh, dựng thành nước Hợp Chủng dân chủ, nhường chức vị Đại Tổng Thống cho kẻ khác mà mình y nhiên làm một tên bình dân, đến lúc bây giờ dân nước Mỹ còn gọi ông bằng quôc phụ, chẳng phải là cư trinh mà được cát hay sao?
Tượng viết: Quân tử báo biến, kì văn úy dã, tiểu nhân cách diện, thuận dĩ tòng quân dã.
象曰: 君子豹變, 其文蔚也, 小人革面, 順以從君也.
Quân tử báo biến là đã cách hết cũ mà thay ra mới mà văn chương rực rỡ ra ngoài vậy. Còn tiểu nhân tuy chưa cách đến tâm mà cũng đã cách tới diện, đổi cương ác ra làm nhu thiện, thuận tòng với quân tử vậy.
Trình Truyện thích bài này có một đoạn giảng đạo lí, tuy không phải thích nghĩa hào, nhưng theo về tâm lí học, cũng khải phát cho người được nhiều nên dịch vào đây.
Trình Truyện nói rằng: Nhân tính bản thiện mà cớ gì có một hạng người không làm thế nào cho nó cách được tâm, thế thời nhân tính vẫn ác hay sao? Không phải, lẽ đó vì chữ "tính", chữ "tài" khác nhau.
Theo về phần "tính" thời tất thảy người vẫn lành. Theo về phần "tài" vẫn có khác nhau là "thượng trí" với "hạ ngu".
Đã thượng trí vẫn không thay đổi mà hạ ngu vẫn cũng không thay đổi, nhưng trong bọn hạ ngu chỉ có hai hạng người: một hạng là tự bạo, một hạng là tự khí. Hễ người nếu đã chịu nghe điều lành thời dầu sắt mài mãi cũng nên kim, đá đốt mãi cũng nên tro, có lẽ nào mà không thay đổi được. Duy hạng người tự bạo, tự khí thời trái hẳn. Phần "tài" họ thuộc về phần nhu ám thời gọi bằng tự khí, họ tự nói rằng: Thánh hiền hào kiệt đâu đến phần mình, tự mình họ, họ cho là đồ bỏ đi, hạng ấy vẫn là hạ ngu.
Lại còn một hạng, phần "tài" họ thuộc về phần cương cường thời gọi bằng tự bạo, bản thân họ vẫn có tài lực hơn người, trong mắt họ không xem bậc thánh hiền hào kiệt vào đâu, họ bảo làm việc thiện, dầu sức họ làm được, song họ có chịu làm đâu. Hạng người đó, tuy vẫn không phải như hạng tự khí, nhưng tổng chi cũng là một hạng hạ ngu.
Những hạng hạ ngu như thế, chẳng bao giờ mà họ cách tâm được. Duy ở vào thì Cách phần quân tử đã quá đông, phần tiểu nhân đã không thể dụng được trong quần chúng nên họ cũng phải cách diện, dầu có thánh nhân cảm hóa thế nào, cũng chỉ khiến cho họ giả làm quân tử ngoài mặt, chứ không thể cưỡng bách họ làm được quân tử thiệt. Trong Dịch có câu tiểu nhân cách diện, không phải tội vì phần tính mà tội vì phần tài. Tài thời có phần ác mà tính chỉ có phần thiện, chớ thấy có hai chữ cách diện mà nhận lầm rằng: Tính người có phần ác.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc hết những sử cách mệnh ở các nước, tuy có đám lớn, đám nhỏ, đám được, đám hỏng, đám thua, đám nên, nhưng xét cho đến nhân quả, tìm cho hết lí do thời không khỏi ra ngoài phạm vi quẻ Cách.
Xem ở Quái từ thời có câu dĩ nhật nãi phu, ở Hào từ có câu dĩ nhật nãi cách chi, thời biết được việc Cách há phải bỗng chốc mà làm nên? Lại xem tầng thứ ở sáu hào thời biết được nước trước, nước sau, khuôn nhỏ, khuôn lớn, tấn hành rất có trật tự, sắp đặt rất có quy mô, chẳng bao giờ sơ suất rối ren mà làm nên Cách. Khi mới bắt đầu vào thì Cách như Sơ Cửu thời chi "củng dụng hoàng ngưu chi Cách". Đến khi Cách đã sắp sửa thành công thời thấy được "hổ biến, báo biến", nhưng ở trung gian Lục Nhị phải thẩm thận bằng "dĩ nhật" mới mong được chinh cát; Cửu Tam phải kỹ càng bằng "cách ngôn tam tựu" mà còn lo sợ chinh hung; Cửu Tứ thời Cách đã đến nửa chừng lại tấn lên một tầng mà "hữu phu cải mệnh".
Nhưng trong Quái từ, Hào từ lại có một ý sâu xa nhất là chữ "hữu phu"; ở Quái từ đã có chữ "nãi phu", sáu hào thời Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ thảy có chữ "hữu phu", chỉ một chữ "phu" mà phản phúc đinh ninh như thế.
Phu chỉ có nghĩa là tin, xưa nay ở thì Cách làm việc Cách mà nếu xã hội còn đương hoán tán, nhân tâm còn đương nghi ngờ, chưa mua được lòng tin của người đại đa số mà vội nói làm cách mệnh, sử cách mệnh chưa thấy đám nào được như thế mà làm nên cả.
Chẳng nói đâu xa, như hiện gần đây, ông Khải Nạp Nhĩ (Mustapha Kemal) ở Thổ Nhĩ Kì, ông Lénine ở Nga La Tư, sự nghiệp to lớn biết dường nào mà nhân tâm hai nước ấy tin phục hai ông lại biết chừng nào! Đương khi chưa làm cách mệnh mà người trong nước thảy đều xem như một vị thánh thần, đến khi cất gánh cách mệnh thời người trong nước lại thảy xem như cha mẹ. Chúng ta mới biết rằng: Đầu đuôi quẻ Cách mà chỉ nhắc đi nhắc lại có một chữ Phu, thiệt là kim khoa ngọc luật cho nhà làm cách mệnh đó vậy. Than ôi! Chân lí như thế, diệu dụng như thế, Dịch há phải là sách không ngôn đâu! Ai sinh ở đời cách mệnh, muốn làm việc cách mệnh thời nên hấp thụ cho hết tinh thần quẻ Cách. Cách chi công dụng đại hĩ tai.
50. QUẺ HỎA PHONG ĐỈNH
Ly trên; Tốn dưới
Quẻ này là quẻ Hỏa Phong Đỉnh. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Li thượng cũng là Ngoại Li. Li hỏa, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Phong Đỉnh.
TỰ QUÁI
Tự quái: Cách vật giả, mạc nhược Đỉnh, cố thụ chi dĩ Đỉnh.
序卦: 革物者, 莫若鼎, 故受之以鼎.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cách tiếp lấy quẻ Đỉnh là vì cớ sao?
Trên kia là quẻ Cách. Cách, nghĩa là biến cách, biến cách được giống vật, không gì bằng Đỉnh. Đỉnh, nghĩa là cái vạc, vạc để dùng nấu các giống, biến đồ sống mà làm ra đồ chín, đổi giống cứng hóa ra giống mểm là công dụng cách được vật mà dễ thấy nhất là Đỉnh.
Vậy nên sau quẻ Cách tiếp lấy quẻ Đỉnh. Quẻ này đặt tên bằng Đỉnh, có hai lí do: Một lí do thủ tượng, xem toàn thể sáu vạch, dưới hết một nét đứt đôi là chân vạc, giữa ba nét liền là thân vạc, ruột đặc là đồ trữ trong vạc. Lên nữa một nét đứt đôi là hai tai vạc, lại lên một nét liền ở trên là đòn khiêng vạc, ấy là tượng như cái vạc. Lại một lí do bằng thủ nghĩa, Tốn hạ là mộc, Li thượng là hỏa, mộc vào giữa hỏa là có nghĩa nhen đốt, tượng như người ta nấu ăn, đồ nấu ăn lớn nhất là vạc, lấy cả tượng cả nghĩa nên đặt tên quẻ bằng Đỉnh.
PHỤ CHÚ: Dịch là bộ sách đủ cà thiên đạo, nhân sự. Thiên đạo là thuộc về phần hình nhi thượng, nhân sự là thuộc về phần hình nhi hạ. Hình nhi thượng gọi bằng đạo, đã đủ hết trong tám quẻ. Hình nhi hạ gọi bằng khí, khí là đồ dùng, đồ dùng cần thứ nhât lại là đồ đùng để mà ăn uống. Vậy nên trung gian lọt vào hai quẻ Tỉnh với Đỉnh.
Tỉnh là đồ cung cấp cho người ta về việc uống. Đỉnh là đồ cung cấp cho người ta về việc ăn. Vì thế mà hai quẻ cặp liền với nhau, thánh nhân muốn cho người ta biết trong lưỡng gian, có đạo mới sinh ra khí, có khí mới chở được đạo. Tỉnh, Đỉnh chẳng qua mượn hai giống khí để hình dung đạo lí thuộc về nhân sự, nhưng mà nhân sự tất phải thường thay đổi, nên trung gian quẻ Tỉnh, quẻ Đỉnh chét vào quẻ Cách. Đó là ý tứ sắp đặt rất có công phu.
SOÁN TỪ
Đỉnh, nguyên cát, hanh.
鼎, 元吉亨.
Đỉnh chỉ theo về tượng quẻ với nghĩa, quẻ mà đặt tên bằng Đỉnh, Quái từ lại chỉ theo bằng tài quẻ mà nói.
Có tài biến cách được vật, đổi cái sống mà làm cái chín, hóa cái cương làm cái nhu. Thủy, hỏa hai giống khác nhau mà chung nhau làm công dụng tiện lị cho nhân sinh, in như cái Đỉnh nấu được đồ ăn; tài người ta nuôi được người nuôi được mình, in như công dụng Đỉnh, tất nhiên nguyên hanh.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Đỉnh tượng dã. Dĩ mộc tốn hỏa, phanh nhậm dã, thánh nhân phanh dĩ hưởng thượng đế, nhi đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền. Tốn nhi nhĩ mục thông minh, nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương, thị dĩ nguyên hanh.
彖曰: 鼎象也, 以木巽火, 亨飪也, 聖人亨以亨上帝, 而大亨以養聖賢. 巽而耳目聰明, 柔進而 上行,
得中而應乎剛, 是以元亨.
Soán viết: Đỉnh tượng dã.
Tên quẻ đặt bằng Đỉnh là thủ tượng bằng cái vạc. Nguyên chữ Đỉnh có hai nghĩa: Một nghĩa thuộc về danh từ, Đỉnh là vạc mà những khí dụng gì to lớn cũng gọi bằng Đỉnh. Sách xưa có câu đỉnh khí, đỉnh đồ, thuộc về nghĩa ấy.
Lại một nghĩa thuộc về động từ với hình dung từ, Đỉnh là vuông. Đỉnh là chính, như nói rằng: đỉnh thịnh, đỉnh yên, đỉnh lực, thuộc về nghĩa ấy. Ở quẻ Đỉnh đây kiêm cả mấy nghĩa mà nghĩa trọng nhất là thủ tượng bằng cái Đỉnh nên nói rằng: Đỉnh tượng dã.
Dĩ mộc tốn hỏa, phanh nhậm dã, thánh nhân phanh dĩ hưởng thượng đế, nhi đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền.
Theo như hai thể quẻ, Tốn là mộc, Li là hỏa, Tốn lại có nghĩa là vào, lấy mộc đưa vào lửa, lửa đốt mộc mà nấu chín được đồ ăn là công việc thuộc về nâu nướng đó vậy.
Phanh nhậm nghĩa là nấu nướng, nhất thiết công việc thuộc về nấu nướng thảy gọi bằng phanh nhậm. Người ta thường vẫn xem việc nấu nướng là nhỏ nhen, nhưng theo Dịch lí thời phanh nhậm lại cũng là việc lớn. Nên Soán Truyện mới cử ra hai việc rất lớn: Một là hưởng tế thần thượng đế; một là phụng dưỡng bậc thánh hiền.
Thuở xưa, các bậc thánh hiền sở dĩ trọng việc phanh nhậm, há phải vì nuôi khẩu phúc mà thôi rư? Vì lẽ bán bản phản thỉ mà có lẽ tế thần thượng đế thời dùng đến phanh nhậm, nên nói rằng: Phanh dĩ hưởng thượng đế. Vì muốn tỏ rõ được ý tôn đức há hiển nên đặt ra lễ lộc dưỡng thánh hiền thời càng cần đến phanh nhậm, nên nói rằng: Đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền. Đó là kể công dụng của Đỉnh mà kể cho đến rất to lớn thời như hai việc ấy.
Nhưng hưởng thượng đế thời chỉ một chữ phanh, dưỡng thánh hiền thời nói đại phanh, rất có ý nghĩa. Bởi vì hưởng thượng đế thời cổt ở chữ thành mà đồ phanh nhậm vừa chút đỉnh là xong nên chỉ nói một chữ phanh là tỏ ý không cần gì đồ nhiều. Đến như dưỡng thánh hiền thời tuy cốt tinh thành, nhưng mà cũng cần kiêm cả vật chất, thánh hiền không lẽ không ăn mà làm được việc, phụng dưỡng cho phong hậu, mới tỏ rõ được tinh thành. Vậy nên nói rằng: Đại phanh (Đại phanh nghĩa là những đồ cung dưõng thật phong hậu).
Hai việc như trên đây là việc thánh vương của đời xưa nên trùm lấy hai chữ thánh nhân.
Tốn, nhi nhĩ mục thông minh, nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương, thị dĩ nguyên hanh.
Đây chỉ lấy tài quẻ mà thích hai chữ nguyên hanh. Theo như thể quẻ: Lí có tượng là mục, hào giữa quẻ Li ở Ngoại Quái có tượng là nhĩ, Tốn, Li hợp mà nên quẻ, thế là có đức tốn thuận mà lại có tài bằng nhĩ mục thông minh.
Li là quẻ âm, bây giờ ở Thượng Quái, Lục Ngũ lại ở được ngôi tôn ứng với Cửu Nhị là dương cương, thế là, nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương.
Người ta nếu có tài thông minh, có chất nhu tốn, có đức đắc trung mà lại có bậc dương cương ứng viện cho mình, cương, nhu tịnh dụng ra làm việc đời thời có việc gì mà chẳng đại thông đâu. Vì vậy nên được nguyên hanh.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Mộc thượng hữu hỏa, Đỉnh. Quân tử dĩ chính vị ngưng mệnh.
象曰: 木上有火, 鼎, 君子以正位凝命.
Ở trên Tốn mộc có Ly hỏa, tượng là củi nhen lửa ở dưới Đỉnh mà những đồ phanh nhậm trong Đỉnh mới thành công. Đó là tượng quẻ Đỉnh.
Quân tử xem tượng ấy, thấy được Đỉnh có tượng nghiêm trọng đoan chính thời công dụng nó mới nên. Quân tử mới lấy thân mình làm Đỉnh cho trong đời, nghiêm trọng đoan trang chính ở vị mình. Kẻ trên nhắm xuống, kẻ dưới trông lên thời mệnh lệnh phát hành mới được thống nhất tề chỉnh, đó là chính vị ngưng mệnh mà làm công dụng Đỉnh của quân tử. Vị nghĩa là ngôi tồn. Chính vị nghĩa như câu: Cung kỷ chính nam diện 恭己正南面 trong Luận Ngữ, nghĩa là: Cung kính uy nghi ở giữa mình mà chính ngôi Nam diện (Ngôi vua đời xưa ngồi tất trở mặt về hướng Nam nên nói rằng Nam diện).
Ngưng nghĩa là nhóm tụ ở một chốn mà không tán loạn. Vị có nghiêm chính thời mệnh lệnh mới được ngưng tụ. Nếu vị không chính thời mệnh không ngưng. Ví như: Đỉnh không nghiêm trọng thời công phanh nhậm không thành.
Ở sau lúc biến cách rồi càng nên như Tượng Truyện đây. Vậy nên ở quẻ Cách có chữ “cải mệnh”. Cách rồi sang Đỉnh, lại cần có chữ “ngưng mệnh”; đó cũng là nghĩa tùy thì ở Dịch vậy.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. Sơ Lục: Đỉnh điên chỉ, lị xuất bĩ, đắc thiếp dĩ kì tử, vô cựu.
初六: 鼎顛趾, 利出否, 得妾以其子, 無咎.
Sơ Lục ở dưới hết quẻ Đỉnh, tượng như chân vạc, bây giờ lại thượng ứng với Cửu Tứ, té ra vạc chổng chân lên trời, đáng lẽ là không gì tốt, nhưng may thay! Sơ mới bắt đầu vào thì Đỉnh, tượng như Đỉnh mới đem ra mà chưa bắc lên bếp, tất phải úp Đỉnh xuống mà thổ những đồ dơ bụi ra, nên nói rằng: Đỉnh, điên chỉ, lị xuất bĩ (Điên chỉ nghĩa là dốc ngược chân lên; bĩ nghĩa là đồ dơ bụi).
Đỉnh mà dốc ngược chân vẫn trái lẽ thường, nhưng vì dốc ngược chân mà đổ đồ dơ bụi ra hết, cũng tượng như Sơ Lục vẫn không tài đức gì mà tình cờ được Tứ giúp cho, may cứu được những việc thất bại, bù được những chốn khuyết điểm, cũng là đáng may cho Sơ, lại cũng in như người có vợ rồi, tình cờ lại gặp được một thiếp, nó vẫn ty tiện chẳng quý gì, nhưng vì được nó mà lị dụng bằng công sinh con. Việc thiên hạ thường nhân lúc bại mà nảy ra công, nhân người tiện mà sinh ra quý, chính là tượng Sơ Lục này.
PHỤ CHÚ: Hào từ này chỉ là nghĩa tùy thì trong Dịch thời quẻ này là thì Đỉnh, Đỉnh sở dĩ quý hóa là cốt những đồ phanh nhậm trong lòng Đỉnh. Sơ là chân Đỉnh, chỉ có công dụng đỡ Đỉnh. Bây giờ đã điên chỉ, còn gì làm công, may vì thì còn ở Sơ, nhân điên chỉ mà xuất được bĩ, cũng in như đắc thiếp dĩ lị kì tử, chẳng qua thì may nhịp đỏ mà Sơ cũng được vô cựu, cũng in như vạc chưa bắc lên bếp mà diên chỉ, té ra thành việc hay. Đó là tình thế ngẫu nhiên.
Chúng ta làm việc không thể nhận Hào từ này làm thường lệ, mới là biết được Dịch.
Tượng viết: Đỉnh điên chỉ, vị bội dã, lị xuất bĩ, dĩ tòng quý dã.
象 曰 : 鼎 顛 趾 , 未 悖 也 , 利出否 , 以從貴也 .
Đỉnh tuy điên chỉ, nhưng có lúc nhân đó mà đổ được bụi, chưa lấy gì làm trái lí vậy.
Bởi vì, lẽ thường trong thiên hạ, tất bỏ được cũ mới nạp được mới, tất đổ được cái xấu, mới đưa được cái tốt vào. Sơ Lục được lị xuất bĩ, nhân thế mà đắc thiếp dĩ kì tử, cũng thuận theo với nghĩa quý vậy (Chữ quý phản đổi với chữ bĩ; xấu cũ tất là bĩ, mới đẹp tức là quý).
2. Cửu Nhị: Đỉnh hữu thực, ngã cừu hữu tật, bất ngã năng tức, cát.
九二: 鼎有實, 我仇有疾, 不我能即, 吉.
Cửu Nhị có đức dương cương, ở vị trung, tượng như trong lòng vạc đã chứa đầy đồ ăn. Đỉnh đã hữu thực, tất có lúc cung cấp cho người dùng. Nhị có tài dương cương, tất có ngày ra làm việc lớn, nhưng vì ở gần Sơ Lục là một người nhu ác, thấy Cửu Nhị thượng ứng với Ngũ mà sinh lòng ghen tuông, muốn dèm pha hãm hại Nhị. Thế thời Sơ chính là người cừu Cửu Nhị, nhưng mà chẳng hề gì, bản thân Nhị vẫn là quân tử, chính ứng với Ngũ lại là nghĩa vụ đang nhiên, dầu Sơ có thù ghét mặc lòng, nhưng Nhị vẫn một mực giữ được đạo chính, đối đãi với Sơ bằng một cách bất ác nhi nghiêm, tất nhiên Sơ không dám tới gần, chẳng làm gì thả được ngón hãm hại. Như thế là ngã cừu hữu tật, bất ngã năng tức (Ngã cừu nghĩa là thù oán với ta, chỉ vào hào Sơ. Tật nghĩa là ghen ghét. Tức nghĩa là tới gần).
Người thù của ta, tuy có ghen ghét nhưng không tới được gần ta. Thế thời ta được tốt lành. Hào từ nói như thế là răn cho Nhị phải đề phòng Sơ đó vậy.
Tượng viết: Đỉnh hữu thực, thận sở chi dã; ngã cừu hữu tật, chung vô vưu dã.
象曰: 鼎有實, 慎所之也, 我仇有疾, 終無尤也.
Đỉnh đã hữu thực, chính là một hạng người có tài khí, chẳng lo trong đời không dụng đến mình, chỉ nên cẩn thận ở đường đi nước bước cho khỏi đến nỗi lầm đường (Chi nghĩa là đi).
Sở dĩ đã biết cẩn thận thời dầu ngã cừu hữu tật mà kết quả không tội lỗi vậy (Vưu nghĩa là tội lỗi).
3. Cửu Tam: Đỉnh nhĩ cách, kì hành tắc, trĩ cao, bất thực, phương vũ, khuy hối, chung cát.
九三: 鼎耳革, 其行塞, 雉膏不食, 方雨, 虧悔終, 吉.
Cửu Tam dương cư dương vị, ở về địa vị lòng vạc, chính là một hạng người có chất tốt sẵn, nhưng vì ở trên là Ngũ không phải chính ứng với mình, Thượng tuy là chính ứng với Tam nhưng lại bị gián cách vì Tứ, Ngũ, tượng như tai vạc đương lúc biến cách mà vạc chưa cất lên được, thành ra đường lối đi còn bị chẹt lấp chưa được thông (Nhĩ nghĩa là quai vạc, quai vạc còn đương thay đổi thời vạc chưa có thể khiêng lên được).
Tỉ như: Người có tài mà chưa gặp thì đắc dụng, tuy có đạo đức văn minh, ví như một vị đồ ăn rất ngon là mỡ chim trĩ mà chưa được đem ra cho người ăn. Cao nghĩa là dầu mỡ, có đức văn minh như trĩ cao mà đụng lúc người ta bất thực, không thể nào trong lòng không ăn năn.
Tuy nhiên, người đã hữu tài, há lẽ vô dụng; huống gì Lục Ngũ là bậc người thông minh, thấy Tam có tài dương cương, cương, nhu tương đắc, e chẳng rày thời mai Tam, Ngũ tất ngộ hợp nhau, tượng như âm, dương giao hòa mà sắp sửa mưa, không còn những việc ăn năn, như lúc khi xưa nữa (Phương vũ nghĩa là đương toan mưa).
Ngũ đã cần đến Tam, thời Tam dụng được tài mình mà làm việc đời, kết quả chắc cũng được tốt lành.
PHỤ CHÚ: Hào từ Cửu Tam cũng tương tự như hào Tam quẻ Tỉnh. Cửu Tam quẻ Tỉnh thời nói rằng tỉnh điệp bất thực, hào Tam quẻ Đỉnh thời nói rằng trĩ cao bất thực.
Nước giếng tuy trong, mỡ trì tuy béo nhưng đương lúc người ta chưa biết dùng mà ăn, chính tượng như sĩ quân tử ôm tài mà chưa gặp thì, chẳng phải là một việc đáng đau hay sao?
Ông Hàn Vương Tốn, tức Hàn Tín, khi vị ngộ, có câu hát rằng: Buổi mặt trăng chưa mọc, bầy sao bé nhố nhăng, lúc vận tốt chưa tới, tay hào kiệt dở dang, chính như tượng hai hào ấy. Tới khi gặp Tiêu Hà tiến lên Hán Cao Tổ mới hiện ra một người quốc sĩ vô song mà làm nên nghiệp tru Tần diệt Hạng, chính là gặp vương minh tịnh thụ kì phúc cát đó vậy. Quân tử gặp thì đen rủi, dầu có lẻ loi trong đời, cũng nên tố vị nhi hành là tốt.
Tượng viết: Đỉnh nhĩ cách, thất kì nghĩa dã.
象曰: 鼎耳革, 失其義也.
Hào Cửu Tam có tài dương cương, vẫn đáng được Cửu Ngũ tín dụng, nhưng vì thì vận chưa thông, tượng như Đỉnh nhĩ đương lúc biến cách thời chiếu theo với nghĩa Đỉnh còn trái mất đó vậy. Tới lúc âm dương hòa mà sắp sửa mưa thời trên minh dưới tài, đôi bên hòa hợp, mới là xứng với nghĩa Đỉnh.
4. Cửu Tứ: Đỉnh chiết túc, phúc công tốc, kì hình ốc, hung.
九四: 鼎折足, 覆公錬, 其形屋, 凶.
Cửu Tứ ở quẻ trên, lại thân cận với Lục Ngũ là vị chí tôn, có trách nhiệm bằng gánh việc thiên hạ, tất phải cần những hạng người tài trí trong thiên hạ giùm sức với mình, mới có thể cất nổi gánh nặng, tượng như vạc có chân mới đỡ nổi các thức đồ ăn trong vạc. Bây giờ Cửu Tứ lại trái hẳn, không lượng tài lực mình mà dám đỡ lấy gánh nặng, lại không hay cần hiền trí gánh giúp cho mà chỉ hạ ứng với Sơ là âm nhu tiểu nhân. Tứ đã hư hèn mà Sơ lại nhu ám. Thế nào chẳng gãy đòn đứt gióng mà hỏng gánh rư? Chẳng khác gì vạc gãy chân mà đổ đồ ăn của nhà công rư? đến nỗi phải chịu hình phạt rất nặn. (Thúc nghĩa là đồ ăn nấu trong vạc; ốc là một thứ hình phạt nặng. Sách Chu Lễ có chữ ốc tru). Hào này Hệ tử thích kĩ, xin tiện dịch ra đây:
Hệ từ nói rằng: Ở vị nào tất xứng với đức, nếu đức mỏng mà vị lại tôn, tất nhiên vị phải trúc; hễ mưu một việc gì, tất phải lựa theo với trí, nếu trí quá nhỏ mà mưu quá lớn, tất nhiên mưu phải hỏng; gánh gì tất phải lựa theo sức, nếu sức hèn mà gánh quá nặng, tất nhiên gánh phải đổ, như những hạng người ấy chẳng những làm tai hại cho nước mà lại rước tai họa vào bản thân, chẳng bao giờ tránh khỏi sự xấu ấy.
Hào từ quẻ Cửu Tứ quẻ Đỉnh là trách những hạng người không đủ sức gánh nặng mà dám gánh gượng.
Dịch viết: Đỉnh chiết túc, phúc công (thúc) kì hình ốc, hung, ngôn bất thăng kì nhậm dã. Nhậm nghĩa là gánh nặng. Bất thăng nghĩa là không đủ sức cất nổi gánh.
Tượng viết: Phúc công tốc, tín như hà dã.
象曰: 覆公觫, 信如何也.
Cửu Tữ ở ngôi tôn, gánh việc nặng mà đến nỗi gãy chân vạc, đổ đồ công, thiệt quá lạ cho Tứ kia. Tứ tự tín ra sao mà dám làm như thế (Chữ Tín đây cũng như nghĩa chữ tự tín; hễ cái gì mình tự chắc trong mình gọi bằng tín).
5. Lục Ngũ: Đỉnh hoàng nhĩ, kim huyện, lị trinh.
六五: 鼎黄耳, 金鉉, 利貞.
Lục Ngũ ở chính giữa Thượng Quái là đúng vào chốn quai vạc mà lại có đức trung, tượng như quai vạc sắc vàng mà đòn khiêng vạc lại làm bằng sắt.
Vì Ngũ có đức trung lại ở vào vị trên cao nên thí dụ bằng hoàng nhĩ; mà lại ở vào vị dương cương, trên tiếp với Thượng Cửu cũng dương cương nên nói rằng kim huyện, có trung đức đại tài như thế, không còn nghi gì nữa, duy chỉ trông cho Ngũ giữ được kiên cố trinh chính mà thôi.
Tượng viết: Đỉnh hoàng nhĩ, trung dĩ vi thực dã.
象曰: 鼎黄耳, 中以為實也.
Lục Ngũ bản chất thông minh mà lại tín nhiệm người cương minh, lấy đức trung làm đồ chất chứa trong lòng Đỉnh, nên Hào từ nói rằng đỉnh hoàng nhĩ. Chữ thực ở đây với chữ đỉnh hữu thực ở Cửu Nhị nghĩa có khác nhau chút đỉnh. Chữ thực ở hào Nhị chỉ là đầy đồ trong lòng vạc, chữ thực đây là đầy tài đức trong lòng.
6. Thượng Cửu: Đỉnh ngọc huyện, đại cát, vô bất lị.
上九: 鼎玉鉉, 大吉, 無不利.
Công dụng của Đỉnh quan hệ ở hào Thượng. Bởi vì hào Thượng ở trên hết quẻ Đỉnh, lại địa vị đúng miệng Đỉnh, tính chất dương cương mà lại xử vị âm nhu, Cương chẳng quá cương, nhu chăng quá nhu. Ở vào cuối cùng thì Đỉnh là Đỉnh đã đến lúc thành công, tượng như dụng bằng đòn ngọc sẽ đổ cất vạc nên Hào từ thí dụ bằng đỉnh ngọc huyện. Ngọc là một giống dương cương mà hòa thuận. Thượng Cửu cương, nhu thích nghi, cũng in như ngọc huyện, được như thế, chắc là tốt lành lớn mà không việc gì là chẳng lị.
Tượng viết: Ngọc huyện tại thượng, cương, nhu tiết dã.
象曰: 玉鉉在上, 剛柔節也.
Thượng Cửu là một nét dương ở trên hết quẻ, tượng như cái đòn xâu vào quai vạc, vả lại tính chất hào Thượng, vừa cương vừa nhu, vừa đúng chừng mực nên thủ tượng bằng ngọc huyện mà được đại cát vô bất lị.
Nhận xét
Đăng nhận xét